TRẺ EM VIỆT NAM
TRONG TIẾN TRÌNH
XÃ HỘI HÓA
VÀO XÃ HỘI
VÀ VĂN HÓA MỸ
Nguyễn Thanh Liêm
Mấy mươi năm
trước, lúc tôi còn đi học ở Đại
Học Văn Khoa Sài Gòn, tôi có đọc một quyển
sách của một nhà tâm lý xã hội học Pháp nói về
ảnh hưởng của xã hội /văn hoá đối
với đời sống tâm lý của con người.
Tựa sách là gì và tác giả là ai bây giờ tôi không còn
nhớ, tuy nhiên có một câu chuyện được
kể lại trong sách làm cho tôi nhớ mãi không bao giờ
quên. Đó là câu chuyện của hai cô bé Ấn Độ
được người ta tìm thấy ở trong
rừng vào lúc hai cô chỉ độ vào khoảng 8-10
tuổi gì đó. Hai cô không nói được tiếng
người, cũng không đi trên hai chân như
người ta. Hai cô đi trên bốn chân, có cử chỉ
và ngôn ngữ y hệt như loài thú. Các nhà khoa học cho
rằng hai cô đã bị bỏ rơi trong rừng từ
lúc mới sanh và đã được thú rừng nuôi
dưỡng. Khi được đem về với xã
hội loài người, các cô được người
ta dạy cho cách sống của loài người.
Người ta phải mất rất nhiều thì giờ
để dạy dỗ cho các cô nhưng kết quả
chưa tới đâu thì hai cô đã chết. Xã hội loài
người là cái gì rất xa lạ mà các cô không thích nghi
được, mặc dù các cô có mang trong người cái
mầm sinh vật của giống người.
Sự kiện trên đây
cho thấy khi ta sanh ra và lớn lên trong xã hội/văn hóa
nào thì ta sẽ được giáo dục uốn nắn
để trở thành một phần tử của xã
hội/văn hóa đó. Dù gốc là người ta, với
cái gene của người ta đi nữa ta cũng không trở
thành người ta được nếu ta không
được nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn
trong xã hội loài người. Yếu tố xã
hội/văn hóa là yếu tố quyết định trong
quá trình làm cho con người trở thành người. Nói
như thế không có nghĩa là yếu tố sinh vật
không quan trọng. Thật ra yếu tố sinh vật
cũng rất là quan trọng không thua gì yếu tố xã
hội/văn hóa vì nếu không có cái gene của
người ta thì dù có sanh ra và lớn lên trong xã hội loài
người đi nữa con vật cũng không trở
thành người ta được. Trở lại câu
chuyện của hai cô bé Ấn Độ trên đây ta
thấy đây là trường hợp hết sức hi
hữu, và ngày nay các nhà khoa học không làm sao kiểm
nghiệm được.
Trường hợp ta
thấy thường hơn là việc những đứa
trẻ được cha mẹ nuôi đem về nuôi
dưỡng ở một xã hội/văn hóa khác hơn là
nơi chôn nhau cắt rốn của chúng như những
trẻ Việt Nam, Trung Hoa, Đại Hàn được
cha mẹ nuôi là người Mỹ đem về nuôi trên
nước Mỹ từ lúc mới sơ sinh chẳng
hạn. Những trẻ em này lớn lên có đời
sống hoàn toàn Mỹ chớ không có dấu vết gì
của xã hội/văn hóa gốc (ngoại trừ màu da và
những nét đặc thù của cấu trúc thể xác
của chủng tộc gốc). Nói chung khi được
nuôi nấng, lớn lên trong xã hội/văn hóa nào, người
ta sẽ trở thành con người trong xã hội/văn
hóa đó, bất kể nguồn gốc của
người đó được sanh ra ở đâu và
bởi giống người gì.
Tiến trình nuôi
dưỡng, giáo dục, uốn nắn, cùng lúc với
tiến trình hấp thụ, tiêu hóa những điều
học hỏi để trở thành một phần tử
của xã hội/văn hóa được các nhà văn hóa
xã hội học gọi chung là tiến trình xã hội hóa
(socialization). Đây là một tiến trình vô cùng quan
trọng trong việc làm cho con người được
trở nên người trong một nền văn hóa hay
một xã hội nào đó. Đó là tiến trình giúp cho con
người học hỏi và áp dụng các sinh hoạt tâm
sinh lý chung cho những người sống cùng trong một
cộng đồng, một xã hội, một nền
văn hóa với nhau. Nhờ có tiến trình xã hội hóa
đó mà người ta có thể sinh hoạt
được dễ dàng, hữu hiệu trong đời
sống xã hội. Khi ta sanh ra và lớn lên trong xã
hội/văn hóa Việt Nam, ta sẽ được xã
hội hóa vào xã hội/văn hóa Việt Nam, và nhờ
tiến trình xã hội hóa này mà chúng ta sinh hoạt
được dễ dàng hữu hiệu trong xã
hội/văn hóa quen thuộc của mình. Nếu bỗng
nhiên chúng ta bị bức rời khỏi xã hội/văn
hóa Việt Nam và đem đặt một cách đột
ngột vào một xã hội/văn hóa khác, chúng ta sẽ
thấy vô cùng bở ngỡ, vụng về, kém hẳn
hiệu năng, không biết hành sự như thế nào cho
có kết quả dễ dàng như chúng ta đã làm trong không
khí quen thuộc của xã hội/văn hóa mình.
Chúng ta phải mất
rất nhiều thì giờ để học hỏi, làm quen
dần với nếp sống trong xã hội/văn hóa
mới. Lâu dần chúng ta mới thích nghi vào môi trường
sinh sống mới. Các hiện tượng đồng hóa
(assimilation) và đồng hóa văn hóa (cultural assimilation, hay
acculturation) thường được các nhà xã hội
học nói đến. Đúng ra đó là sự biến
đổi trong tiến trình xã hội hóa của con người.
Xã hội hóa là một tiến trình liên tục trong suốt
đời người. Tuy có thể có lúc nhanh (khi con
người còn nhỏ tuổi hay khi có đổi mới
hay cách mạng xã hội xảy ra), có lúc chậm (khi
lớn tuổi hay khi xã hội không thay đổi),
nhưng bao giờ cũng diễn ra liên tục. Trong trường
hợp của người di dân, định cư trong
một xã hội/văn hóa mới, tiến trình xã hội
hóa bị xáo trộn và thay đổi. Sự xáo trộn,
thay đổi nầy bao gồm hai sự việc: một
(1) là xóa dần (hay xóa phần nào đó) công trình xã hội
hóa đã có từ trước vào trong xã hội/văn hóa
cũ và hai (2) là bắt đầu xã hội hóa vào trong xã
hội/văn hóa mới. Các nhà văn hóa xã hội học
gọi hai sự việc nầy là desocialization và
resocialization mà tôi tạm dịch là triệt xã hội hóa và
tái xã hội hóa. Khi ta được ra đời và
lớn lên một thời gian trên đất nước
Việt Nam thì ta đã học được tiếng nói
cũng như nhiều hình thức sinh hoạt mang tính
chất văn hóa Việt, tức cũng như ta đã xây
cho ta một ngôi nhà văn hóa rất Việt Nam trên nền
tảng của quê cha đất tổ. Đó là quá trình
socialization vào xã hội/văn hóa Việt Nam. Bây giờ
nếu chúng ta phải xa lìa quê cha đất tổ,
phải rời bỏ xã hội/văn hóa củ, rời bỏ
nếp sống củ để bắt đầu một
lối sống mới trong xã hội/văn hóa mới là xã
hội/văn hóaMỹ, chúng ta phải trải qua một
thời gian xáo trộn, thay đổi để có thể
thích nghi vào cuộc đời mới, chẳng khác nào
như thể ta mang ngôi nhà văn hóa đã có của mình sang
xây dựng lại trên đất Mỹ. Muốn cho nó chen
được vào khu nhà văn hóa Mỹ, ta phải
đập phá phần nào ngôi nhà cũ của mình để
sửa nó lại thành ngôi nhà mới, thích hợp với
khung cảnh văn hóa Mỹ hơn. Tiến trình
đập phá ngôi nhà cũ là desocialization, và việc sửa
chữa cho thành nhà văn hóa mới là resocialization vậy.
Những trường hợp xã hội hóa, triệt xã
hội hóa và tái xã hội hóa cũng có thể tìm thấy
ở ngay trong một xã hội, một quốc gia với
các khu văn hóa (subculture) khác biệt. Thí dụ như
sự di cư của người Bắc và người
Trung vào miền Nam nước Việt. Những
người này cũng trải qua những biến
đổi tâm lý từ sự triệt xã hội hóa vào khu
văn hóa cũ để tái xã hội hóa vào khu văn hóa
mới như những người di dân tỵ nạn
từ quốc gia xã hội này đến quốc gia xã
hội khác.
Lẽ dĩ nhiên là tiến
trình tái xã hội hóa này diễn ra nhanh hay chậm là tùy
ở nhiều yếu tố mà quan trọng hơn hết
là những yếu tố sau đây:
"Tuổi tác và quá trình xã
hội hóa trong xã hội cũ. Càng lớn tuổi khi di dân,
người ta càng có nhiều thời gian để
được xã hội hóa vào xã hội củ, và do đó
nếp sồng quen thuộc của xã hội/văn hóa
cũ càng hằn sâu trong tâm thức con người.
Điều nầy làm cho sự triệt tiêu quá trình xã
hội hóa vào xã hội cũ sẽ phải diễn ra
rất chậm, làm trở ngại rất nhiều cho
tiến trình tái xã hội hóa vào xã hội mới. Nói một
cách nôm na là khó quên văn hóa cũ và khó nhận văn hóa
mới, hoặc là sự quên cái cũ và nhận cái mới
xảy ra rất chậm. Thế hệ lớn của
người tỵ nạn Việt Nam ít thay đổi
nhất về phương diện thích nghi văn hóa.
Phần đông các cụ vẫn duy trì các giá trị của
xã hội xưa và những nét đặc thù của nền
văn hóa cũ. Ngược lại lớp người
thuộc thế hệ trẻ học hỏi ngôn ngữ
mới, thu nhận giá trị của nền văn hóa
mới một cách nhanh chóng. Qua Mỹ chẳng bao lâu họ
quên tiếng mẹ đẻ, họ sống như
người Mỹ. Họ được Mỹ hóa rất
nhanh, và đối với thế hệ lớn, họ
đã trở thành "những người Mỹ con."
Các cụ di cư vào Nam hồi năm 1954 vẫn giữ được
nhiều nét đặc thù của văn hóa Hà Hội trong
khi những người trẻ thì lại được
Nam Kỳ hóa nhiều hơn.
"Mức độ khác
biệt giữa hai nền văn hóa cũ và mới.
Người Âu Châu sẽ được tái xã hội hóa
trên đất Mỹ nhanh hơn người Á Đông
bởi văn hóa Mỹ với văn hóa Âu Châu không khác nhau
bao nhiêu trong khi đó văn hóa Á Đông và văn hóa Mỹ
khác biệt nhau rất nhiều. Những người
Việt Nam đã có cơ hội làm quen với văn hóa Âu
Tây sẽ được xã hội hóa vào xã hội Mỹ
dễ dàng hơn là những người Việt Nam không có
cơ hội làm quen nhiều với nền văn hóa Âu
Mỹ. Người miền Trung nói tiếng Nam dễ
hơn người miền Bắc, và họ cũng dễ
được Nam Kỳ hóa hơn người đến
từ miền Bắc.
"Thái độ
đối xử với người di dân của cộng
đồng xã hội mới. Nếu xã hội mới vui
vẻ chấp nhận người di dân, hết lòng giúp đỡ
người di dân trong bước đầu khi mới
đến định cư, người di dân sẽ thích
gần gũi với cộng động mới và sẽ
dễ được tái xã hội hóa nhanh hơn. Kết
quả của nhiều công cuộc nghiên cứu của nhà
tâm lý xã hội học Alan Richardson cho thấy diễn
tiến tâm lý của người di dân đối với xã
hội/văn hóa mới như sau: Khi người di dân
định cư ở một xã hội khác, sự
biến đổi tâm lý sẽ xảy ra. Nếu việc
định cư ở buổi đầu có kết
quả tốt đẹp người di dân sẽ cảm
thấy thỏa mãn với cuộc sống mới. Tâm
trạng thỏa mãn này sẽ đưa đến
những tình cảm gắn bó với cộng đồng
mới, nhận mình như một phần tử của
cộng đồng mới, và từ đó sẽ dần
dần chấp nhận hệ thống giá trị và nền
văn hóa của xã hội mới. Sự tái xã hội hóa
vào xã hội mới sẽ diễn tiến nhanh hơn
khởi sự từ tình cảm gắn bó đó của người
di dân. Ngược lại nếu người di dân bị
dân bản xứ kỳ thị, đối xử tệ,
hoặc không được sự giúp đỡ nào của
xã hội mới, phải chịu nhiều khổ sở
trong cuộc sống mới thì tâm trạng bất mãn
sẽ xảy ra. Từ tâm trạng bất mãn đó
người di dân sẽ không nhận xã hội mới, không
muốn gần gũi, và trong trường hợp này
sự tái xã hội hóa vào xã hội mới sẽ rất khó
khăn chậm chạp.
"Mức độ
tập trung, và sự gần gũi của cộng
đồng người di dân. Nếu số lượng
người di dân đông và sống tập trung với nhau
thì sự tái xã hội hóa sẽ rất chậm và có
nhiều trở ngại. Nhất là khi đã có một
cộng đồng người di dân ở đó thì
nếp sống cũ có thể sẽ kéo dài và người
mới tới không có nhu cầu phải vứt bỏ cái
cũ để học hỏi cái mới. Sự
đồng hóa văn hóa không nhất thiết phải
xảy ra. Trường hợp của người tỵ
nạn Việt Nam định cư ở vùng San Jose hay
Orange County chẳng hạn. Không cần biết tiếng
Anh, không cần được Mỹ hóa chút nào vẫn có
thể sống dễ dàng ở những nơi này vì ở
đây đã có một xã hội (một cộng
đồng) Việt Nam nho nhỏ với những
đặc tính văn hóa Việt Nam. Ngược lại,
những người Việt tỵ nạn định
cư rải rác ở những nơi thưa thớt
người Việt như ở vùng Trung Tây Hoa Kỳ thì
nhất định phải được Mỹ hóa
nhiều hơn mới có thể sống còn được
ở những nơi đó. Trường hợp của
đồng bào Bắc Việt di cư vào Nam hồi năm
1954 cũng vậy. Những người định cư
rải rác ở các tĩnh lỵ, thành phố ở
miền Nam sẽ thay đổi và thích nghi vào văn hóa (khu
vực) của miền Nam nhiều hơn là những
người sống tập trung ở các khu tỵ nan
như Hố Nai, Biên Hòa chẳng hạn.
"Tâm lý của
người di dân. Nếu người di dân không muốn và
không có một cố gắng nào trong vấn đề thích
nghi văn hóa thì sự tái xã hội hóa vào xã hội mới sẽ
phải xảy ra rất chậm.
"Có thể thêm vào
những yếu tố quan trọng trên đây một
yếu tố quyết định nữa là giới tính
(nam hay nữ). Một số các nhà xã hội học cho
rằng phái nữ dễ thích nghi vào xã hội/văn hóa
mới hơn phái nam. Phụ nữ học tiếng Anh nhanh
hơn nam giới, họ cũng chấp nhận hệ
thống giá trị của xã hội/văn hóa mới nhanh
hơn đàn ông.
Tóm lại kết quả
của tiến trình tái xã hội hóa ở dăy là mức
độ thích nghi văn hóa vào xã hội mới hay
đồng hóa văn hóa, và cũng có thể là mức độ
đồng hóa hiểu theo nghĩa chữ đồng hóa
trong thuyết đồng hóa của Robert Park. [Ngày nay
nhiều người cho rằng thuyết đồng hóa
của Park sai, và người ta đưa ra nhiều dẫn
chứng cho thấy nhiều nhóm di dân thiểu số tuy
đã định cư lâu đời trên xứ Mỹ
vẫn giữ được những nét đặc thù
của nền văn hóa gốc chớ không bị
đồng hóa theo tiến trình đồng hóa mà Robert Park
đã nêu ra trong thuyết đồng hóa của ông. Từ
đó nhiều thuyết khác ra đời để
giải thích cho mối liên hệ giữa các giống dân
ở đây (trên đất Mỹ) chẳng hạn
thuyết hỗn hợp của Zangwill, thuyết văn hóa
đa nguyên của Horace Kallen, của Moynihan hay Milton Gordon.
Tôi nghĩ là thuyết của Park không sai. Người ta có
thể đi đến tình trạng bị đồng hóa
nếu một số điều kiện vật chất và
tinh thần, xã hội và tâm lý nào đó được
thỏa mãn. Bằng chứng có thể nêu ra ở đây là
sự bị đồng hóa vào văn minh Mỹ của
người Mỹ gốc Phi (Mỹ Đen) ở Hoa
Kỳ, hay sự bị đồng hóa của người
Mông Cổ vào văn minh Trung Hoa hồi thời Nguyên bên Trung
Quốc. Hơn nửa nếu ta hiểu chữ
đồng hóa theo nghĩa của các nhà tâm xã hội
học (như Eisenstadt, Ronald Taft hay Alen Richardson) thì ta
thấy có nhiều người thuộc nhóm thiểu
số đã được đồng hóa vào xã
hội/văn hóa Mỹ mặc dầu cả nhóm nói chung
chưa bị đồng hóa (tức là nhìn sự việc
ở bình diện cá nhân chớ đừng nhìn sự
việc ở trên bình diện rộng lớn toàn diện) .
Nhìn từ bình diện cá nhân ta thấy một số
người Trung Hoa, Nhật, kể cả Việt Nam
nữa đã được Mỹ hóa hầu như 100%;
những người đó về phương diện tâm
lý xã hội có thể xem như đã bị đồng hóa
vào xã hội/văn hóa Mỹ mặc dù nguyên cả nhóm không
hay chưa bị dồng hóa].
Với những
người được sinh ra và lớn lên ở đây
thì không có vấn đề tái xã hội hóa, mà chỉ có
một tiến trình duy nhất là xã hội hóa vào xã hội/văn
hóa Mỹ mà thôi. Trẻ con Việt Nam sinh trưởng trên
đất Mỹ phải trải qua tiến trình
đồng hóa vào xã hội Mỹ. Tuy nhiên tiến trình
đó có trọn vẹn không, có nhanh chóng, suông sẽ không còn
tùy ở gia đình và cộng đồng nó lớn lên trong
đó.
Trong tiến trình xã hội
hóa cũng như tái xã hội hóa giáo dục đóng vai trò
then chốt. Giáo dục ở đây bao gồm mọi hình
thức, mọi khía cạnh của sự dạy và
học, hay sự trao cho của một người
vàsự nhận lãnh của người khác những
kiến thức/kỹ năng cần thiết để
sinh sống trong một xã hội/văn hóa nào đó.
Học và dạy là những sinh hoạt bắt buộc
phải có của con người trong tiến trình xã
hội hóa. Ở đâu và bất cứ lúc nào có con
người, có sự sống là có sự kiện học và
dạy, dù tích cực hay tiêu cực, dù có ý thức hay không
có ý thức, có tổ chức có quy củ hay không có tổ
chức không có quy củ. Có ba nguồn chính hay ba nơi chính
cung ứng giáo dục cho con người. Đó là gia
đình, trường đời (xã hội), và học
đường. Cả ba đều góp phần quan
trọng vào công trình xã hội hóa, hay xây dựng ngôi nhà
văn hóa cho con người để con người có
thể hoạt động hữu hiệu trong xã
hội/văn hóa liên hệ. Ngôn ngữ, lời nói và cách
nói, cử chỉ, thái độ, kiến thức, kỹ
năng, suy luận, phán đoán, tất cả đều
được học ở những người khác, và
đều được xuất phát từ ba nguồn
chính nói trên. Nếu cả ba đều từ một
nền văn hóa và đều hướng về một
nền văn hóa thì tiến trình xã hội hóa sẽ
được suông sẽ dễ dàng. Ngược lại
nếu ba nguồn giáo dục trên đây không xuất phát
từ một nền văn hóa và cũng không hướng
về cùng một nền văn hóa thì tiến trình xã
hội hóa sẽ khó khăn, chậm chạp hơn. Thí
dụ một đứa trẻ sinh ra ở Mỹ, lớn
lên trong gia đình Mỹ, đi học trong học
đường Mỹ, làm việc và sinh sống trong xã
hội Mỹ, thì tiến trình xã hội hóa vào nền
văn hóa Mỹ của đứa trẻ này sẽ rất
suông sẻ, dễ dàng. Một đứa trẻ sinh ra
ở Việt Nam, lớn lên một thời gian trong gia
đình Việt Nam, bây giờ vào học trong học
đường Mỹ để sẽ sống trong xã
hội Mỹ, tiến trình tái xã hội hóa vào xã hội
Mỹ sẽ có phần khó khăn hơn trường hợp
trước. Ở trường hợp này nếu gia
đình đã được Mỹ hóa thì việc Mỹ hóa
của đứa trẻ sẽ xảy ra dễ dàng và nhanh
chóng hơn. Ngược lại nếu gia đình vẫn
duy trì nếp sống Việt Nam thì tiến trình tái xã
hội hóa của đứa trẻ vào xã hội Mỹ
sẽ bị ít nhiều trở ngại. Trường
hợp khó khăn rắc rối nhất là trường
hợp những trẻ Việt Nam sinh ra trong gia đình
Việt Nam, lớn lên trên đất Mỹ, học trong
học đường Mỷ, sống trong xã hội
Mỹ nhưng muốn duy trì văn hóa Việt Nam. Việc
học tiếng Việt và nếp sống Việt Nam
của các em sẽ rất khó khăn, chậm chạp
bởi cả ba nguồn cung ứng giáo dục đều
hướng vào việc xã hội hóa vào nền văn hóa
Mỹ chớ không phải xã hội hóa vào văn hóa/xã
hội Việt Nam. Học một ít tiếng Việt mà
không có cơ hội dùng lại ở trong gia đình hay
ở ngoài đời thì sự ghi nhớ (memorization), giữ
lại (retention), và nội tâm hóa (internalization) các tiếng
đó sẽ rất khó thực hiện. Cho nên hiệu
quả của việc dạy tiếng Việt và văn hóa
Việt Nam cho các em Việt Nam sinh trưởng trên
nước Mỹ có thể rất ít nếu không có sự
tiếp tay mạnh mẻ, đắc lực của gia
đình và cộng đồng người Việt. Có
những cái thiếu hay là sự vắng mặt của
những yếu tố cần thiết trong việc làm cho
sự dạy và học có hiệu quả. Những yếu
tố quan trọng và thiếu vắng đó là: (1)
động cơ thúc đẩy (motivation), (2) phần
thưởng (reward), (3) cũng cố/tăng cường
(reinforcement), (4) cơ hội giữ lâu (retention), và (5)
cơ hội chuyển dụng (transference). Đó là chưa
nói đến những phần vụ chuyên môn trong vấn
đề truyền thụ như hàng ngũ giảng viên,
tài liệu giáo khoa, khung cảnh/môi trường dạy dỗ,
vv…
Lẽ dĩ nhiên là cũng
có một số người Việt Nam chủ
trương là nên để cho con mình trở thành
người Mỹ về văn hóa, nghĩa là để
cho chúng được xã hội hóa vào văn hóa Mỹ
như các trẻ con Mỹ. Nhưng ngược
lại cũng có những người muốn cho con mình còn
giữ lại một số những nét đặc thù nào
đó của nền văn hóa Việt. Người ta
cố tìm cơ hội để cho con em học tiếng
Việt. Những ý định cũng như những
cố gắng đó rất đáng được
khuyến khích, cổ võ và giúp đỡ. Tuy nhiên chúng ta không
thể không nhìn thấy những khó khăn trở ngại
khi nhìn vào tiến trình xã hội hóa đã nói trên đây. Chúng
ta thấy rất nhiều trẻ em Việt Nam khi gặp
nhau, nói chuyện với nhau, dùng toàn tiếng Mỹ. Họ
có lối sống gần y hệt như Mỹ. Khi có cơ
hội phải nói tiếng Việt thì họ phải tìm
chữ một cách khó khăn, phát âm lơ lớ y như
người ngoại quốc bắt đầu học
tiếng Việt. Một số ít khác tuy đã có nhiều
cố gắng học hỏi tiếng Việt nhưng
vẫn gặp nhiều khó khăn khi diễn tả/phát
biểu, phải chen rất nhiều tiếng Mỹ vào
trong câu nói của họ. Trường hợp này rất thường
xảy ra ở trên đài phát thanh hay trên đài truyền
hình Việt Nam khi có những chương trình liên hệ
tới những người trẻ hay do những
người trẻ đảm trách. Chúng ta cũng có
nhiều cơ hội tham dự những cái đám
cưới nữa Việt nữa Mỹ, gia đình
của chúng ta đã có khá nhiều rể Mỹ hay dâu
Mỹ và một số cháu nội, cháu ngoại nữa
Mỹ nữa Việt.
Nhìn chung có thể cả
cộng đồng người Việt ở vùng Little
Saigon chắc sẽ còn tồn tại lâu dài, nhưng
cũng sẽ biến đổi dần về dài về
lâu. Nhưng nhìn ở phương diện cá nhân chúng ta không
thể không lo ngại rằng tiến trình xã hội hóa
ở đây sẽ làm cho nhiều cá nhân Việt Nam trong
tương lai sẽ được xã hội hóa vào
nền văn hóa Mỹ nếu gia đình không cố
gắng giữ nề nếp, lối sống Việt và
trường học không dành cho tiếng Việt và văn
hóa Việt một chỗ đứng quan trọng hơn
hiện nay.