PETRUS
KƯ: NGƯỜI CON CỦA ĐẤT VĨNH LONG,
NHÀ VĂN HÓA GIÁO DỤC LỚN
CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT
Nguyễn
Thanh Liêm
Hai tiếng Petrus Kư ngắn gọn đă đi sâu vào
ḷng người dân Miền Nam từ hơn thế kỷ
nay và sẽ c̣n ở đó măi măi cho dù có kẻ đă cố
t́nh xóa đi hay t́m mọi lư do để d́m xuống. Hai
tiếng thân yêu đó là tên rút ngắn của nhà bác học
Trương Vĩnh Kư, một người con của
đất Vĩnh Long, một nhà văn hóa nổi tiếng
của Nam Kỳ Lục Tỉnh, một người đă
có nhiều công lớn trong việc h́nh thành nền học
thuật mới vùng Đồng Nai Cửu Long cũng
như trên toàn cơi nước Việt vào hạ bán thế
kỷ XIX. Nói đến Petrus Kư là phải nói đến vai
tṛ “khai đường mở lối” của ông trên các địa
hạt:
1) Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm
và chữ Hán trong việc biên khảo, trước tác,
2) Viết câu văn xuôi thay lối văn biền
ngẫu của các nhà nho,
3) Xây dựng nền học thuật mới
tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây
phương thay thế nền học thuật cũ
của nho gia,
4) Làm báo theo đúng ư nghĩa một tờ báo
của Tây phương.
Petrus Kư đă hoàn tất mỹ măn vai tṛ khai
đường mở lối đó nhờ ở sự
gặp gỡ của những yếu tố đặc
biệt này: (1) bản chất hết sức thông minh cùng
với khả năng bẩm sinh đặc biệt về
ngôn ngữ và tính ṭ ṃ, hiếu học hiếm có của ông,
(2) môi trường học hỏi và nội dung
chương tŕnh học mà ông đă được đào
luyện, và (3) hoàn cảnh xă hội Việt Nam và
hướng tiến chung của thế giới hồi
hạ bán thế kỷ XIX. Tính hiếu học, bản
chất thông minh, khả năng bẩm sinh và môi
trường học hỏi đă giúp ông có một quá tŕnh
học vấn và một vốn liếng kiến thức
khác hẳn các nhà nho đương thời như
Nguyễn Khuyến, hay Trần Tế Xương chẳng
hạn. Khi cái vốn liếng hiểu biết đó
được dùng để khảo cứu, biên soạn,
phổ biến, th́ hoàn cảnh xă hội bên ngoài đă
trở nên vô cùng thuận tiện để ông có thể
thành công tốt đẹp. Đây là lúc người Pháp
bắt đầu cuộc đô hộ ở Miền Nam và
đang bành trướng thế lực ra Miền Trung và
Miền Bắc. Cùng lúc với sự thất trận và
mất chủ quyền của triều đ́nh Huế,
nền học thuật cũ chịu ảnh hưởng
nặng nề của Trung Quốc cùng với sự sự
ngự trị của nhà nho trong xă hội xưa cũng
sụp đổ theo, trước hết là ở Miền
Nam bắt đầu từ 1870 và những thập niên sau
đó rồi đến miền Bắc và miền Trung vào
đầu thế kỷ XX. Điều kiện đă
trở nên thuận tiện để xây dựng và phát
triển nền học thuật mới, tân tiến, thích
hợp với đà tiến triển chung của nhân loại.
Cuộc đời và sự nghiệp của Petrus Kư
lược thuật sau đây sẽ chứng minh cho
những điều vừa mới nói trên.
Petrus Trương Vĩnh Kư sinh ngày 6 tháng 12 năm
1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, tổng Minh
Lệ, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (bây giờ
thuộc tỉnh Bến Tre). Ông nhỏ hơn Tam Nguyên Yên
Đỗ Nguyễn Khuyến hai tuổi. Gia đ́nh theo
đạo Thiên Chúa cho nên ông có tên rửa tội là Jean
Baptiste, và tên đầy đủ của ông là Petrus Jean
Baptiste Trương Vĩnh Kư. Cha là ông Trương Chánh
Thi, làm lănh binh thời vua Minh Mạng, và mẹ là bà
Nguyễn Thị Châu. Petrus Kư có một người chị
ruột đă mất lúc c̣n nhỏ và một người
anh trai tên là Trương Vĩnh Sử.
Lúc ông được ba tuổi (có nơi nói là lúc
năm tuổi) th́ cha ông bị bệnh chết trong khi
đồn trú ở Nam Vang, bên Cao Miên. Gia đ́nh gặp lúc
khó khăn, bà mẹ ông phải tần tảo nuôi con ăn
học. Thuở nhỏ Petrus Kư cũng bắt đầu
học chữ nho như bao nhiêu nhà nho khác cùng thời. Ông
theo học chữ Nho với một ông thầy đồ
tên Học, người ở cùng xóm với gia đ́nh.
Petrus Kư rất thông minh, có trí nhớ siêu phàm,
được thầy và bạn xem như thần
đồng lúc bấy giờ. Mới ba tuổi ông đă
thuộc làu Tam Tự Kinh, và sau đó ít lâu, thông suốt Minh
Tâm Bửu Giám, rồi lại đọc được
cả Tứ Thư Ngũ Kinh và thuộc khá nhiều bài
thơ Đường. Bởi thông minh, sáng dạ, lại
sớm mê say đọc sách từ lúc nhỏ, ông có khuynh
hươÙng tự ḿnh t́m ṭi học hỏi nhiều hơn
là học với ông thầy. Ngoài giờ học ở
trường, ông thích đọc những sách của cha ông
mang từ Miền Trung về và gởi ở nhà thầy
dồ Học như Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự,
Ngũ Thiên Tự, Minh Đạo Gia Huấn,
Đường Thi . . . Một người bạn thân khác
của gia đ́nh là cụ Tám, một vị linh mục
từng được ông Trương Chánh Thi che chở
cho trong khi có lệnh cấm đạo Thiên Chúa của
triều đ́nh Huế. Cụ Tám thương t́nh cảnh
bà Nguyễn Thị Châu mới xin bà cho Petrus Kư theo ông
học chữ Quốc Ngữ. Không bao lâu sau th́ cụ Tám
mất và Petrus Kư được một linh mục
người Pháp, có tên Việt Nam là cố Long, đem
về nuôi dưỡng cho tiếp tục học chữ
Quốc Ngữ và tiếng La Tinh. Nhưng lúc này chính sách
cấm đạo của triều đ́nh Huế càng
trở nên vô cùng khắc nghiệt. Chỉ dụ Sát Tả
ngày 14 tháng 8 năm 1848 dẫn đến những chiến
dịch sát hại hết sức tàn bạo những người
giảng đạo cũng như những con chiên theo
đạo Thiên Chúa. Lúc này câu bé Petrus Kư đă
được 11 tuổi. Hai họ đạo ở Cái
Mơn và Cái Nhum đă từng hai lần bị đốt
cháy tan hoang bây giờ lại bị sát hại thêm lần
nữa. Vào một buổi sáng quân triều đ́nh bao vây Cái
Nhum, nhóm lữa đốt cháy cả vùng, dân chúng kêu gào
thảm thiết, Cố Long và Petrus Kư phải trải qua
rất nhiều cam go, nguy hiểm mới thoát khỏi
nạn tai. Sau cùng cố Long phải t́m cách gởi Petrus Kư
lên Cao Miên vào chủng viện Pinhhalu học thần học
và triết học.
Chủng viện Pinhalu, dành cho cả vùng Đông Nam Á,
được xây cất ở cách Nam Vang 6 km, trong một
khu rừng ở cạnh bờ sông Mekong. Chủng viện
có khoảng 25 chủng sinh tuổi từ 13 đến 15,
ngoại trừ Petrus Kư chỉ mới 11, được
tuyển chọn trong số những người giỏi
nhất từ các chủng viện trong vùng. Đây là cơ
hội tốt để Petrus Kư tiếp xúc, học hỏi
các thứ tiếng khác ở các chủng sinh như
tiếng Thái, tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Tàu,
tiếng Nhật, tiếng Ấn Đô. v v . . .Hầu
hết các chủng sinh này đều chưa thông thạo
tiếng La Tinh, thành ra Petrus Kư lại có thêm cái cơ hội
được thông dịch từ tiếng La Tinh ra các
tiếng khác cho các bạn đồng song làm cho năng
khiếu về ngôn ngữ ở ông càng phát triển
mạnh. Với năng khiếu tự nhiên rất
đặc biệt này, Petrus Kư đă đắc thủ
được nhiều ngoại ngữ lúc c̣n trẻ, ngay
trong những năm học ở chủng viện Pinhalu.
Năm 15 tuổi ông tốt nghiệp ở đây với
vị thứ cao nhất, xuất sắc nhất. Ông cùng
hai người nữa được chọn lựa
để vào học chủng viện Giáo Hoàng (Collège
Constantinien) ở đảo Penang, Mả Lai, do người
Anh cai trị. Đến Penang, Petrus Kư có dịp
được thấy cảnh phồn thịnh, tân
tiến của Âu Tây mà ông chưa từng thấy ở
Việt Nam và Cao Miên. Cũng ở đây Petrus Kư có cơ
hội gặp thừa sai Lefèbvre, một vị giáo sĩ
đă bị án tử h́nh ở Việt Nam hồi năm
1845 nhưng được vua Thiệu Trị thả v́ có
sự can thiệp của Đô Đốc Cécile. Sau đó
giáo sĩ Lefèbvre về Pháp, rồi sang La Mả và sau cùng
đến Pénang ở lại đây một thời gian.
Petrus Kư rất được Lefèbvre thương mến v́
sự thông minh hiếm có của ông và v́ ông là người
Việt Nam nơi mà Lefèbvre từng đến giảng
đạo và có nhiều gần gũi, gắn bó. Trong
thời gian học ở Penang sự hiểu biết
của Petrus Kư càng được mở mang rộng răi.
Nhờ thông minh lại có trí nhớ dai, ông học một
biết mười. Ông thường đến thư
viện ngoài giờ học, đọc đủ thứ
sách Hán, Anh, La Tinh, Hy Lạp, Ư, Pháp, v v . . .thu nhận
rất nhiều những kiến thức Đông, Tây, kim
cổ. Một trường hợp đặc biệt
về cơ hội học tiếng Pháp của Petrus Kư
ở đây được ông Bouchot kể lại như
sau. Môt hôm, trong khi đi dạo trong sân trường, Petrus
Kư lượm được một tờ giấy
viết bằng một thứ tiếng mà ông chưa
học qua. Óc ṭ ṃ khiến ông xem xét kỷ thứ chữ
đó. Thấy nó hao hao giống tiếng La Tinh, ông bèn
đem cái vốn hiểu biết về tiếng La Tinh
của ông ra áp dụng t́m hiểu thứ chữ đó. Và
sau khi biết rằng mảnh giấy đó
được gởi tới cho một vị giáo sư
trong trường ông bèn t́m đến vị giáo sư kia
để đưa mảnh giấy và cả bài dịch ra
tiếng La Tinh của ông. Ông thầy vô cùng ngạc nhiên khi
đọc bản dịch của Petrus Kư. Nhân thấy
đây là một thiên tài ông giáo sư cố giúp Petrus Kư học
thứ chữ kia. Ông t́m cho Petrus Kư một quyển tự
điển và một quyển văn phạm và
hướng dẫn để Petrus Kư tự học. Petrus
Kư học rất nhanh với kết quả thật tốt
đẹp. Và thứ chữ đó là chữ Pháp. Những
thứ tiếng khác như tiếng Ấn Độ,
tiếng Anh, ... Petrus Kư cũng tự học
theo lối đó. Ông lượm lặt những mẫu báo
cũ, so sánh, suy diễn, t́m ra ư nghĩa, mẹo luật.
Kết quả của việc học hỏi siêng năng và
lạ lùng đó là ông có thể đọc và nói rành 15
thứ tiếng sinh và tử ngữ của Đông
phương và Tây phương và viết được 11
thứ chữ. Vốn thích t́m ṭi, nghiên cứu học
hỏi, Petrus Kư đă t́m hiểu nhiều nền văn hóa
khác nhau gắn liền với các ngôn ngữ mà ông có dịp
học hỏi. Những hiểu biết quư báu đó là
nền tảng của tinh thần nhân bản, khai phóng và lư
tưởng phụng sự văn hóa của ông sau này.
Năm 1858 ông tốt nghiệp khóa học ở Penang,
với vị thứ cao nhất trong số 300 chủng sinh
ra trường. và được lựa chọn
để đưa đi La Mả học làm linh mục.
Nhưng Petrus Kư từ chối, không đi La Mả mà
lại xin trở về Việt Nam để chịu tang
mẹ vừa mất hồi năm trước dù rằng
linh mục Lefebvre đă cố thuyết phục ông nên
tiếp tục học và chưa nên trở về Việt
Nam trong lúc này v́ t́nh h́nh chính trị ở đây c̣n rất
đen tối. Ông hồi hương trên chuyến tàu
Hồng Mao của người Anh. Năm này cũng là
năm lần đầu tiên quân Pháp đánh phá cửa
Đà Nẳng, mở đầu cho cuộc xăm lăng
của họ trên đất nước Việt Nam. Về
tới quê hương Petrus Kư chứng kiến ngay cảnh
khổ sở của người dân trong hoành cảnh
chiến tranh loạn ly, khốn khổ, chết chóc. Hai
năm sau, do sự tiến cử của linh mục
Lefebvre, ông ra làm thông ngôn cho Pháp. Từ đó ông
được cử đi thông dịch trong những
cuộc tiếp xúc quan trọng giữa Pháp và triều
đ́nh Huế. Quan trọng nhất là lần ông tháp tùng
sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp triều kiến vua
Nả Phá Luân Đệ Tam tại diện Tuileries ngày 5 tháng
11 năm 1863. Ông đă làm cho nhà vua và triều thần
hết sức ngạc nhiên về sự am tường
tiếng Pháp của một người Việt Nam hồi
thời bấy giờ. Chuyến đi này cũng là dịp
để ông thăm viếng, học hỏi để
hiểu biết thêm về một số các nước Âu
Châu và nền văn minh của họ như Pháp, Ư, Tây Ban
Nha, và nhất là được tiếp kiến Đức
Giáo Hoàng và làm quen với một số văn thi sĩ
học giả nổi tiếng của Pháp như Victor Hugo,
Littré, Duruy, Renan, và khoa học gia Paul Bert. Kiến văn
sẳn có của ông càng được mở rộng thêm
trong chuyến công du này.
Từ năm 1864 đến năm 1868 ông làm giám
đốc và đi dạy tiếng Đông Dương cho
người Pháp ở trường Thông Ngôn (Collège des
Interprètes). Năm 1865 cả miền Nam Việt Nam đă
lọt vào tay người Pháp. Tờ công báo đầu tiên
bằng chữ Quốc Ngữ được chánh
quyền cho xuất bản ở Nam Kỳ trong năm này.
Đó là tờ Gia Định Báo. Từ 1868 tờ báo này
được giao cho Petrus Kư quản đốc. Ông
chấn chỉnh lại biến thành tờ báo có
đầy đủ tính chất của một tờ báo
đúng nghĩa của nó. Với công tŕnh xây dựng Gia
Định Báo có thể xem như Petrus Kư là người
đầu tiên làm báo bằng chữ Quốc Ngữ ở
Việt Nam vậy. Vào đầu thập niên 1870 ở
miền Bắc và miền Trung chữ Hán và chữ Nôm
vẫn c̣n đang thạnh hành. Năm 1871 Nguyễn
Khuyến mới đậu đầu kỳ thi Hội và
thi Đ́nh để hoàn tất tam nguyên và bắt
đầu cuộc đời làm quan của ông trong khi nhà
thơ Nôm cuối cùng là Trân Tế Xương th́ chỉ
mới vừa tṛn một tuổi. Năm 1872 Petrus Kư
được bổ làm thơ kư Hội Đồng Thành
Phố Chợ Lớn và năm sau được mời
dạy Hán văn và Việt văn ở trường Tham
Biện Hậu Bổ (Collège des Stagiaires). Năm 1874 ông
được đề cử tham dự giải
thưởng “Toàn Cầu Bác Học Danh Gia” và đă
đoạt được giải thưởng với
hạng thứ 17 trong số 18 văn hào đoạt
giải “Thế Giới Thập Bát Văn Hào.” Năm
1875 ông được cử làm chánh đốc học
trường Hậu Bổ và năm 1878 được
biệt phái ra Bắc Kỳ trong ba tháng để nghiên
cứu về t́nh h́nh chính trị ở đó. Đây là
cơ hội để ông thăm viếng các di tích
lịch sử và t́m hiểu về đời sống
của người dân Bắc Việt. Tập hồi kư
“Chuyến Đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi” là
kết quả của chuyến công du này. Sau đó ông
được cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài
G̣n, Hội Đồng Học Chánh Thuộc Địa, và
được bổ làm Officier d’Académie (1883).
Năm 1885 cả nước Việt Nam đă ở
trong tay người Pháp. Năm sau, một khoa học gia,
hội viên Hàn Lâm Viện kiêm nghị sĩ Pháp là Paul Bert
được cử sang làm Toàn Quyền Đông
Dương. Paul Bert đă được biết Petrus Kư
từ trước khi Petrus Kư tháp tùng phái đoàn Phan Thanh
Giản sang Pháp. Do sự trọng dụng của Toàn
Quyền Paul Bert, năm 1886 Petrus Kư được cử
làm việc trong Cơ Mật Viện bên cạnh triều
đ́nh Huế, dạy tiếng Pháp và chữ Quốc
Ngữ cho vua Đồng Khánh, được vua phong làm Hàn
Lâm Viện Thị Giảng Học Sĩ. Ở Huế ít
lâu Paul Bert chết và ông lấy cớ đau yếu xin cáo
từ trở về Nam. Ông tiếp tục làm việc cho
Soái Phủ Sài G̣n và làm giáo sư thổ ngữ Đông
phương, dạy chữ Hán và tiếng Cao Miên tại
trường Hậu Bổ. Liên Hiệp Đông Dương
ra đời năm 1887 bao gồm Nam Kỳ, Trung
Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên. Năm sau khoảng tháng
tư năm 1888 ông được phái đi công cán tại
Vọng Các về vấn đề ranh giới giữa Thái
Lan và các nước Đông Dương ở tả
ngạn sông Cửu Long.
Trường thông ngôn đóng cửa ông chỉ c̣n đi
dạy tại trường Hậu Bổ và dành nhiều
th́ giờ cho việc nghiên cứu, viết lách, biên soạn
sách vở để xuất bản. Năm 1888 ông tự
bỏ tiền ra xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa
Tŕnh, một tạp chí chú trọng nhiều về văn
hóa, giáo dục có tính cách nhân bản, dân tộc, và khai phóng.
Vào những ngày gần cuối đời, ông sống trong
cảnh nghèo túng, không c̣n lương hướng ǵ
để sống, lại thêm tốn tiền in ấn, sách
báo bán không được, nợ nần chồng chất.
Nhưng ông vẫn say mê viết lách, ông làm việc quá
nhiều, lao tâm, khổ trí, sức khỏe suy giảm nhanh
v́ bệnh hư khí huyết như ông đă viết trong
nhật kư của ông : “Bị hai cái khánh tận, nhà in . .
.nối nhà . . .mất hơn năm sáu ngàn đồng
bạc. Phần th́ sách vở bán không chạy, mắc
nợ nhà in Rey et Curiol, phần th́ bị . . .phải
bảo lănh nợ cho nó hết hơi. Lại thêm phát đau
hư khí huyết. . .” (do Lê Thanh trích dẫn trong Phổ
Thông Chuyên San, số 3 tháng 9, năm 1943). Ngày 1 tháng 9 năm
1898 Petrus Kư trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng
ở Chợ Quán, hưởng thọ 61 tuổi, để
lại cho đời một công tŕnh văn hóa lớn lao
bằng chữ Quốc Ngữ, và một nền học
thuật mới dung ḥa trí thức với đạo
đức, tổng hợp khoa học kỷ thuật Tây
phương với luân lư đạo đức Á Đông.
Petrus Kư có cái vốn kiến thức thật sâu xa
rộng răi, và rất hiện đại, hơn tất
cả những nhà nho cùng thời với ông, nhất là
những kiến thức khoa học cùng những phương
pháp nghiên cứu, phân tích, suy luận khoa học của Tây
phương mà hầu hết những nhà trí thức
Việt Nam hồi thời này chưa ai có hay chưa ai
biết. Thêm vào đó ta thấy tâm tư ông, sự làm
việc của ông cũng như phần lớn th́ giờ
quư báu của ông được dồn vào công việc học
hỏi, nghiên cứu, biên khảo, trước tác
để phụng sự cho dân tộc, cho thế hệ
mai sau. Nhờ vậy mà sự nghiệp văn hóa của
ông có tầm quan trọng hết sức đáng kể
đối với xă hội Việt Nam trong buổi giao
thời từ cuối thế kỷ XIX sang đầu
thế kỷ XX, từ Nam chí Bắc. Từ năm 26
tuổi là năm ông bắt đầu xuất bản tác
phẩm của ông cho đến năm 61 tuổi là năm
ông mất, Petrus Kư không ngừng hoạt động nghiên
cứu trước tác. Suốt bao nhiêu năm ṛng ră làm
việc ông đă để lại cho hậu thế
gần 120 tác phẩm gồm đủ loại từ
tự điển, sách dạy về ngôn ngữ, văn
phạm, về sử kư địa lư, những công tŕnh biên
khảo về văn hóa, phong tục, văn chương,
đến những sách dịch từ Trung Hoa ra tiếng
Việt, những sách chuyển sang chữ Quốc Ngữ
từ các tác phẩm chữ Nôm của các nhà nho, và một
số các sáng tác của ông. Nh́n chung, một cách tổng
quát, ta thấy công tŕnh biên soạn trước tác của
ông không nhằm mục đích nghệ thuật, thẩm
mỹ, hay giá trị văn chương mà nhằm phổ
biến những tư tưởng, những kiến
thức của con người nhiều hơn. Phần lớn
công tŕnh đó là những sách để giúp người ta
học hỏi về ngôn ngữ, văn hóa, luân lư
đạo đức của nước ḿnh hay của
xứ người. Ông đă soạn gần 50 quyển sách
dạy tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa,
tiếng Cao Miên, tiếng Lào, tiếng Mả Lai, tiếng
Miến Điện, tiếng Tamoul, tiếng Thái Lan và
tiếng Ấn Độ, năm quyển sách dịch
về văn phạm, và năm quyển tự điển.
Ông để công phiên âm ra chữ Quốc Ngữ những
chuyện Nôm có giá trị đạo đức luân lư và
phiên dịch các kinh sách của nho gia để phổ
biến cho người đời nền đạo lư
cổ truyền của Á Đông. Ngoài ra ông c̣n để
nhiều th́ giờ biên soạn những sách sử kư,
địa lư, văn hóa . . . theo phương pháp khoa học
để giúp người đọc thu nhận những
kiến thức đứng đắn, vững chắc
về quốc gia dân tộc Việt. Mục đích của
việc biên khảo và phổ biến các loại sách trên là
nhằm đào tạo một lớp người mới có
kiến thức khoa học, có hiểu biết về
nền văn minh kỷ thuật Tây phương và về
văn hóa đạo đức Á Đông, có tinh thần dân
tộc nhưng cũng có tinh thần khai phóng cởi
mở. Nói chung, Petrus Kư không phải chỉ là một nhà
văn khai đường mở lối cho câu văn xuôi và
nền văn chương chữ Quốc Ngữ, ông
cũng không phải chỉ là một nhà bác học t́m ṭi
nghiên cứu để thỏa măn tính hiếu học
của con người ḿnh, mà ông c̣n là một nhà văn hóa
giáo dục có tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng
đă đặt nền móng cho nền học thuật
mới ở Việt Nam vào hạ bán thế kỷ XIX. Tinh
thần nhân bản, dân tộc và khai phóng đó sẽ là
những nguyên tắc căn bản của nền giáo
dục phổ thông ở Việt Nam sau này.
Đầu thế kỷ XX các nhà thơ Nôm nổi
tiếng cuối cùng của chúng ta lần lượt ra
đi, Trần Tế Xương mất năm 1907,
Nguyễn Khuyến mất năm 1909. Với các chết
của các nhà thơ Nôm cuối cùng, một kỷ nguyên
văn hóa vừa khép lại: kỷ nguyên của nền
văn chương chữ Nôm và nền học thuật
cũ của nho gia. Petrus Kư mất vào năm 1898, cuối
thế kỷ XIX. Ông mất đi để mở rộng
cửa cho thế kỷ XX, cho một kỷ nguyên văn hóa
mới: kỷ nguyên của văn học chữ Quốc
Ngữ và nền học thuật mới tổng hợp
đạo đức Á Đông với khoa học Tây
phương. Ba mươi năm sau ngày ông mật tên ông
được dùng đặt cho một trường trung
học lớn nhất và nổi tiếng nhất, cũng
là trường đệ nhị cấp duy nhất của
Miền Nam nước Việt: trường Petrus
Trương Vĩnh Kư. Trường trung học nổi
tiếng này khi mang tên ông nó cũng mang sứ mạng văn
hóa giáo dục mà ông đă đề xướng. Một
giáo sư của trường, cụ Ưng Thiều,
đă thể hiện sứ mạng văn hóa giáo dục
đó của Petrus Kư trong hai câu đối bằng chữ
Hán ghi trước cổng trường (trước
năm 1975):
“Khổng Mạnh cương
thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”
Ư nghĩa của hai câu này là một mặt chúng ta hăy ghi
khắc vào xương tủy những căn bản
của nền luân lư nho giáo, và mặt khác hăy làm sáng sủa
tâm trí của ḿnh bằng những kiến thức khoa
học Tây phương. Sang thế kỷ XX nhờ có
sự phát triển về khoa học kỷ thuật mà con
người đă tiến bộ vô cùng nhanh chóng so với
bao nhiêu những thế kỷ trước. Từ chối
khoa học hay lẫn tránh kỷ thuật là một cách
tự diệt. Muốn sinh tồn phải tiến bộ,
phải hiện đại hóa như người ta, mà
muốn tiến bộ, hiện đại th́ không thể
không học hỏi khoa học, kỷ thuật của Âu
Mỹ. Tuy nhiên nếu chỉ trau dồi khoa học kỷ
thuật không mà thôi th́ cũng rất nguy hại cho loài
người. Từ hơn bốn thế kỷ
trước Rabelais đă bảo là có kiến thức khoa
học mà không có ư thức đạo đức th́ đó là
sự đổ vở của tâm hồn (“Science sans
conscience n’est que ruine de l’âme”). Cho nên bên cạnh sự
học hỏi về khoa học kỷ thuật,
người ta c̣n cần phải trang bị cho ḿnh một
ư thức đạo đức vững chắc.
Đối với người Việt Nam cũng như
nhiều dân Đông Á khác, ư thức đạo đức
vững chắc đó có thể t́m thấy ở trong nền
luân lư đạo đức của nho gia vốn đă
ăn sâu vào đời sống dân chúng từ bao nhiêu năm
qua và đă trở thành một thứ truyền thống
đạo đức của nước ḿnh. Tổng
hợp văn minh Tây phương với luân lư đạo
đức Á Đông là một việc làm khó khăn nhưng
Petrus Kư đă để hết cuộc đời ḿnh
để làm việc đó. Tinh thần Petrus Kư là tinh
thần dung ḥa Đông Tây, tinh thần tổng hợp khoa
học kỷ thuật với luân lư đạo đức.
Bên cạnh những kiến thức tối tân về cơ
giới, điện tử, c̣n có t́nh nghĩa cha con,
chồng vợ, bạn bè, đồng loại, ḷng hiếu
để, t́nh thầy tṛ, bè bạn, ḷng thương yêu
giúp đở người khác, v v . . . nhiều ư niệm
đạo đức cổ truyền đó vẫn rất
có giá trị và ích lợi cho đời sống của
người Việt Nam hiện giờ. Người c̣n
ở lại cần có nó để bảo vệ gia
đ́nh và giá trị tinh thần của con người
trước sự khống chế của chủ nghĩa
vật chất vô thần. Những người đă ra
đi và đang sống trong xă hội văn minh Âu Mỹ
th́ cần có nó để đương đầu với
sự đồng hóa khó tránh được khi phải
thích nghi vào hoàn cảnh sinh sống mới. Tinh thần
Petrus Kư là tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng,
rất cần có trong mọi công tŕnh xây dựng con
người và cộng đồng ở trong cũng như
ở ngoài nước.