TRUYỀN THỐNG
TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO
CỦA NGƯỜI VIỆT
NAM (*)
Nguyễn Thanh Liêm
Dân Việt Nam có tính hiếu
học và rất biết ơn người có công dạy
dỗ ḿnh. Dù chỉ học một chữ hay nữa
chữ cũng mang ơn người dạy. “Nhứt
tự vi sư, bán tự vi sư” người xưa
thường nói. Mang ơn thầy là bổn phận
của người học bởi “không thầy đố
mầy làm nên”. Nhưng bổn phận này không phải
chỉ là sản phẩm của lư trí thuần túy mà c̣n
xuất phát từ một tấm ḷng, một t́nh cảm
thật sâu xa bền bĩ: sự thương mến kính
trọng thầy. Bởi người làm thầy phải là
người biết thương mến, lo lắng cho
học tṛ ḿnh, biết cách dạy dỗ, hướng
dẫn cho học tṛ ḿnh phát triển, tiến bộ,
trỡ nên người tốt ở trên đời.
Thầy có sứ mạng cao cả của thầy, phải
ư thức được sứ mạng cao cả đó,
để làm hết phận sự của thầy, làm cho
thế hệ trẻ nên người. Có vậy học tṛ
và người đời mới thương mến kính
trọng thầy. Tinh thần tôn sư nói lên ḷng
tôn kính người thầy. Tinh thần đó luôn luôn có
trong xă hội Việt Nam. Nó bao gồm sự kính trọng,
ḷng biết ơn và ḷng thương mến của
người học tṛ đối với thầy. Tinh
thần đó bây giờ vẫn tồn tại ở
nhiều người, nhưng không sâu đậm bằng
ở các người xưa. Càng đi ngược về
xưa chừng nào th́ tinh thần đó càng sâu xa đậm
đà chừng nấy. Trọng đạo là đánh giá
thật cao đạo lư của thánh hiền xem như
mẫu mực để người đời noi theo.
Đạo lư đây là luân lư đạo đức và thánh
hiền không ai khác hơn là Không Tử mà người Á
Đông thường tôn sùng như bậc thánh nhân. Khổng
Tử cũng là người đầu tiên làm nghề
dạy học. Ngài cũng là vị thầy cao cả
nhất trong xă hội Á Đông. Người đi dạy
cũng như người đi học từ xưa luôn
luôn xem Ngài là bậc “vạn thế sư biểu” tức
là ông thầy tiêu biểu của muôn đời.
Khổng Tử ra đời
năm 551 trước Tây lịch. Ngài là người
nước Lỗ nay thuộc vùng Sơn Đông ở phía
Bắc nước Trung Hoa. Lúc mới lên ba tuổi, Khổng
Tử phải chịu cảnh mồ côi cha. Đến 19
tuổi, Không Tử lập gia đ́nh và bắt đầu
đi làm việc với chức vụ khiêm nhường là
“ủy lại”, là chức coi việc thóc lúa trong kho. Sau
đó được đổi sang việc coi nuôi ḅ trong
việc tế lễ. Thiên tư dạy học của Ngài
bắt đầu xuất hiện khi Ngài nhận dạy
riêng cho con trai của Lỗ Hầu. Lúc này Ngài mới 22
tuổi. Khổng Tử rất thích nghiên cứu học
hỏi về những ǵ liên quan đến lễ nghi,
văn hóa, lịch sử nước Tàu. Khoảng 29
tuổi Khổng Tử nhờ con của Lỗ Hầu giúp
cho phương tiện để đi đến Lạc
Ấp (kinh sư nhà Chu) để học hỏi. Ở
đây có nhà Minh đường do triều đ́nh thiết
lập để chứa các luật lệ, thu tập
những bảo vật cùng những di tích của các
bậc thánh hiền đời trước (xem như
văn khố và viện bảo tàng hồi đó). Ở
đây Khổng Tử có cơ hội khảo cứu
tường tận các nghi thức tế lễ, các thể
chế nơi miếu đường và các nơi giao
tế.
Sau đó Khổng Tử
trỡ về nước Lỗ chánh thức đi vào
cuộc đời dạy học. Chỉ trong thời gian
ngắn tiếng tăm của Ngài được đồn
đăi khắp nơi. Học tṛ theo học càng ngày càng
đông. Năm 517 trước Tây Lịch, lúc này Ngài đă
được 35 tuổi, nước Lỗ trăi qua một
cuộc loạn ly, Không Tử phải tản cư qua
nước Tề, sống ở đây một thời gian
hơn năm năm. Măi đến năm 511 trước
Tây Lịch Ngài mới trỡ về nước Lỗ san
định sách vở, và tiếp tục dạy học. Học
tṛ của Ngài đến từ nhiều nơi trên khắp
cả nước Tàu. Một hôm, theo lời mời của
vua nước Lỗ, Ngài xuất chính, giử chức Trung
Đô Tể, tức kinh thành Phủ Doản (như Đô
trưởng). Ít lâu sau thăng lên chức Đại Tư
Khấu (như tổng trưởng tư pháp) và sau cùng
Nhiếp Chính Sự (như Thủ Tướng chính
phủ). Ngài không mấy thành công trên chính trường v́
chính sách cai trị của Ngài quá thiên về đạo
đức (vương đạo). Lối cai trị
đạo đức của Ngài chỉ có lợi cho dân mà
không có lợi (vật chất) cho kẻ cầm quyền,
nó không thỏa măn được ḷng tham lam, ham muốn bá
quyền của các vua chúa. Ngài chỉ làm quan thời gian
ngắn, rồi cùng các đệ tử đi chu du thiên
hạ suốt mười mấy năm trời nhưng
không t́m được nơi để thi hành vương
đạo của Ngài nữa. Ngài trỡ về
nước Lỗ lúc 68 tuổi, sống những ngày c̣n
lại nơi quê nhà. Ngài mất năm 474 trước Tây
Lịch, thọ 73 tuổi.
Ngài mất đi khiến
học tṛ vô cùng thương tiếc. Ai cũng để
tang 3 năm. Hơn 100 đệ tử làm nhà ở gần
mộ Khổng Tử để ở đó cho đến
ngày măn tang. Riêng Tử Cống th́ đă ở đây hơn
6 năm. Thuật lại cuộc đời Khổng
Tử, Tư Mă Thiên viết: “Tôi đọc sách họ Không,
tưởng tượng như trông thấy cách làm
người của Thầy. Sang nước Lỗ xem nhà
thờ Không Tử với nào xe, nào áo, nào đồ thờ
, nào các học tṛ thời thường đến đó
tập lễ, tôi bồi hồi ở lại không về được.
Nhiều vua chúa và những người tài giỏi khi
sống rất vẻ vang nhưng khi chết rồi là
hết , chẳng c̣n ǵ để lại cho đời sau.
Thầy Không Tử th́ áo vải đạm bạc vậy
mà khi mất đi rồi lời dạy của thầy
truyền hơn 10 đời mà học giả vẫn c̣n
tôn trọng. Từ thiên tử đến vương
thần ở nơi xứ Trung Quốc này, hể nói
đến Sấm kinh đều phải lấy thầy
làm đích. Thật đáng là bậc chí thánh vậy.”
Khổng Tử là một nhà
giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ
đại không phải chỉ riêng của Trung Hoa mà c̣n
của cả thế giới loài người. Nhờ
Khổng Tử địa vị của ông thầy
được người đời xưa nâng cao,
hơn cả địa vị của ông cha, chỉ
đứng sau địa vị của ông vua. Câu “Quân,
Sư, Phụ” cho biết sau ông vua là đến ông thầy
rồi sau ông thấy mới đến ông cha. Người làm cha cũng có công
dưỡng dục, dạy dỗ con cái, nhưng trong xă
hội người dạy con ḿnh nhiều nhất,
người có công vun xới vườn kiến thúc và
đạo đức của con ḿnh, chính là ông thầy
của nó. Làm cho một người non dại trỡ thành
một người trưởng thành có kiến thức, có
đạo đức, có khả năng, có đời
sống xứng đáng với ư nghĩa cao đẹp
của con người, đó là công lao to lớn của ông
thầy, của người biết mang trong người
cái trọng trách “hối nhân bất quyện” (dạy
người không biết mệt). Khổng Tử là
người ư thức rơ cái sứ mạng, cái thiên chức
cao quư đó của một lương sư. Hậu
thế tôn sùng Ngài như bậc thầy của muôn
đời, bậc “Vạn Thế Sư Biểu” bởi
chủ trương, đường lối, mục tiêu,
phương pháp giáo dục của Ngài chứa đựng
nhiều giá trị mà người đời sau phải
công nhận, đề cao và học hỏi.
Quan trọng nhất là
“đạo” (tức con đường hay hướng đi)
của Ngài. Ở đây ta cứ hiểu là đạo Nho
hay đạo Khổng, bao gồm những tư
tưởng hay triết lư căn bản mà Đức
Khổng Tử đă tổng hợp và phát huy để
dẫn dắt con người đi đến nơi toàn
thiện (bằng cách tu thân, tề gia, trị quốc và
b́nh thiên ha). Đạo của Ngài là đạo của
người quân tử, đạo của bậc
đại nhân (đại học chi đạo), lấy
chữ nhân làm đầu, xem con người và xă hội là
cứu cánh. Từ mấy trăm năm trước Tây
Lịch cho đến những ngày gần đây
đạo của Ngài vẫn được mạnh mẽ
lưu truyền trong các xă hội Á Đông. Ở đâu c̣n
có sự giáo dục chân chính, c̣n có những người
tận tâm dạy dỗ (những lương sư), c̣n có
những người muốn học thật sự
để nên người th́ ở đó ḷng tôn sư
trọng đạo vẫn c̣n được duy tŕ.
Ngày nay trước sự bành
trướng của duy vật vô thần chủ nghĩa,
tính “linh ư vạn vật” của con người bị
phủ nhận, giáo dục trỡ thành chợ buôn bán,
phẩm chất tụt hậu, thầy không c̣n đủ
điều kiện để làm thầy, học tṛ không
c̣n cơ hội để học làm người,
đạo đức suy đồi, xă hội trụy
lạc đổ vỡ, ḷng người hoang mang, tinh
thần tôn sư trọng đạo hơn bao giờ
hết, cần phải được phục hồi,
truyền thống tốt đẹp đă có cần
được chấn hưng để những thế
hệ sau này c̣n có cơ xây dựng lại tinh thần nhân
bản, dân tộc, khai phóng rất cần cho việc
hiện đại hóa và phát triển quốc gia trong
những thập niên tới.
(*) Hội Tả Quân Lê Văn
Duyệt Foundation chủ trương phục hồi
truyền thống văn hóa tốt đẹp của
người Việt Nam. Hằng năm hội tổ chức
bốn ngày lễ nói lên ḷng nhớ ơn của
người Việt Nam đối với cha mẹ (Ngày
Nhớ Ơn Cha Mẹ), đối với quốc gia và
thành hoàng bổn cảnh (Ngày Cúng Kỳ Yên), đối
với các anh hùng vị quốc vong thân (Ngày Vía Đức
Tả Quân và các anh hùng liệt sĩ), và đối với
thầy (Ngày Tôn Sư Trọng Đạo).