KẺ SĨ MỚI CỦA
MIỀN NAM
Nguyễn Thanh Liêm
Ở đâu có con người là ở đó có xă
hội, có văn hóa. H́nh ảnh của một con
người đơn độc ở trên thế gian
chỉ là h́nh ảnh tưởng tượng, không có trong
sự thật. Sự thật hiển nhiên là khi ta sinh ra
đời ta đă ở trong một xă hội, trong một
nền văn hóa rồi. Bởi v́ văn hóa không ǵ khác
hơn là lối sống, bao gồm tất cả những
sinh hoạt từ sinh hoạt trí thức đến cữ
chỉ hành vi thường ngày, của một số
người trong một cộng đồng, một xă
hội, từ xă hội bán khai thuở xưa đến xă
hội văn minh tiền tiến ngày nay.
Sinh hoạt văn hóa cao nhất là sinh hoạt trí
thức. Xă hội nào cũng có một số ít
người thấy xa hiểu rộng, có nhiều kiến
thức hơn những kẻ khác. Số ít người
đó được người đời xếp vào
trong hàng ngũ của giới trí thức. Ở Việt Nam
xưa giới trí thức đó là giới sĩ phu,
giới được nhà nho Nguyễn Công Trứ giới
thiệu khá đầy đủ trong bài hát nói bất
hủ của ông, bài Kẻ Sĩ:
“Tước hữu ngũ
sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên,
Có giang sơn th́ sĩ đă có tên,
Từ Chu Hán vốn sĩ này là quí.
Miền hương đảng đă khen rằng
hiếu nghị,
Đạo lập thân phải giữ lấy
cương thường,
Khí hạo nhiên chí đại chí cương,
So chính khí đă đầy trong trời đất...”
Ư nghĩa của mấy câu hát nói này là: Trong xă hội
xưa của nho gia, Kẻ sĩ chiếm địa
vị vô cùng quan trọng. Nơi triều nội sĩ là
một trong năm tước (thượng đại phu,
hạ đại phu, thượng sĩ, trung sĩ, và
hạ sĩ), ngoài xă hội sĩ đứng đầu
trong tứ dân (sĩ, nông, công, thương). Giới sĩ
là giới lănh đạo. Người thuộc giới này
là người có học thức, hiểu rộng, biết
nhiều, và đặc biệt nhất là người
rất mực đạo đức, có tâm hồn cao
cả, có tinh thần sáng sủa, có tính khí cương
cường. Thành ra đặc tính chung của giới trí
thức có thể thu gọn trong batừ ngữ: kiến
thức, đạo đức, và bất khuất.
Xă hội nhà nho ở Trung Hoa cũng như ở Việt
Nam kéo dài trên ngàn năm, cho đến cuối thế
kỷ thứ XIX mới bắt đầu lung lay sụp
đổ. Trước làn sóng văn minh khoa học kỹ
thuật Âu Tây tràn sang như vũ bảo, nền văn
minh Trung Hoa và Việt Nam, cùng với văn minh Ấn
Độ, sau hơn ngàn năm ngự trị giờ
đành ngả đổ suy vi. Những người trí
thức Kẻ Sĩ cuối cùng của Việt Nam, cũng
như ông Tú Vị Xuyên, đành phải ngậm ngùi nh́n
cảnh chợ chiều ế ẩm của nền học
thuật nho giáo:
“Cái học nhà nho đă
hỏng rồi,
Mười người đi học chín người
thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương thấp thỏm ngồi.”
Muốn sống c̣n theo đà tiến hóa của nhân
loại, người ta phải thay đổi, phải
học hỏi cái mới, nhất là giới trí thức,
giới lănh đạo. Người Nhật đă thay
đổi, đă học được cái mới, đă
làm cho xă hội họ văn minh từ cuối thế
kỷ XIX, không thua ǵ các nước Âu Mỹ. Họ đă
trở thành một cường quốc về phương
diện khoa học kỹ thuật, họ đă chiến
thắng được Nga Sô từ đầu thế
kỷ XX. Giới trí thức Việt Nam bắt đầu
thức tĩnh, bắt đầu nhận thấy rằng
kiến thức nho giáo không đương đầu
được với văn minh tân tiến Tây
phương, người ta bắt đầu học
hỏi khoa học kỹ thuật để canh tân xứ
sở theo gương Nhật Bản. Phong trào Đông Du,
phong trào Duy Tân phát động mạnh mẽ.
Nhưng trước đó, Petrus Trương Vĩnh Kư
đă là người đầu tiên đóng vai người
trí thức mới của Việt Nam rồi. Ông đóng
trọn vai tṛ đó ở Nam Kỳ vào hạ bán thế
kỷ XIX. Ông là một kẻ sĩ mới. Tuy ra
đời cùng thời đại với các nhà nho cuối
cùng của xă hội nho giáo (như Nguyễn Khuyến, Chu
Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, vv...) nhưng Petrus
Kư đă trải qua một quá tŕnh học vấn khác
hẳn các nhà nho kia. Thay v́ dồi mài Tứ Thư, Ngũ
Kinh và Bắc Sử để trở thành ông cử ông nghè
th́ Petrus Kư lại được học khoa học tân
tiến của Âu Tây. Thay v́ được xă hội hóa vào
xă hội xưa cũ của nhà nho và khép kín trong ṿng bế
môn tỏa cảng của triều đ́nh Huế th́ Petrus
Kư lại được kinh nghiệm từng trải
ở nước ngoài, có dịp đụng chạm,
tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác, mở
rộng tầm hiểu biết của con người. Ông
biết nhiều thứ tiếng, thông thạo Pháp, Ư, Y Pha
Nho, La Tinh, tiếng Tàu, tiếng Nhật., tiếng Miên,
tiếng Lào, tiếng Thái. Ông là một nhà ngữ học và
là nhà bác học của Việt Nam hồi thế kỷ XIX.
Ông được dịp tham quan nhiều nước,
nhất là các nước văn minh Âu Châu. Ông có cơ
hội gặp gỡ trao đổi với nhiều nhà
văn và khoa học gia Pháp như Victor Hugo, Renan, Littré, Paul
Bert. Nhưng với tầm nh́n xa rộng, với kiến
thức khoa học tân tiến đó, Petrus Kư không quên dân
tộc và văn hóa Việt Nam. Ông vẫn mang trong
người đạo đức Á Đông và tinh thần
dân tộc Việt. Với hành trang đặc biệt
đó ông đă tận tụy suốt đời xây
dựng một nền văn hóa mới cho Việt Nam.
Đó là nền văn hóa dung ḥa Đông Tây, tổng hợp
đạo đức Á Đông với khoa học kỹ
thuật của nền văn minh mới. Ông dạy
học, ông soạn sách, ông làm báo, ông mở đường
cho văn chương chữ Quốc Ngữ, cho báo chí, cho
câu văn xuôi, cho cách nghiên cứu, soạn thảo, viết
lách. Sự nghiệp văn hóa của ông thật là to tát,
công lao của ông đối với người dân Nam
kỳ hết sức lớn lao. Khi ông mất đi, các
đệ tử của ông, cùng những người
ham mộ ông, những người biết ơn ông, và
đa số người dân miền Nam, dựng
tượng ông ở nhiều nơi để ghi ơn nhà
văn hóa bác học đă đóng góp phần mở mang
rất nhiều cho xứ sở. Đặc biệt
nhất là tên ông đă được lựa chọn
để đặt cho một ngôi trường lớn
nhất, nổi tiếng nhất, đă đào tạo
nhiều trí thức mới cho miền Nam nhất, đó là
trường Petrus Trương Vĩnh Kư. Có hai câu
đối trước cổng trường nói lên con
đường văn hóa giáo dục mà Petrus Kư đă
chủ trương và đó là con đường tổng
hợp Đông Tây, dung ḥa khoa học và đạo
đức mà trường này nương theo để
đào tạo những nhà trí thức kẻ sĩ mới
(cho miền Nam nước Việt nói riêng và cho đất
nước nói chung):
“Khổng Mạnh
cương thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”
(Ư nghĩa của hai câu
đối này là: Một mặt hăy khắc ghi vào trong
xương tủy nền luân lư đạo đức Á
Đông và mặt khác hăy làm sáng sủa tâm hồn ḿnh bằng
nền văn minh khoa học tân tiến của Âu Tây).
Hồ Hữu Tường cùng một số trí thức
Nam Kỳ khác đă đi theo con đường Petrus Kư
đă đi. Ông là một trong những kẻ sĩ mới
(trí thức tân học) của miền Nam. Ông là một
học giả khá nổi tiếng trong những thập niên
trước khi miền Nam rơi vào tay Cọng Sản. Ông
có một bài nói chuyện về Petrus Trương Vĩnh Kư
tại trụ sở Trung Tâm Văn Bút Việt Nam hồi
tháng 7 năm 1974. Trong bài nói chuyện này, Hồ Hữu
Tường đề cao sự nghiệp văn hóa của
Petrus Kư cũng như tinh thần phục vụ văn hóa
dân tộc của nhà bác học này. Ông xem đó như
một tấm gương cho những người trí
thức trẻ ở miền Nam lúc bấy giờ. Chính ông
cũng đă đi con đường Petrus Kư đă đi.
Họ là những Kẻ Sĩ mới với những
kiến thức khoa học mới mẻ của văn minh
Tây phương nhưng mang tinh thần đạo
đức Á Đông của nho giáo. Xuất thân từ
miền Nam họ là hạng trí thức ít nhiều mang
bản chất miền Nam tiếp nối sự nghiệp
tinh thần của các sĩ phu Nam Kỳ như Nguyễn
Đ́nh Chiểu, Phan Thanh Giản. Họ mang trong
người đủ ba đặc tính đă nói ở trên
về người trí thức: kiến thức, đạo
đức, bất khuất.
Tổ chức ngày Hồ Hữu Tường hôm nay chúng
ta không thể không nhắc đến vai tṛ quan trọng
cũng như sự nghiệp văn hóa dân tộc
đặc biệt của giới Kẻ Sĩ Việt Nam
dù họ là các sĩ phu trong xă hội nho giáo xưa hay
họ là những Kẻ Sĩ Mới của nền tân
học. Riêng đối với mảnh đất mới
của miền Nam họ đă đứng bên nhau làm thành
một ḍng trí thức liên tục kể từ Nguyễn
Đ́nh Chiểu, Phan Thanh Giản cho đến bây giờ.
Kiến thức khoa học tân tiến, đạo đức
dân tộc, tinh thần bất khuất của Kẻ Sĩ
Á Đông, là ba đặc tính gắn liền với Kẻ
Sĩ Mới của miền Nam, mà Hồ Hữu
Tường là một người trong giới
đó.