Tôi ra đời trong một làng quê ở tỉnh
Mỹ Tho. Ngay từ lúc c̣n học ở trường
Tiểu Học tỉnh, tôi đă được nghe ba tôi
và chú tôi nói nhiều về trường Petrus Kư. Thấy các
anh học sinh trường College Le Myre de Vilers với
bộ đồng phục trắng có gắng phù hiệu
trông rất uy nghi tôi đă nể phục các anh và
ngưỡng mộ trường college này lắm rồi.
Nhưng chú tôi bảo là Petrus Kư c̣n to hơn, quan trọng
hơn Le Myre de Vilers nhiều lắm. Riêng ba tôi th́ h́nh
như lúc nào cũng nhắc là “nữa lớn con sẽ học
trường Petrus Kư.” Thành ra trong đầu óc non nớt
của tôi lúc đó trường Petrus Kư là cái ǵ vĩ đại
lắm, nó lớn lao quan trọng vô cùng. Tôi cũng nghe
một người bà con bảo là “học Petrus Kư ra là làm
cha thiên hạ đấy.” Lời phát biểu chói tai đó
thật ra cũng có phần đúng đối với
thế hệ của tôi và đối với người
dân Miền Nam thời đó. Bởi v́ cho đến năm
1945, sau ngày Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai
chấm dứt, cả Miền Nam nước Việt
chỉ có 4 trường Trung Học công là Petrus Kư, Gia Long,
Le Myre de Vilers (Nguyễn Đ́nh Chiểu), và College de Cần
Thơ (Phan Thanh Giản), mà trong 4 trường đó
chỉ có trường Petrus Kư là trường duy nhất có
bậc đệ nhị cấp (tức là lycée hồi
đời Tây). Dù ra đời trễ nhất
trường Petrus Kư vẫn là trường lớn
nhất, cao nhất, và nỗi tiếng nhất ở trong
Nam. Thời xưa, có được bằng Tiểu
Học đă là oai lắm đối với dân quê, có
được bằng Thành Chung th́ kể như trí
thức lắm rồi, thuộc hạng thầy thiên
hạ, huống chi là có được bằng Tú Tài. Quí hóa
vô cùng, có mấy ai có được bằng này. Vậy mà
trường Petrus Kư lại sản xuất ra số ít
người quí giá đó. Bởi thế nên phụ huynh
học sinh, những người hiểu rơ giá trị của
giáo dục, nhất là những người có con trai, ai ai
cũng đều mong muốn cho con ḿnh được vào
Petrus Kư cả.
Nhưng khi lên trung học th́
tôi vào Le Myre de Vilers chớ không phải Petrus Kư v́ thời
cuộc lúc này và v́ hoàn cảnh gia đ́nh không cho phép. Khi xong
đệ nhất cấp, tôi mới xin chuyển về trường
Petrus Kư và từ đó sống ở Sài G̣n luôn.
Được vào Petrus Kư là kể như ước mơ
đă thành, tôi mừng không thể tả, nhưng
người vui nhất chắc chắn là ba tôi và kế đó
là nhưng người thân trong gia đ́nh tôi. “Ngày
đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng
dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dăy
lớp học đồ sộ uy nghi, tôi có cảm giác
như tôi đang được vươn ḿnh lên
để lớn thêm và để mở rộng tâm hồn
cho khoáng đạt, cho thích nghi với với cái khung
cảnh uy nghi đồ sộ của ngôi trường. Khi
các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần
lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước
cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và
kỷ luật tôi nói thầm trong ḷng rằng ở trên
đời này chắc chưa có trường học nào có
được cái kỷ luật chặt chẽ và cái không
khí trang trọng như trường này. Nhất là khi
vừa qua khỏi cổng vào sân trong, nh́n lên giữa hành
lang chính (préau) thấy thầy hiệu trưởng Phạm
Văn C̣n cùng với thầy giám học (thầy Huấn)
và thầy tổng giám thị (thầy Trương) oai
vệ đứng đó tôi càng thấy cái không khí nghiêm trang
của ngôi trường hơn, một sự nghiêm trang mà
tôi chưa hề thấy được ở những ngôi
trường nào tôi đă học qua.” (TTHPK tr. 115-116).So với Le Myre de Vilers,
trường Petrus Kư lớn hơn nhiều lắm, cũng
ra đời sau Le Myre de Vilers lâu lắm. Họa đồ xây
cất trường do một kiến trúc sư
người Pháp là ông Hebrard de Villeneuve vẽ hồi năm
1925, và trường được khởi công xây cất
liền sau đó để hoàn tất vào năm 1927. Niên
khóa đầu tiên khai giảng hồi tháng 9 năm 1927
với bốn lớp học sinh chuyển từ Chasseloup
Laubat sang. Lúc này trường mang tên Collège de Cochinchine.
Vị hiệu trưởng đầu tiên là ông Banchelin.
Năm sau, 1928, Thống Đốc Nam Kỳ là Blanchard de la
Brosse lấy tên nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Kư
đặt tên cho trường, biến trường này
thành lycée (trường Đệ Nhị Cấp) và cho
đặt tượng đồng bán thân Petrus Kư vào
giữa sân trường. Lễ khánh thành tượng
đồng Petrus Kư và trường Lycée Petrus Trương
Vĩnh Kư được đặt dưới sự chủ
tọa của Tống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la
Brosse. Trường nằm ở giữa hai thành phố Sài
G̣n và Chợ Lớn, trên khoảng đất rộng mênh
mông với đầy đủ cung cách của một khu
học đường trang nghiêm yên tịnh. Tất cả
đất đai, và phần lớn cơ sở trong khu
vực đóng khung bởi bốn con đường
Cộng Ḥa, Thành Thái, Trần B́nh Trọng và Nguyễn Hoàng,
đều thuộc lănh thổ của Petrus Kư.
Trường có sân vận động riêng của
trường, sân vận động Lam Sơn. Nhưng v́
sự phát triển nhanh của nền giáo dục trong
thập niên 1950 khi nước vừa độc lập nên
một số cơ sở và đất đai của
trường Petrus Kư bị cắt xén, trưng dụng
để xài cho những cơ quan giáo dục khác.
Trường Quốc Gia Sư Phạm, trường Trung
Tiểu Học Trung Thu dành cho con em Cảnh Sát, Trung Tâm
Học Liệu của Bộ Giáo Dục đều
được xây trên phần đất của
trường Petrus Kư. Ba dăy lầu lớn của
trường Petrus Kư được dùng cho Đại
Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm. Nhà
Tổng Giám Thị Petrus Kư được dùng làm Trung Tâm
Thính Thị Anh Ngữ, và một số các nhà chức
vụ khác của trường cũng được dùng
cho một số các viên chức Bộ Giáo Dục. Tuy
bị cắt xén nhiều nhưng trường Petrus Kư
vẫn c̣n là một trường trung học lớn
nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam Việt Nam.
(Về phương diện
kỷ luật và trật tự th́ có lẽ không có
trường nào có kỷ luật và trật tự chặt
chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Kư.
Ở Le Myre de Vilers tuy kỷ luật cũng khá chặt
chẽ, tuy cũng có nhiều biện pháp mạnh trừng
phạt học sinh như cấm túc, đuổi học, vv...nhưng
vẫn không có cái không khí trang nghiêm uy nghi của trường
Petrus Kư. Ở Le Myre de Vilers khi cổng trường mở th́
học sinh cứ đi thẳng vào trước lớp
học của ḿnh chờ tới giờ sắp hàng
trước cửa lớp đợi thầy đến
cho phép là vào lớp. Ở Petrus Kư, sau khi vào cổng học
sinh phải xếp hàng bên hông trường trước. Xong
rồi mới theo lệnh giám thị tiến vào bên trong
xếp hàng chờ trước cửa lớp một cách
rất trật tự. Ở Le Myre de Vilers học sinh không
thấy ông hiệu trưởng đâu, nhưng ở Petrus
Kư, khi vào bên trong trường là học sinh sẽ thấy
ngay ban giám đốc đứng giữa hành lang chính nh́n
xuống toàn thể học sinh của trường. Tôi
chưa hề chào cờ ở trường Le Myre de Vilers
bao giờ. Nhưng ở Petrus Kư th́ học sinh phải chào
cờ mỗi sáng Thứ Hai. Cảnh chào cờ bao giờ cũng
rất nghiêm trang và long trọng. Ở đây lúc nào bạn
cũng cảm thấy như được ban giám
đốc chiếu cố tới luôn).
Muốn được vào
học trường Petrus Kư người đi học
phải chứng tỏ được rằng ḿnh
thuộc thành phần ưu tú, xuất sắc, có thể là
ở trong nhóm từ 5 đến 10 phần trăm
đầu của những người cùng lứa
tuổi. Kỳ thi tuyển vào Petrus Kư là kỳ thi rất
gay go cho nhiều học sinh, xưa cũng vậy mà sau này
cũng vậy. V́ thuộc thành phần chọn lọc
như vậy cho nên học sinh Petrus Kư đậu rất
nhiều và rất cao trong các kỳ thi. Kỳ thi Trung
Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng
hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có
một người đậu hạng B́nh mà thôi, và
người đó là học sinh Petrus Kư.Quyển Kỷ Yếu của
trường Petrus Kư niên khóa 72-73 ghi thành tích học tập
của niên khóa trước như sau:
TÚ TÀI II
Ban A: Dự thi 101, trúng
tuyển 101 với 2 Ưu, 10 B́nh, 25 B́nh Thứ, tỷ lệ
100%.
Ban B: Dự thi 419, trúng tuyển 419, 11 Ưu, 53 B́nh, 114
BT, tỷ lệ 100%
Ban C: Dự thi 52, trúng tuyển 52, với 7 BT, tỷ lệ
100%
Đậu nhiều và nhiều người đậu
cao, đó là thành tích học tập của học sinh Petrus
Kư từ xưa đến giờ.
Trường Petrus Kư
đối với tôi là một trường mẫu, lư
tưởng, là tấm gương cho các trường khác
noi theo. Lúc c̣n học ở Le Myre de Vilers bọn học sinh
chúng tôi luôn lấy các bạn Petrus Kư làm mẫu trong mọi
hoạt động. Bởi vậy nên khi tốt nghiệp
Cao Đẳng Sư Phạm, tôi quyết định
lấy Petrus Kư làm ưu tiên một trong việc chọn
lựa nhiệm sở của tôi. Tôi được về
Petrus Kư theo ư muốn. Ở thời đại của tôi
được bổ nhiệm về trường Petrus Kư
và một số các trường lớn khác ở Đô
thành thường phải là những người
đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt
nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những
người đă dạy lâu năm ở tỉnh. Nói chung
th́ phần đông giáo sư Petrus Kư là giáo sư
được chọn lọc, rất có căn bản
chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một
số giáo sư Petrus Kư đă đảm nhiệm những
chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi
dạy ở trường một thời gian. (Giáo sư
Nguyễn Thành Giung sau làm Bộ Trưởng Bộ Giáo
Dục, giáo sư Phạm Văn Lược sau làm Tổng
Giám Đốc Trung Tiểu Học và B́nh Dân Giáo Dục, giáo
sư Phạm Văn Thuật sau làm Tổng Giám Đốc
Trung Tiểu Học và BDGD, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sau
làm Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh
Niên). Đặc biệt là từ niên khóa 1964-65 giáo sư
Petrus Kư giữ vai tṛ quan trọng trong việc soạn
đề thi cho các kỳ thi trên toàn quốc. Họ cũng
là những người đem bài thi trắc nghiệm khách
quan (objective tests) thay dần vào chỗ những bài thi theo
lối luận đề (essay). Một số giáo sư
khác đă có những công tŕnh nghiên cứu soạn thảo,
viết sách giáo khoa rất có giá trị như giáo sư
Phạm Thế Ngũ, giáo sư Vũ Kư, vv...Phần đông
đều rất tận tụy với việc giảng
dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm
đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của
trường. Thầy Đảnh, thầy Thái, thầy Ái,
thầy Minh, thầy Hạnh, thầy Đính, thầy Nam...
thầy nào học tṛ cũng thương cũng mến và
thầy nào cũng hết ḷng lo lắng cho học sinh,
cũng như lo lắng cho trường. Mến
thương học tṛ, mến thương trường
Petrus Kư, đó là điều mà phần đông anh chị em
giáo sư Petrus Kư đều cảm thấy. Cho nên năm
1962 khi tôi bị đưa đi làm hiệu trưởng
ở B́nh Dương tôi thấy rất khổ tâm khi
phải rời khỏi trường. Cũng may là năm
sau tôi lại được trở về Petrus Kư không
phải để đi dạy lại mà để làm
hiệu trưởng trường này.
Tôi là hiệu trưởng
đời thứ 13 của trường mặc dầu
trước tôi chỉ có 11 ông hiệu trưởng (v́ ông
Valencot làm hiệu trưởng tới hai lần cũng
như giáo sư Trần Ngọc Thái sau này). Từ 1927 cho
đến năm 1975 trường có tất cả 17
vị hiệu trưởng. Trong số 17 ông hiệu
trưởng này, có 5 người Pháp (Banchelin, Valencot, Andre
Neveu, Le Jeannic, và Taillade) và 12 người Việt Nam (Lê
Văn Kim, Phạm Văn C̣n, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn
Văn Thơ, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn
Lược, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thái,
Trần Văn Thử, Trần Văn Nhơn, Bùi Vĩnh
Lập, và Nguyễn Minh Đức). So với những
vị hiệu trưởng trước, tôi là người
quá trẻ khi đảm nhận chức vụ hiệu
trưởng trường này. Lúc đó tôi mới có 30
tuổi trong khi những vị hiệu trưởng
trước tôi không có vị nào dưới năm
mươi tuổi. Tất cả đều là bậc
thầy của tôi. Nhưng cũng từ tôi trở đi
th́ hiệu trưởng Petrus Kư đều c̣n nhỏ tuổi
cả (trừ ra giáo sư Trần Văn Thử), tất
cả là đàn em của tôi về phương diện
tuổi tác. Lớp trẻ chúng tôi tuy có rộng rải,
cởi mở hơn thế hệ lớn tuổi nhưng
tất cả đều không xa rời truyền thống
tốt đẹp của trường Petrus Kư. Kỷ luật,
trật tự vẫn đứng hàng đầu. Chọn
lựa kỷ giáo sư, chọn lựa kỷ học sinh,
thúc đẩy các hoạt động trong cũng như
ngoài học đường, vận động mọi
phương tiện, mọi nguồn yểm trợ để
phát triển trường sở, thăng tiến việc
học của học sinh, làm cho học sinh đậu
nhiều và đậu cao trong các kỳ thi, đào tạo
người giỏi cho non sông tổ quốc, đó là
những điều chính yếu mà ông hiệu trưởng
Petrus Kư nào củng cố làm. Ông hiệu trưởng nào
cũng biết là trường ḿnh là trường rất
nỗi tiếng, rất được sự chú ư của
chính quyền cũng như của dân chúng. Ông hiệu
trưởng nào cũng biết trường ḿnh là
trường được giới giáo dục coi như
là trường kiểu mẫu của trường trung
học ở miền Nam tự do và là trường luôn
được sự chú ư của mọi người và
mọi giới. Những nhân vật hàng đầu của
chính phủ thường đến thăm viếng
trường, từ Tổng Thống, Chủ Tịch
Quốc Hội đến các Tổng Bộ trưởng,
đến các quốc khách từ các quốc gia khác
đến. Ai cũng biết trường ḿnh là
trường đă từng đào tạo rất nhiều nhân
vật quan trọng, từng giữ những vai tṛ lănh
đạo trong chánh quyền bên này hay bên kia, từng đóng
góp vào việc làm nên lịch sử cho xứ sở.
Và trên hết tất cả ai
cũng hiểu rằng trường ḿnh hết sức hănh
diện mang tên một nhà bác học, một nhà văn hóa có
công rất nhiều đối với việc phổ biến
nền học thuật mới ở Việt Nam hồi
thế kỷ thứ XIX. Đó là nhà bác học Petrus
Trương Vĩnh Kư. Nói đến ông là người ta
phải nhớ đến vai tṛ “khai đường
mở lối” của ông trên các địa hạt sau đây:
1.
Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán
trong việc biên khảo trước tác.
2. Viết câu văn xuôi thay lối văn biền
ngẫu của các nhà nho,
3. Làm báo theo đúng mẫu mực một tờ báo, và
4. Xây dựng nền
học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông
và văn minh Tây phương thay thế nền học
thuật cũ kỹ lỗi thời của nho gia.
Qua công tŕnh soạn thảo,
trước tác của ông ta thấy ông là một nhà văn
hóa giáo dục có tinh thần nhân bản, dân tộc và khai
phóng, ba đặc tính quan trọng mà nền giáo dục chân
chính và tiến bộ nào cũng cần phải có. Lư
tưởng của ông là đào tạo được
lớp người mới có đủ những kiến
thức khoa học kỹ thuật của văn minh Aâu Tây
đồng thời nắm vững những nguyên tắc
đạo đức cổ truyền Á Đông, vừa có
tâm hồn khai phóng, cởi mở, vừa có tinh thần dân
tộc, vừa biết tôn trọng giá trị con
người dù bất cứ trong xă hội nào. Lư
tưởng đó được thể hiện trong
chương tŕnh giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha
từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành
trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua
Đệ Nhị Công Ḥa.
Trường trung học được cái
danh dự mang tên Petrus Trương Vĩnh Kư từ khi ra
đời đă mang lư tưởng giáo dục đó
biểu lộ trong hai câu đối ghi khắc
trước cổng trường:
“Khổng Mạnh cương
thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.”
Từ ngày được thành
lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt
gần năm mươi năm hoạt động,
trường Petrus Kư đă làm tṛn sứ mạng giáo dục
được giao phó, đă đóng tṛn vai tṛ một
định chế xă hội đối với quốc gia,
đă đào tạo được không biết bao nhiêu nhân
tài cho xứ sở, đă trở thành một trường
trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất
ở Miền Nam Việt Nam.