TÂM HỒN
TÀI TỬ
Nguyễn Thanh Liêm
"Đờn
ca tài tử“ là một hoạt động nghệ
thuật rất đặc biệt của người dân
vùng đồng bằng sông Cửu Long, hay vùng Tiền Giang
- Hậu Giang, tức là vùng địa lư trải dài từ
Gó Công - Mỹ Tho - Bến Tre đến Sóc Trăng -
Bạc Liêu - Rạch Giá, vv... Đây là vùng đất
mới của người dân Việt trong tiến tŕnh „Nam
tiến“ từ miền Trung vào Nam trong các thế
kỷ XVII - XVIII. Đờn ca tài tử với những bài
cổ nhạc đầy rung cảm, nhất là với
những câu vọng cổ buồn năo nuột, lâm ly ai oán,
trong thế kỷ qua đă gắn liền với xă
hội miền Nam, nhất là với nền "Văn Minh Miệt
Vườn“ như nhiều người thường
gọi.
Vào
cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX
vùng Hậu Giang c̣n nhiều rừng hoang chưa khai khẩn
hết, dân cư vẫn c̣n thưa thớt. Khoảng 1875 -
1880 dân số ở Nam Kỳ chỉ có 1.620.000 người
với diện tích trồng trọt khoảng 520.000
mẫu. Sau khi người Pháp đặt xong nền đô
hộ ở Nam Kỳ, họ cho đào kinh, mở
đường, để dân chúng khai khẩn thêm nhiều
ruộng đất. Sang đầu thế kỷ XX dân
số Nam Kỳ cùng diện tích trồng trọt tăng
nhanh. Vào những năm 1911 - 1915 dân số đă lên
đến 3.200.000, tăng gắp đôi so với thời
thập niên 1870. Diện tích trồng trọt lúc nầy là
1.650.000 mẫu, gần gắp ba lần diện tích
trồng trọt hồi bốn thập niên trước.
Khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
năm 1930 dân số ở miền Nam đă lên tới
4.500.000 người với diện tích trồng trọt
hơn 2.000.0000 mẫu. Trong
vùng Tiền Giang - Hậu Giang có một khu vực
địa lư gọi là „Miệt Vườn.“ Đây là vùng
đất tương đối cao, hoặc là đất
ruộng mà người dân đào mương, đắp
bờ làm thành những bờ đất cao để có
thể trồng nhiều thứ cây trái, từ cây kỹ
nghệ như dừa khô, đến cau, chuối và các
loại cây ăn trái khác như cam, quưt, bưởi, xoài,
ổi, điều, mận, dâu, mít, măn cụt, lơm
chơm, sầu riêng, ḅn bon, vv... Vùng miệt vườn này
cũng có ruộng lúa nhưng diện tích trồng lúa ít
hơn diện tích làm vườn rất nhiều. Phần
lớn các ông điền chủ miệt vườn chú
trọng vào việc khai thác huê lợi vườn hơn huê
lợi ruộng. Làm vườn chỉ cực lúc
đầu khi mới lên bờ cần phải trồng
chuối, trồng khoai ḿ, để cho cỏ đừng
lên được nhiều, chờ cho đất bớt
phèn mới bắt đầu trồng dừa.
Thường là phải từ năm năm sau trở lên mới
bắt đầu có huê lợi. Nhưng khi có huê lợi
rồi th́ điền chủ miệt vườn sẽ
rất thoải mái. Thường th́ chỉ cần
mướn người giựt dừa, thả xuống
mương đem dừa về sân nhà, bán ra hằng tháng
lấy tiền xài. Sáu tháng dừa treo th́ huê lợi ít
một chút, nhưng qua sáu tháng dừa mùa th́ lợi tức
vô nhiều hơn bù lại những tháng kia. Kinh tế
miệt vườn cũng như đời sống
của người dân miệt vườn rất thoải
mái, nhất là các ông điền chủ miệt
vườn. Trên toàn cơi Đông Dương vào năm 1930 có
tất cả 6.690 đại điền chủ (có từ
50 mẫu đất trở lên). Trong số này riêng Nam
Kỳ đă có tới 6.300 người. Thành ra đa số
đại điền chủ đều ở trong vùng
đất mới khai khẩn này, nhất là vùng miệt
vườn.
Ngoại
trừ những năm bị ảnh hưởng nặng
nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới (các năm 1930, 1931, 1932, và tệ nhất là 1933),
khiến nhiều điền chủ phải phá sản,
nhất là các điền chủ chủ ruộng có vay
tiền của Chà Chetty hoặc các cơ quan địa
ốc (bởi giá tiền một giạ lúa c̣n có một
cắc mà thôi, thay v́ một đồng tám trước kia,
tiền lúa không đủ trả tiền lời, nợ
bị chồng chất, đất bị tịch thu) c̣n
th́ trọn thời gian từ đầu thế kỷ XX
đến năm 1939, khi Đại Chiến Thế
Giới Thứ Hai bắt đầu, có thể xem như là
thời kỳ rất b́nh yên, rất thịnh trị
của xă hội miền Nam. Đời sống của
người dân miệt vườn lúc này có thể coi
như một cơi thiên đàng hạ giới, nhất là
đời sống của các ông điền chủ
miệt vườn. Trong cảnh thanh b́nh, sung túc đó,
với cuộc đời thong thả, các ông điền
chủ thường tổ chức hội họp ăn
nhậu đờn ca xướng hát t́m thú giải trí thanh
tao trong những chuỗi ngày buồn trong cảnh vắng vẻ
ở nhà vườn. Phong trào đờn ca tài tử ra
đời trong hoàn cảnh xă hội đó. Bộ môn
được dân miệt vườn hâm mộ nhất là
cổ nhạc, và những người trong các nhóm
đờn ca tài tử là những người chuyên về
cổ nhạc. Phong trào này xuất hiện vào khoảng
đầu thế kỷ XX ở miền Nam Việt Nam, và
phát triển mạnh mẽ ở miệt vườn.
Tập sách nhạc đầu tiên mang tựa đề
„Bản đờn tranh và bài ca“ được tái bản
lần thứ tư vào năm 1910. Trong sách có những
bản Lưu Thủy Trường, Tứ Đại, Nam
Xuân, Nam Ai, và một ít bài khác. Tiếp theo đó từ 1915
trở đi nhiều tập bài ca như trên
được xuất bản với nhan đề có
chữ tài tử trong đó, như Tứ Tài Tử, Bát Tài
Tử, Lục Tài Tử, Thập Tài Tử. Những
tập bài ca này chứa đựng từ 19 đến 21
bài ca cổ nhạc trong đó. Đề tài phần
lớn lấy trong truyện Tàu như Chiêu Quân Cống
Hồ, Đào Viên Kết Nghĩa, Bá Nha Tử Kỳ, Thoại Khanh Châu Tuấn,
vv... Truyện Thúy Kiều cũng là một đề tài
được các tài tử khai thác. H́nh b́a của các
tập bài ca này thường mang h́nh vẽ các nhạc
cụ mà người tài tử thích sử dụng như
đờn c̣, đờn ḱm, đờn tranh, ống tiêu,
nhịp sanh, đờn độc huyền.
Hăy
tưởng tượng cuộc sống của những
người điền chủ miệt vườn.
Thường thường họ là những ông chủ,
mướn người làm và trông chừng cho người
ta làm cho ḿnh tất cả từ móc mương, bồi
mương, phát cỏ, giựt dừa, lượm
dừa, gánh dừa, lùa dừa, lột dừa, vv và ḿnh chỉ
có việc bán dừa lấy huê lợi hằng tháng sống
thoải mái thảnh thơi. Họ có nhiều th́ giờ
rảnh rỗi, có nhiều phương tiện giải
trí. Một ít anh em bạn bè thường tụ họp
lại với nhau, ít th́
đôi lần một tháng, nhiều th́ có thể bốn
năm lần. Họ ăn uống, đờn ca có khi
cả đêm. Những đêm có trăng họ hay thả
thuyền trên sông, mang đồ ăn theo, ăn nhậu,
vừa đờn ca xướng hát vừa thưởng
ngoạn cảnh vật thiên nhiên. Đó là lối giải
trí thanh tao mà người xưa đă từng tận
hưởng. Người xưa đă dùng chữ tài tử
để chỉ những nhà nho có tâm hồn nghệ sĩ
biết tận hưởng những thú vui thanh tao đó.
Đó là những người có tâm hồn tuy cũng là nhà
nho nhưng phóng khoáng thanh tao, không bị trói buộc
chật hẹp bởi lợi danh, bởi những luân lư
khắt khe của thánh hiền. Họ biết
thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, họ
biết dùng cung đàn điệu hát để nâng cao tâm
hồn, họ biết để t́nh cảm của ḿnh ḥa
nhịp với điệu nhạc lời thơ. Lư Bạch, Tô Đông Pha cũng
như Bá Nha Tử Kỳ đều là những tâm hồn
tài tử đó. Nhà Nho Việt Nam cũng vậy. Với ít
nhiều ảnh hưởng Lăo Trang, nhà nho thấy tâm
hồn ḿnh khoáng đạt hơn, tài tử hơn là
những kẻ chỉ biết vất vả làm lụng, nô
lệ cho đồng tiền, ép ḿnh trong khuôn khổ chật
chội của những luân lư khắt khe bóp nghẹt t́nh
cảm tự nhiên của con người. Họ là
những tâm hồn thanh cao biết t́m những thú vui văn
chương, ca nhạc bên cạnh các ả đào có tài có
sắc. Với những bài hát nói và ca trù nổi tiếng
nhà nho tài tử đă tạo một truyền thống
giải trí thanh cao tao nhă cho người dân Việt sau này.
Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh,
Dương Khuê, kể cả con người rất
mực đạo đức của Nguyễn Khuyến
cũng đều thuộc ṇi t́nh, có tâm hồn tài tử
nói trên.
“Tài tử với giai
nhân là sẵn nợ.“
hoặc
là:
“Giang tay người tài tử khách
thuyền quyên,
Chén
rượu thánh câu thơ thần thích chí.“
(Cao Bá Quát)
Tài tử
như ta thấy trên đây là người có tâm hồn
rộng rải, phóng khoáng, thanh cao, có khuynh hướng
thẩm mỹ, có nhiều t́nh cảm đẹp đẽ
thể hiện trong lời ca tiếng nhạc. Họ
biết t́m những thú vui thanh cao, tao nhả. Tiếng
đàn, giọng hát, lời thơ là những phương
tiện giúp giải sầu, giúp quên đi những nỗi
buồn khổ, băn khoăn của kiếp
người. Nói như Cao Bá Quát :
“Ba vạn sáu ngàn ngày là
mấy,
Cảnh
phù du trông thấy cũng nực cười.“
Nhà Nho tài tử xưa
kia là như thế, và người đờn ca tài tử
sau này trong xă hội miệt vườn cũng vậy.
Họ đều cùng là những người trong một
ṇi t́nh với nhau. Phong trào đờn ca tài tử với
những bản cổ nhạc nhiều rung cảm phát
triển mạnh trong không khí thanh b́nh của nền „văn
minh miệt vườn“. Phong trào được phổ
biến rộng răi một phần cũng nhờ chữ
Quốc Ngữ đă chánh thức ra đời và bành
trướng khắp nơi. Việc in ấn và xuất
bản được thực hiện dễ dàng hơn
trước.
Từ việc học
đờn, học ca, đến kinh nghiệm tŕnh
diễn, đến sửa đổi, biến chế, sáng
tác, không mấy xa xôi, khó khăn, nhất là đối với
những người có óc sáng tạo bẩm sinh. Những
người đờn ca tài tử, khi lăn lộn trong
nghề, không khỏi không đẻ ra những cái mới
lạ. Họ phải là những người đă chế
biến thêm thắt vào những bài cổ nhạc cũ
để mỗi ngày làm cho nền cổ nhạc
được phong phú hơn. Từ những đề tài
xưa cũ người ta thêm dần những đề
tài mới mẻ hơn, và từ những bản đàn
xưa người ta đẻ ra những bản nhạc
mới hơn. Trong tiến tŕnh tự nhiên đó,
đờn ca tài tử là cha đẻ của Sân khấu
cải lương và những câu ca vọng cổ sau này
vậy.