LINH HỒN CỦA DÂN TỘC
HIỂU VỚI Ư NGHĨA
VĂN HÓA
Nguyễn Thanh Liêm
Văn hóa là linh hồn của một dân tộc,
nhiều người nghĩ vậy. Khi nói văn hóa
Việt Nam người ta cũng nghĩ như đó là linh
hồn của dân tộc Việt Nam. Linh hồn là phần
thiêng liêng cao cả của con người mà thường
chỉ những người có tín ngưỡng, có tâm
hồn hướng thượng hay những người
được cho là thuộc phái duy tâm mới nghĩ
đến. Nhà khoa học không nghĩ hay nói đến linh
hồn. Nhà văn hóa, với tinh thần khoa học, không
nói rằng văn hóa là linh hồn của một dân
tộc, nhưng cũng xem văn hóa là cái ǵ rất quan
trọng, rất đặc biệt, rất cơ bản
của xă hội loài người. Loài kiến, loài ong, loài
mối, cũng như các giống khỉ, các giống
giả nhân, v v . . . đều sống thành đoàn, thành xă
hội nhưng các giống sinh vật nói trên không có một
nền văn hóa như xă hội loài người. Chỉ
có xă hội loài người mới có văn hóa. Và chỉ
có con người mới có khả năng bẩm sinh đặc
biệt là học hỏi, giao lưu, biến đổi và
lưu truyền văn hóa. Cái khả năng bẩm sinh
đó đă góp phần làm nên tính linh thiêng của giống
người mà người xưa đă xem là “nhân linh ư
vạn vật”. Có thể nói con người và văn hóa xă
hội gắn liền nhau, không tách rời ra được.
Có con người là có xă hội có văn hóa hay
ngược lại ở đâu có xă hội văn hóa là
ở đó có con người. Nếu xă hội loài vật
không có văn hóa v́ không có con người th́ ngược
lại con người mà không có xă hội văn hóa th́
cũng không thể thành người được.
Hơn năm mươi năm trước một nhà
tâm lư xă hội học Pháp nói về ảnh hưởng
của xă hội /văn hoá đối với đời
sống tâm lư của con người, có kể một câu
chuyện của hai cô bé Ấn Độ được
người ta t́m thấy ở trong rừng vào lúc hai cô
chỉ độ vào khoảng 8-10 tuổi ǵ đó. Hai cô
không nói được tiếng người, cũng không
đi trên hai chân như người ta. Hai cô đi trên
bốn chân, có cử chỉ và ngôn ngữ y hệt như
loài thú. Các nhà khoa học cho rằng hai cô đă bị
bỏ rơi trong rừng từ lúc mới sanh và đă
được thú rừng nuôi dưỡng. Khi được
đem về với xă hội loài người, các cô
được người ta dạy cho cách sống
của loài người. Người ta phải mất
rất nhiều th́ giờ để dạy dỗ cho các cô
nhưng kết quả chưa tới đâu th́ hai cô đă
chết. Xă hội loài người là cái ǵ rất xa lạ
mà các cô không thích nghi được, mặc dù các cô có mang
trong người cái mầm sinh vật của giống
người. Sự kiện trên đây cho thấy dù khi sanh
ra là người, là có khả năng bẩm sinh học
hỏi về văn hóa, nhưng không có môi trường
văn hóa xă hội để khả năng đó phát
triển th́ cũng không đem lại kết quả văn
hóa được. Con người không có xă hội văn
hóa không thành người được là vậy.
Sự kiện trên đây cũng cho thấy một khía
cạnh quan trọng khác của văn hóa xă hội. Sự
kiện đó là khi con người lớn lên trong xă
hội/văn hóa nào th́ con người sẽ được
giáo dục uốn nắn để trở thành một
phần tử của xă hội/văn hóa đó.
Trường hợp của hai cô bé Ấn Độ
vừa nói ở trên là trường hợp hi hữu mà bây
giờ ta không kiểm chứng được, nhưng
trường hợp ta có thể thấy thường
hơn là việc những đứa trẻ được
cha mẹ nuôi đem về nuôi dưỡng ở một xă
hội/văn hóa khác hơn là nơi chôn nhau cắt rốn
của chúng, như những trẻ Việt Nam, Trung Hoa,
Đại Hàn được cha mẹ nuôi là người
Mỹ đem về nuôi trên nước Mỹ từ lúc
mới sơ sinh chẳng hạn. Những trẻ em này
lớn lên có đời sống hoàn toàn Mỹ chớ không
có dấu vết ǵ của xă hội/văn hóa gốc
(ngoại trừ màu da và những nét đặc thù của
cấu trúc thể xác của chủng tộc gốc). Nói
chung khi được nuôi nấng, lớn lên trong xă
hội/văn hóa nào, người ta sẽ trở thành con
người trong xă hội/văn hóa đó, bất kể
nguồn gốc của người đó được
sanh ra ở đâu và bởi giống người ǵ.
Tiến tŕnh nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn,
cùng lúc với tiến tŕnh hấp thụ, tiêu hóa những
điều học hỏi để trở thành một
phần tử của xă hội/văn hóa được
các nhà văn hóa xă hội học gọi chung là tiến tŕnh
xă hội hóa (socialization). Đây là một tiến tŕnh vô
cùng quan trọng trong việc làm cho con người
được trở nên người trong một nền
văn hóa hay một xă hội nào đó. Đó là tiến
tŕnh giúp cho con người học hỏi và áp dụng các
sinh hoạt tâm sinh lư chung cho những người sống
cùng trong một cộng đồng, một xă hội,
một nền văn hóa với nhau. Nhờ có tiến tŕnh
xă hội hóa đó mà người ta có thể sinh hoạt
được dễ dàng, hữu hiệu trong đời
sống xă hội. Khi ta sanh ra và lớn lên trong xă
hội/văn hóa Việt Nam, ta sẽ được xă
hội hóa vào xă hội/văn hóa Việt Nam, và nhờ
tiến tŕnh xă hội hóa này mà chúng ta sinh hoạt
được dễ dàng hữu hiệu trong
xăhội/văn hóa quen thuộc của ḿnh.
Việc ǵ sẽ xăy ra khi người ta phải rời
bỏ quê hương ḿnh, rời bỏ đời sống
xă hội quen thuộc của ḿnh để đi
đến định cư, sinh sống trong một xă
hội khác với nền văn hóa khác? Nếu bỗng
nhiên chúng ta bị bức rời khỏi xă hội/văn
hóa Việt Nam và đem đặt một cách đột
ngột vào một xă hội/văn hóa khác, chúng ta sẽ
thấy vô cùng bở ngỡ, vụng về, kém hẳn
hiệu năng, không biết hành sự như thế nào cho
có kết quả dễ dàng như chúng ta đă làm trong không
khí quen thuộc của xă hội/văn hóa ḿnh. Chúng ta
phải mất rất nhiều th́ giờ để
học hỏi, làm quen dần với nếp sống trong xă
hội/văn hóa mới. Lâu dần chúng ta mới thích nghi
vào môi trường sinh sống mới đó. Các hiện
tượng đồng hóa (assimilation) , đồng hóa
văn hóa (cultural assimilation) hay thích nghi văn hóa
(acculturation) thường được các nhà xă hội
học nói đến trong trường hợp này. Đúng
ra đó chỉ là sự biến đổi trong tiến
tŕnh xă hội hóa của con người. Xă hội hóa là
một tiến tŕnh liên tục trong suốt đời
người. Tuy có thể có lúc nhanh (khi con người c̣n
nhỏ tuổi hay khi có đổi mới hay cách mạng xă
hội xảy ra), có lúc chậm (khi lớn tuổi hay khi xă
hội không thay đổi), nhưng bao giờ cũng
diễn ra liên tục. Trong trường hợp của
người di dân, định cư trong một xă
hội/văn hóa mới, tiến tŕnh xă hội hóa bị
xáo trộn và thay đổi lớn lao. Sự xáo trộn,
thay đổi nầy bao gồm hai sự việc: một
(1) là xóa dần (hay xóa phần nào đó) công tŕnh xă hội
hóa đă có từ trước vào trong xă hội/văn hóa
cũ và hai (2) là bắt đầu xă hội hóa vào trong xă hội/văn
hóa mới (hay gầy dựng văn hóa xă hội mới).
Các nhà văn hóa xă hội học gọi hai sự việc
nầy là desocialization và resocialization mà tôi tạm dịch là triệt
xă hội hóa và tái xă hội hóa hay cũng có khi là tái xây
dựng (reconstructing) văn hóa xă hội lại. Khi ta
được ra đời và lớn lên một thời
gian trên đất nước Việt Nam th́ ta đă
học được tiếng nói cũng như nhiều
h́nh thức sinh hoạt mang tính chất văn hóa Việt,
tức cũng như ta đă xây cho ta một ngôi nhà văn
hóa rất Việt Nam trên nền tảng của quê cha
đất tổ. Đó là quá tŕnh socialization vào xă
hội/văn hóa Việt Nam. Bây giờ nếu chúng ta
phải xa ĺa quê cha đất tổ, phải rời
bỏ xă hội/văn hóa cũ, rời bỏ nếp
sống củ để bắt đầu một lối
sống mới trong xă hội/văn hóa mới là xă
hội/văn hóaMỹ, chúng ta phải trải qua một
thời gian xáo trộn, thay đổi để có thể
thích nghi vào cuộc đời mới, chẳng khác nào
như thể ta mang ngôi nhà văn hóa đă có của ḿnh sang
xây dựng lại trên đất Mỹ. Muốn cho nó chen
được vào khu nhà văn hóa Mỹ, ta phải
đập phá phần nào ngôi nhà cũ của ḿnh để
sửa nó lại thành ngôi nhà mới, thích hợp với
khung cảnh văn hóa Mỹ hơn. Tiến tŕnh
đập phá ngôi nhà cũ là desocialization, và việc sửa
chữa cho thành nhà văn hóa mới là resocialization vậy.
Những trường hợp xă hội hóa, triệt xă
hội hóa và tái xă hội hóa cũng có thể t́m thấy
ở ngay trong một xă hội, một quốc gia với
các khu vực văn hóa (regional culture hay subculture) khác
biệt. Thí dụ như sự di cư của
người Bắc và người Trung vào miền Nam
nước Việt. Những người này cũng
trải qua những biến đổi tâm lư từ sự
triệt xă hội hóa vào khu văn hóa cũ để tái xă
hội hóa vào khu văn hóa mới như những
người di dân tỵ nạn từ quốc gia xă hội
này đến quốc gia xă hội khác.
Hăy nghĩ lại lúc Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng ĺa
bỏ quê cha đất tổ vào Thuận Hóa cốt thoát
khỏi bàn tay độc hại của Trịnh Kiểm,
với cái quyết tâm làphải dùng cảnh “Hoành Sơn
nhất đái vạn đại dung thân” để tạo
dựng một một quê hương mới, một xă
hội/văn hóa mới hầu có thể tồn tại
muôn đời ở chổ mới này. Từ danh xưng
“Đàng Trong” để đối lại với “Đàng
Ngoài” đến sự xác định nguồn gốc “Ô
Châu” của chúa Nguyễn Phúc Khoát, người ta có thể
thấy rơ chủ tâm của những người theo chúa
Nguyễn về phía Nam sông Gianh trong chủ trương xây
dựng một quốc gia khác, một xă hội khác,
một cách thế làm người Việt Nam khác hơn là
nhà Lê và chúa Trịnh ở Miền Bắc. Hăy nghĩ
lại xem đoàn người này đă bắt đầu
gầy dựng Đàng Trong của họ như thế nào
về phương diện văn hóa xă hội. Lẽ
dĩ nhiên là họ phải mang theo với họ phần
văn hóa xă hội mà họ đă được xă hội
hóa vào xă hội Miền Bắc lúc họ sinh ra và
trưởng thành ở đó. Nhưng khi vào vùng đất
mới, với cuộc sống mới ở đây họ
có (hay muốn) giữ được trọn vẹn
những ǵ họ đă thu nhận được từ
trước không? Chắc chắn là không. Phần triệt
xă hội hóa nhất định phải diễn ra, và khi
quyết tâm được độc lập đối
với Miền Bắc càng mạnh chừng nào th́ tiến
tŕnh triệt xă hội hóa càng diễn ra nhanh và mạnh chừng
nấy. Cái nền nhà Việt Nam vẫn c̣n đó nhưng
một phần không nhỏ khác của ngôi nhà sẽ bị
phá bỏ để thay thế bằng những chất
liệu t́m thấy ở địa phương mới
để ngôi nhà có thể tồn tại vững vàng trong
khung cảnh và khuông khổ mới. Địa lư cũng
như văn hóa xă hội Chăm có sẵn ở vùng này có
thể cung ứng một phần chất liệu mới
để đắp vào những khoảng trống có
thể có trong quá tŕnh triệt tiêu xă hội văn hóa
cũ. Kết quả là khu vực văn hóa xă hội
“Đàng Trong” thành h́nh như một khu vực văn hóa
Việt Nam mới, đối lập với “Đàng Ngoài”,
ở vùng Thuận Quảng vào cuối thế kỷ XVI sang
đầu thế kỷ XVII.
Từ giữa thế kỷ XVII sang htế kỷ XVIII
số người đến khai khẩn đất hoang
gầy dựng cưộc sống và xă hội mới
ở vùng Đồng Nai Cửu Long phần lớn là
người lưu dân Việt từ vùng Thuận Quảng,
và một số lưu dân người Hoa từ miền Nam
nước Tàu, không chịu hàng phục Nhà Thanh.
Người Hoa ở miền Nam nước Tàu có thể
không phải là người Hán ở miền Bắc. Họ
có thể là những người rất gần với
người Việt xưa ở miền Nam sông
Dương Tử. Những lưu dân Việt, Hoa, khi
đến vùng đất mới này lại cũng sẽ
lập lại diễn tŕnh bôi xóa phần nào cái cũ đă
học hỏi, đón nhận cái mới lạ, để
gầy dựng xă hội văn hóa thích hợp với
đời sống và môi trường Đồng Nai
Cửu Long hơn. Ở đây không phải chỉ có
sự pha trộn Việt Hoa mà c̣n có cả yếu tố
Khmer và Chăm trong đó. Nền nhà Việt có thể
vẫn c̣n nhưng phần trên của ngôi nhà th́ đă thay
đổi rất nhiều bởi những yếu tố
mới đến từ nhiều nền văn hóa khác, mà
phần lớn là Đông Nam Á. Nền Việt bây giờ
cũng không hẵn là nền Việt từ miền Bắc
trước khi vào Đàng Trong mà nền Việt bây giờ
là nền Việt của vùng Thuận Quảng, nền
Việt của Đàng Trong hơn là nền Việt của
Đàng Ngoài. Cho nên văn hóa khu vực Đồng Nai
Cửu Long mang nhiều tính Đông Nam Á (Southeast Asia) hơn
là tính Á Đông (East Asia) trong khi đó khu vực văn hóa
Thăng Long (Bắc Việt) mang nhiều tính Á Đông
hơn (gần với Trung Hoa mà là người Hán ở
miền Bắc).
Phần cao nhất của ngôi nhà văn hóa Đồng
Nai Cửu Long, phần chóp bưu của nó, là tín
ngưởng tôn giáo trong đó tiềm ẩn phần tư
tưởng, đă thể hiện rơ tính khai phóng, rộng
mở, cũng như tính Đông Nam Á trong đó. Tín
ngưỡng dân gian từ việc thờ cúng thành hoàng
bổn cảnh trong các đ́nh miếu trong làng đến
việc sùng bái các vị phúc thần, các anh hùng liệt
sĩ, đến sự thờ cúng Bà Chúa Xứ, Bà Đen,
Bà Thiên Hậu, Bà Mă Châu, đến các tôn giáo Cao Đài,
Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,
Phật Giáo Ḥa Hảo, đều cho thấy khuynh hướng
mỡ rộng, giao lưu, tổng hợp nhiều dấu
vết văn hóa khác nhau. Chỉ riêng ở nơi đ́nh
làng, việc thờ các vị thần linh cũng cho
thấy tính đa dạng, rộng mở của văn hóa
dân gian vùng Đồng Nai Cửu Long. Trong quyển “Đ́nh
Nam Bộ Xưa Và Nay” (nhà xuất bản Đồng Nai, 1999),
tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Trương Ngọc
Tường viết: “Đ́nh Nam Bộ, kể cả
tập hợp đàn, miễu trong khuôn viên của nó, có khi
thờ đến ba mươi, bốn mươi vị
thần-ngoài đối tượng thờ chính là thần
Thành Hoàng. Tính chất “phối tự” này cùng thể hiện
trong danh mục các thần linh được cung thỉnh
“đồng lai cọng hưởng” trong vấn đề
cúng đ́nh vào dịp lễ tế Kỳ Yên. Một cách
tổng quát, tập hợp các đối tượng
thờ tự này hội nhập vào đ́nh do nhiều
tác nhân lịch sử văn hóa khác nhau: các thần linh
gốc từ Trung-Bắc do các lưu dân Thuận Quảng
mang vào đây thời khai hoang, các thần linh gốc Chàm
đă hội nhập vào hệ thống thần linh
Việt ở Trung Bộ, các thần linh của
người Hoa, người Khmer được tích
hợp vào đ́nh qua quá tŕnh giao lưu ở vùng đất
mới và chiếm một phần nữa là các thần linh
gốc ở miền Bắc, các anh hùng dân tộc, các danh
nhân lịch sử, các nhân vật lịch sử địa
phương được dân chúng tôn làm thần trong
thời cận đại . . . Nói chung, sự h́nh thành
một cơ cấu thần linh như hiện nay là
một quá tŕnh thay đổi liên tục gần với
số phận thăng trầm của lịch sử trên
dưới 300 năm qua.” ( tr. 53).
Nho giáo cũng vậy. “Khi Đàng Trong h́nh thành th́ Nho giáo
cũng theo bước chân phiêu bạt hướng Nam
của những môn đồ Nho giáo ở Đàng Ngoài.
Thời gian cũng là thước đo về độ đậm
nhạt của Nho giáo ở Đàng Ngoài và Đàng Trong.
Như vậy Nho giáo ở Đàng Trong, xét về mặt nào
đó có lẽ cũng có thể gọi là Nho giáo “bản
địa của bản địa”. Không phải chỉ
có vậy, ngoài những môn đồ Nho giáo ở Đàng
Ngoài hướng Nam ra , Đàng Trong c̣n là nơi dung thân của
không ít môn đồ Nho giáo chống đối lại chiùnh
quyền Nho giáo ngay ở Trung Quốc. Tất cả
những cái đó cộng với điều kiện
địa lư tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử-xă
hội ở Đàng Trong . . . đă tạo thành đặc
điểm Nho giáo ở Đàng Trong nói chung, ở Sài G̣n,
nói riêng.” (Hà Thúc Minh, Sài G̣n Qua Quá Tŕnh Bản Địa Hóa,
trong Ấn Tượng Sài G̣n, Nhà Xuất Bản Trẻ,
2005, tr. 7)
Tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng, trong
quyển “Lễ Hội Dân Gian Ở Nam Bộ” (Nhà Xuất
Bản Văn Hóa- Thông Tin, Hà Nội, 2003) viết về Tam
Giáo như sau : “Dù rằng, Tam Giáo theo chân các chúa Nguyễn và
những di dân Thanh Hóa – Ngũ Quảng vào phương Nam
để trực tiếp (hoặc gián tiếp) hội
nhập với các di duệ tín ngưỡng, tôn giáo của
Chăm Pa và Chân Lạp (sau này là của người Hoa
hiện đại và cả của phương Tây) . . . th́
nó đă trỡ thành không c̣n nguyên gốc nữa, một
hệ tư tưởng Nho, Phật, Lăo trong thực
tế văn hóa vùng Nam Bộ đậm chất Ấn
Độ (Hindouisé) hơn và nhạt chất Trung Hoa
(Sinisation) đi ít nhiều . . .” (tr. 206)
Như vậy ta có thể nói đến một
đặc trưng của văn hóa Đồng Nai Cửu
Long hay linh hồn của người dân miền Nam là
ở chổ không thích g̣ bó, chật hẹp, bảo thủ,
mà luôn khai phóng, mở rộng để đón nhận
những yếu tố mới, hội nhập những ǵ
mới đón nhận vào hệ thống văn hóa ḿnh, làm
thành một văn hóa tổng hợp mới ở nơi
vùng đất mới của ḿnh. Linh hồn là cái khả
năng tựa trên một căn bản cũ, mở
cửa đón nhận nhiều cái mới, hội nhập
những cái mới đón nhận vào trong một hệ
thống thích hợp với con người ḿnh và mội
trường sinh sống.