VĂN HÓA MIỀN NAM NƯỚC VIỆT
HAY VĂN HÓA
ĐỒNG NAI CỬU LONG
Nguyển Thanh
Liêm
Nghiên cứu và viết
về văn hóa xă hội vùng này từ trước tới
giờ đă có nhiều người làm, khởi từ
Trịnh Hoài Đức đến Sơn Nam, Nguyễn
Đ́nh Đẩu, Vương Hồng Sển, Nguyễn
Văn Hầu, Huỳnh Minh, v v. . . "Gia Định Thành
Thông Chí" của Trịnh Hoài Đức chứa
đựng nhiều sự việc và dữ kiện quư giá
về Trấn Gia Định xưa. Sơn Nam với những
quyển "Đồng Bằng Sông Cửu Long hay Văn
Minh Miệt Vườn", "Lịch Sử Khẩn
Hoang Miền Nam", "Đ́nh Miếu và Lễ Hội
Dân Gian Miền Nam", và "Đất Gia Định
Bến Nghé Xưa. . ." ghi lại nhiều nét đặc
biệt về khu vực văn hóa miền Tây Nam Phần.
Vương Hồng Sển lưu lại nhiều h́nh
ảnh sống động của Sài G̣n Chợ Lớn
hồi thuở nào qua các tác phẩm "Sài G̣n Tả Pín
Lù" và "Sài G̣n Năm Xưa" của ông. Huỳnh
Minh với một loạt các tác phẩm về các tỉnh
xưa cho thấy sự sống của người dân
miền Lục Tỉnh như thế nào. Nhưng nói chung,
đó là những công tŕnh nghiên cứu cá nhân, lẻ tẻ.
Gần đây hơn, khởi sự từ năm 1979, chánh
quyền Việt Nam đă cho thiết lập một
chương tŕnh nghiên cứu quy mô về vùng Đồng
Nai Cửu Long. Năm 1981 một hội nghị về
đồng bằng sông Cửu Long đă được
tổ chức ở Sài G̣n. Kết quả của các công
tŕnh nghiên cứu đă được tŕnh bày trong hội
nghị này và được in thành sách năm 1982 với
nhan đề "Một Số Vấn Đề Khoa
Học Xă Hội Về Đồng Bằng Sông Cửu
Long."Tiếp theo đó, năm 1984 quyển "Mấy
Đặc Điểm Văn Hóa Đồng Bằng Sông Cửu
Long" được xuất bản ghi dấu công tŕnh
nghiên cứu quy mô này. Mấy năm sau, nhân kỷ niệm
300 năm thành lập thành phố Sài G̣n, bộ sách 4
quyển "Địa Chí Văn Hóa Thành Phố Hồ Chí
Minh."(với trên 2,000 trang giấy khổ lớn) ra
đời. Nhiều tài liệu, dữ kiện về
khảo cổ, và lịch sử văn hóa xă hội có giá
trị khoa học về vùng Đồng Nai Cửu Long có
thể t́m thấy trong đó. Tuy nhiên v́ chủ trương
của chính quyền là đặt nặng vấn
đề tuyên truyền cho chủ nghĩa xă hội nên có
một số những bài viết trong đó phải
lấy chủ nghĩa xă hội làm triết lư căn
bản, và phải hướng vào mục đích xây
dựng chủ nghĩa xă hội hơn là nhằm mục
đích khoa học nên phần giải thích các sự
kiện cũng như phần kết luận các bài
viết này thường thiếu vô tư và lúc nào cũng có
những từ ngữ "xă hội chủ nghĩa",
"Đảng" và "Nhà nước" chen vào.
Ở đây chúng tôi chỉ
làm công việc t́m hiểu một cách khách quan, khoa học
chớ không phải làm b́nh luận văn chương
(literary essay), để bênh vực, hay biện minh cho
một chủ thuyết nào. Chúng tôi sưu tầm, nghiên
cứu để có những hiểu biết trung thực
về các h́nh thức sinh hoạt của những
người đến định cư ở vùng
đất mới ở Nam Việt Nam quen gọi là
đất Nam Kỳ Lục Tĩnh (hay Đồng Nai
Củu Long). Những câu hỏi chính mà chúng tôi đặt ra
ở đây để hướng dẫn công cuộc
nghiên cứu này là: (1) Nam Kỳ Lục Tỉnh thành h́nh ra
sao, vào lúc nào? (2) Những người Nam Kỳ Lục
Tỉnh này là những ai, thuộc hạng người nào,
và từ đâu đến? (3) Họ sinh sống thế nào
nơi vùng đất mới này? (4) Họ mang theo với
họ di sản văn hóa ǵ? Họ phải va chạm, thích
nghi với những văn hóa khác đă có từ
trước trên vùng đất này như thế nào? Và
kết quả của những va chạm, pha trộn, thích
nghi đó là những ǵ?
Công việc nghiên cứu
ở đây đáng lư phải tựa trên cách thức
thường dùng trong các khoa học xă hội, nhất là
khoa văn hóa nhân loại học (social cultural anthropology), mà
quan trọng nhất là quan sát tại chỗ (field work).
Nhưng v́ vấn đề có tính cách lịch sử
nhiều hơn và v́ hoàn cảnh không cho phép thực hiện
ngay trên khu vực nghiên cứu thành ra chúng tôi chỉ có
thể tựa trên những tài liệu và dữ kiện
đă có hoặc sự ghi nhớ của những
người từng sống ở vùng này. Mục đích
của việc nghiên cứu này là nhằm t́m hiểu và
giải thích sự việc nhiều hơn là dùng kết
quả nghiên cứu để thiết lập đề án
xây dựng hay cải tiến xă hội/văn hóa theo
một đường hướng định
trước nào. Đối tượng nghiên cứu là
văn hóa xă hội vùng Đồng Nai Cửu Long, tức là
những sinh hoạt của con người ở vùng đất
này trong ṿng mấy thế kỷ nay, trong những lănh
vực quan trọng như xă hội (bao gồm kinh tế),
tín ngưởng, ngôn ngữ, nghệ thuật, v v. . .
Với mục đích và tinh thần khoa học đă nói,
chúng tôi xin bắt đầu đi vào những chi tiết
trả lời cho những câu hỏi vừa
được đặt ra ở trên.
NAM KỲ LỤC TỈNH THÀNH
H̀NH RA SAO VÀ VÀO LÚC NÀO?
Khi Nguyễn Hoàng
được cử vào cai quản Thuận Hóa (1558) th́
đất đai của nước Việt về phía Nam
chỉ có đến Phú Yên. Từ đó đến B́nh
Thuận c̣n là lănh thổ của Chiêm Thành hay Champa. Nhưng
từ lúc xứ Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam)
của Chúa Nguyễn bắt đầu thành h́nh th́ cũng
là lúc Chiêm Thành khởi sự suy yếu dần. Xứ
Đàng Trong càng lớn mạnh lên bao nhiêu th́ xứ Chiêm
Thành càng yếu đi và càng nhỏ lại bấy nhiêu. Cho
đến cuối thế kỷ thứ XVII th́ nước
Chiêm Thành kể như không c̣n nữa và dân tộc Chăm
trở thành người dân thiểu số trong cộng
đồng người Việt. Biên giới phía Nam của
nước Việt bấy giờ là vùng B́nh Thuận, và
nước láng giềng về phía này của Việt Nam là
nước Chân Lạp (tức Kampuchea hay Cao Miên) của người
Khờ Me (tức người Miên như người trong
Nam thường gọi). Vùng Đồng Nai Cửu Long lúc
này thuộc về Chân Lạp.
Thật ra đất
Đồng Nai Cửu Long chỉ có thuộc về Chân
Lạp trên danh nghĩa thôi, trong thực tế người
dân Khờ Me không có mặt nhiều trên phần đất
này. Người dân Khờ Me chỉ sinh sống ở
một vài nơi thưa thớt, rải rác trên vùng
đất cao, hoang vu mênh mông ở vùng Hậu Giang của
đồng bằng sông Cửu Long. Ở vùng Đồng
Nai th́ có các bộ lạc người Mạ và người
Xtiêng sinh sống, cũng rải rác, cũng thưa thớt
trong vùng đất mênh mông hoang vu vậy. Triều đ́nh
Chân Lạp chưa có thiết lập các cơ quan hành chánh
cai trị hay những đồn binh quân sự trấn
đống để bảo vệ đất đai và dân
chúng của họ trên vùng đất này. Chợ búa, thành
thị cũng không có ǵ cả. Theo Huỳnh Văn Lang th́:
"Cuối thế kỷ 17, các nhà truyền giáo và
thương nhân Bồ-đào-nha ước lượng
nước Chân-lạp lúc đó với một diện tích
bằng Kampuchea, Nam-phần và phần Hạ-Lào hiện
giờ mà chỉ có một dân số chưa đến 700
ngàn, đang khi đó th́ địa phận Đàng-trong ,
tức là thuộc địa của chúa Nguyễn, diện
tích chỉ bằng¼ Chân-lạp mà dân số đă trên 100
vạn hay là 1,000,000 người. Gần 250 năm sau,
tức là năm 1836-37 khi vua Minh-mạng cho lệnh tổng
kê dân đinh nước Chân-lạp, vừa bị sáp
nhập vào địa đồ hay lănh thổ V.N. thành
Trấn-Tây, th́ chỉ có 970,516 người, đang khi
đó th́ ruộng đất lên đến 4,036,892 mẫu.
(Tài liệu: Minh-mạng chính yếu)" (Chuyện
đường rừng, tr. 21-22). Đối với
người dân Việt, những đất đai mênh mông
hoang vu ở đây là đất vô chủ, không ai
để ư tới, không ai ḍm ngó, kiểm soát. Vả
lại ranh giới giữa hai nước (Việt - Chân
Lạp) không có ǵ rơ ràng, ranh giới giữa các sắc
tộc sinh sống rải rác trên vùng đất này (xem
như vùng trái độn) lại càng mơ hồ, co
giản, biến thiên hơn. (Xem bài "Les données historiques
de la limite territoriale au tracé frontalier" của Michel Blanchard
trong Ḍng Việt số 17, tr. 109-137). Trong t́nh huống
đó, và với bản năng sinh tồn mạnh mẽ,
với máu mạo hiểm, nông nẩy làm việc để
sinh sống, người Việt không ngần ngại ǵ mà
không vào vùng đất hoang vu mới mẻ này để phá
rừng, dọn đất, trồng trọt, mưu sinh,
lập nghiệp. Mô Xoài là nơi mà người Việt
đă đến khai phá, định cư sớm nhất.
Mô Xoài tức là Bà Rịa bây giờ. Các sách Gia Định
Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và Đại Nam
Nhất Thống Chí triều Nguyễn cho rằng xứ Mô
Xoài là vùng địa đầu của Biên Trấn, tức
là vùng người lưu dân Việt đầu tiên
đặt chân vào để khai phá mở mang Miền Nam
nước Việt.
Đây chỉ là những
bước đầu lẻ tẻ, chập chững
của những người đi tiên phong trong công cuộc
mạo hiểm vào vùng đất mới lạ. Phải
đợi một cơ hội thuận tiện nào đó
để việc mở rộng về phương Nam
trở thành phong trào mạnh mẻ, có tính cách quy mô hơn.
Cơ hội đó là sự cầu thân của vua Chân
Lạp Chey Chetta II với Chúa Nguyễn Phúc Nguyên vào năm
1620. Sử Khờ Me ghi là sau khi lên ngôi vua Chey Chetta II cho xây
cung điện nguy nga tại Oudong rồi cử hành lễ
cưới long trọng với một nàng công chúa xinh
đẹp của Việt Nam. Hoàng hậu Sam Đát
(tức công chúa Ngọc Vạn) có đem nhiều
đồng hương sang Chân Lạp. Có người làm
quan trong triều, có người làm thủ công, có
người buôn bán, vận chuyển hàng hóa. Theo hồi kư
của giáo sĩ Chistofo Borri, một người Ư đă sống
gần Qui Nhơn từ 1618 đến 1622, th́ chúa
Nguyễn đă viện trợ cho vua Chân Lạp cả tàu
thuyền lẫn binh lính để chống lại quân Xiêm.
Borri cũng tả rơ phái đoàn quan quân Việt Nam
đưa công chúa Ngọc Vạn về Oudong như
sau:" Sứ bộ gồm khá đông người, cả
quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên
những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và
bày trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh Oudong, th́
dân chúng Khờ Me, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật
Bản, Trung Hoa đă tụ hội đông đảo
để đón tiếp và hoan nghênh."
Về phương diện
xă hội, việc công chúa Ngọc Vạn theo chồng
về Miên có thể được xem như là một
sự mở đầu cho những bành trướng lănh
thổ quy mô về phương Nam của dân tộc
Việt. Theo chân Ngọc Vạn công chúa lưu dân
người Việt càng ngày càng vào Nam lập nghiệp
nhiều hơn. Với chính sách khuyến khích khéo léo
của chính quyền, làn sóng vào Nam càng lúc càng bành
trướng mạnh mẽ. Về phương diện
chính trị ngoại giao, cuộc hôn nhân của công chúa
Ngọc Vạn với vua Chey Chetta II là bước mở
đầu cho mối liên hệ ngoại giao giữa hai dân
tộc Việt-Khờ Me, một mở đầu hết
sức quan trọng đối với triều Nguyễn và
người dân Đàng Trong. Từ đây trở đi
trước mắt người Đàng Trong mở ra
một vùng đất mênh mông hoang vu để khai khẩn
để biến thành kho lương thực và tài sản
vô tận cho người dân và quốc gia. Cũng từ
đây triều Nguyễn luôn luôn sẵn sàng để
hoặc giúp đỡ/viện trợ, hoặc can thiệp
vào nội t́nh Chân Lạp với những kết quả vô
cùng thuận lợi cho người Việt. Cứ mỗi
lần quân chúa Nguyễn tiến lên xứ Miên làm một
công ơn ǵ đó đối với Chân Lạp là mỗi
lần triều đ́nh Chúa Nguyễn được
đền đáp bằng một số đất đai
để hợp thức hóa những nơi lưu dân
người Việt đă từng vào khai phá. Những
sự kiện lịch sử sau đây đánh dấu
những bước tiến trong quá tŕnh hoàn thành vùng
đất Nam Kỳ Lục Tỉnh theo lối "dân
đi trước chính quyền đến sau":
Những giai đoạn Nam
tiến kể từ năm 939
"Hai năm sau khi
Ngọc Vạn trở thành hoàng hậu Chân Lạp, năm
1623, chúa Nguyễn sai phái bộ tới Oudong yêu cầu vua
Chey Chetta II cho chúa Nguyễn lập hai đồn thu thuế
tại Prei Nokor (Sài G̣n) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng
qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân
Việt Nam đi Chân Lạp. Từ khi có các đồn thu
thuế của chúa Nguyễn, vùng này đă trở nên vùng
thị tứ trên bến dưới thuyền rất là
sầm uất.
"Năm 1658 triều
đ́nh Chân Lạp có nội biến, thái hậu Ngọc
Vạn đă khẩn cầu Chúa Nguyễn là Hiền
Vương Nguyễn Phúc Tần giúp quân đánh dẹp
Nặc Ông Chân dành lại ngôi báu cho ḍng họ Prea Outey. Chúa
Hiền, cháu kêu thái hậu Ngọc Vạn bằng cô
ruột, cho quan Khâm Mạng Trấn Biên dinh Phú Yên là Tôn
Thất Yến đem 3,000 quân qua giúp bắt
được Nặc Ông Chân giải về Quảng B́nh.
"Người Cao Miên khâm phục oai đức của
triều đ́nh đem nhượng hết cả
đất ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh
trở chuyện ǵ." (Gia Định Thông Chí, trung, tr.7).
Đất ấy đây là
vùng Mô Xoài, chính thức thuộc lănh thổ Việt Nam
từ đó.
"Sang năm 1674 Nặc
Ông Đài lại liên kết với Xiêm La chống
Đại Việt. Chúa Nguyễn là Hiền Vương
cử cai cơ Nguyễn Dương Lâm đem quân đánh
chiếm Sài G̣n và tiến lên Nam Vang. Chúa Nguyễn làm chủ
t́nh thế cả vùng Đồng Nai.
" Năm 1679 trấn
thủ Quảng Đông là Dương Ngạn Địch
cùng với phó tổng binh Hoàng Tiến, và tổng binh các
châu Cao, Lôi, Liêm là Trần Thượng Xuyên cùng phó tổng
binh Trần An B́nh đem 3000 quân Trung Hoa (nhà Minh) với 50
chiến thuyền trốn quân Thanh chạy sang Việt Nam
xin làm thần dân của Chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc
Tần dung nạp họ và cho người hướng
dẫn họ đến vùng đất mới trong Nam
để định cư sinh sống. Nơi đây
đă có một số người lưu dân Việt khai
phá. Dương Ngạn Địch vào Mỹ Tho, Trần
Thượng Xuyên vào Biên Ḥa khai khẩn đất đai,
thiết lập phố xá bán buôn., phát triển nông
nghiệp và thương nghiệp cùng với người
lưu dân Việt ở hai nơi này. Cùng lúc đó ở Cà
Mau, một cựu thần khác của nhà Minh là Mạc
Cửu cũng trốn quân Thanh sang đây khai khẩn
lập nghiệp.
"Năm 1698 Minh
Vương Nguyễn Phúc Chu cử thống suất
Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân
Lạp. Năm 1699, Nguyễn Hữu Cảnh đem binh lên
tận Nam Vang để can thiệp và trở về vào
khoảng tháng Tư năm sau. Trên đường về
ông cho quân sĩ theo ḍng Tiền Giang, trú đóng tại Cái
Sao (vùng chợ Thủ của Long Xuyên). Một số quân
sĩ bị phát bịnh dịch và chính ông cũng bị
nhiễm bịnh và mất hai ngày sau khi quân ông rút khỏi
vùng này. Một số binh sĩ hoặc bị bịnh
hoặc t́nh nguyện ở lại vùng Cái Sao khai khẩn
đất đai sinh sống trước khi vùng này
được vua Cao Miên nhường cho Chúa Nguyễn.
Họ được gọi là người dân Hai
Huyện, trực thuộc phủ Gia Định từ xưa.
(Xem Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam của Sơn
Nam, tr. 23).
" Năm 1705, Nguyễn Cửu Vân hành quân sang Cao Miên
đánh quân Xiêm, trên đường về trú quân ở
Vũng Gù (nay là Tân An), khai khẩn đất hoang, cho
lập đồn binh và cho đào kinh cho rạch Vũng Gù
ăn thông sang rạch Mỹ Tho, nối liền sông Vàm
Cỏ Tây qua Tiền Giang.
" Năm 1708 Mạc
Cửu dâng cả vùng mới khai khẩn ở Cà Mau xin hàng
phục Chúa Nguyễn. Vùng này gồm các ấp vừa
lập từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt,
Rạch Giá đến Cà Mau. Hà Tiên trở thành một
thương cảng quan trọng trong vùng. Chúa Nguyễn Phúc
Chu phong cho Mạc Cửu làm tổng binh, giữ đất
Hà Tiên.
"Năm 1732 lưu dân
người Việt bị quân Miên tấn công. Chúa
Nguyễn là Ninh Vương cử Trương Phúc Vĩnh
đem quân vào dẹp yên. Vua Chân Lạp là Nặc Tha
nhường Me Sa (Mỹ Tho) và Long Hồ cho Chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn lấy đất Long Hồ lập thành châu
Định Viễn (Vĩnh Long) và đặt dinh Long
Hồ.
"Năm 1753 Nguyễn
Cư Trinh đem quân sang đánh Chân Lạp. Vua Chân Lạp
là Nặc Nguyên thua trận bèn dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi
Lạp (G̣ Công và Tân An) để cầu ḥa. Bốn năm sau
Nặc Nguyên mất, Chân Lạp có nội biến. Chúa
Nguyễn cử Mạc Thiên Tứ đưa em họ
của Nặc Nguyên là Nặc Tôn lên ngôi. Nặc Tôn dâng
đất Tầm Phong Long (gồm An Giang và một phần
Vĩnh Long) để tạ ơn Chúa Nguyễn và năm
phủ ở vùng Hà Tiên cho Mạc Thiên Tứ. Năm phủ
này được sát nhập vào trấn Hà Tiên.
Đến đây kể
như vùng Đồng Nai Cửu Long đă trọn vẹn
thuộc về Việt Nam, và thuộc về Đàng Trong
của Chúa Nguyễn. Từ đầu thế kỷ XVII
đến giữa thế kỷ XVIII người Việt
Nam mất 150 năm để tiến vào và mở mang vùng
đất hoang vu mới mẻ này.
Đồng Nai - Cửu Long
thời Phủ Gia Định
Ai là những người
có công trong việc h́nh thành và xây dựng nên kho lúa và
những tài nguyên to tát này cho người dân Việt?
NGƯỜI
DÂN ĐỒNG NAI CỬU LONG BUỔI BAN ĐẦU LÀ
NHỮNG AI? HỌ TỪ ĐÂU ĐẾN?
Trước khi
người Việt đến vùng Đồng Nai khai
khẩn th́ nơi đây c̣n là cả một vùng "toàn
rừng rậm mấy ngh́n dặm" theo Phủ Biên
Tạp Lục của Lê Quư Đôn. Vùng rừng rậm hoang
vu này là vùng cư trú của nhiều nhóm dân tộc thiểu
số mà người Việt gọi chung là người
"Man" theo tiếng Hán Việt hay nôm na là người
"Mọi." Đó là các dân tộc thiểu số
người Mạ, người Xtiêng, người Mnông,
Người Cơho, người Churu, v v . . .Trong các nhóm này
quan trọng hơn hết là người Mạ ở vùng
Mô Xoài Bà Rịa, người Xtiêng ở vùng Biên Ḥa, B́nh
Dương và người Khờ Me ở Tây Ninh. Dân
tộc Mạ hay Châu Mạ (Châu theo tiếng Mạ có
nghĩa là người) nói tiếng nói thuộc nhóm Môn -
Khờ Me. Địa bàn sinh sống của Châu Mạ ngày
xưa là cả vùng Đồng Nai xuống đến
Mỹ Tho (theo B́nh Nguyên Lộc). 'Tuy phải triều
cống Cao Miên, Mạ vẫn là một tiểu quốc
tự do. Tiểu vương Chê Mạ cai trị khắp
vùng Tây Nam trên lưu vực sông La Ngà và, về mạn
Bắc, trên cao nguyên Di Linh và Lâm Đồng nay." (B.
Bourotte. Essai d'histoire des populations montagnardes du Sud - Indochinois
jusqu'à 1945. BSEI, Saigon, 1955, tr. 31). Dân tộc Mạ mà người
Việt thường gọi là Mọi Bà Rịa, thạo
nghề dệt vải có hoa văn đẹp, ở nhà sàn
dài, có tục cà răng và xâu lỗ tai lớn. Họ
rất hiền ḥa, thường bị người Xtiêng và
người Miên bắt đem bán làm nô lệ ở các
nơi. Tệ nạn này chấm dứt khi người
Việt đến cai trị, nhưng lúc đầu v́ c̣n
cần nhiều nhân công nên nạn măi nô (thật ra là
người làm, đầy tớ hơn là nô lệ) c̣n
tồn tại một thời gian như đă ghi trong
Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn:
"Từ các cửa
biển như Cần Giờ, Soài Rạp . . . đi vào toàn
là những đám rừng hoang vu đầy cỏ rậm,
mỗi đám rừng có thể rộng hơn ngh́n dặm.
. . Nhà Nguyễn cho dân được tự nhiên chiếm
đất. . . Lại cho họ thâu nhận những
người Mọi từ trên đầu nguồn xuống
để mua làm đầy tớ, đứa ở, sai
khiến, hầu hạ. . ." (Về chế độ
măi nô này xin xem thêm bài của B́nh Nguyên Lộc trong Ḍng
Việt, số 17, tr. 210-221). Dân tộc Mạ hiện có
khoảng 20,000 người cư ngụ ở vùng cực
Nam Tây Nguyên, phía Nam tỉnh Lâm Đồng, và một số
ở Đắc Lắc.
Người Xtiêng cư trú
trong vùng các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương, Biên Ḥa. Tiếng
nói của họ có nhiều nét gần gũi với
tiếng Mnông, Cơho, Mạ, nằm trong nhóm Môn - Khờ
Me. Họ để tóc dài, búi đằng sau gáy, đeo bông
tai bằng cây hay bằng ngà, xăm mặt, xăm ḿnh,
đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Địa chí
Thủ Dầu Một ấn hành năm 1910 gọi dân
tộc Xtiêng là Mọi hoang, Mọi Cà Răng, Mọi
Việt hay Mọi Đồng Nai. Dân tộc Xtiêng hiện
nay có khoảng 40,000 người quần tụ vùng biên
giới Tây Nam, ở các tỉnh Tây Ninh, B́nh Dương,
Đồng Nai.
Người Khờ Me
(người Miên) có mặt rất ít ở vùng Tây Ninh.
Họ rút đi về phía Tây của Tây Ninh, về vùng biên
giới Miên Việt khi người Việt vào khai phá vùng
Đồng Nai. Ở Hậu Giang, vùng Trà Vinh - Sóc Trăng có
nhiều người Miên hơn ở Miền Đông Nam
Phần. Những sóc người Miên này sống cách
biệt với triều đ́nh Kampuchea. Khi người
Việt vào khai khẩn vùng Hậu Giang th́ người
Việt và người Miên cùng cộng cư, và sau này khi
toàn cơi Nam Việt thuộc về Chúa Nguyễn th́ những
người Miên này trở thành người dân thiểu
số trong cộng đồng người Việt.
Vùng Đồng Nai, vùng
cư trú của hai sắc dân Xtiêng và Mạ là vùng
đệm giữa hai nước Chiêm Thành và Chân Lạp.
Vào đầu thế kỷ XVII, đất đai vùng này
quá rộng mà người th́ quá ít cho nên dân cư quá thưa
thớt, và phần lớn đất đai là rừng rú hoang
vu đầy muôn thú. Khi người Việt bắt
đầu vào khai khẩn đất hoang vùng này th́
người Mạ, người Xtiêng và một ít
người Khờ Me (ở phí Tây Tây Ninh) từ từ rút
lui dần về vùng đất cao ở phí Bắc và phía
Tây, nhường đất thấp ở phía Nam cho
người lưu dân mới đến khai phá.
Người Việt thành thạo hơn trong việc khai
khẩn đất đai, trồng lúa nước ở
đất thấp (gọi là thảo điền), trong khi
người sắc tộc thiểu số th́ thành thạo
trong việc săn bắn và làm rẫy trên các ruộng cao
hay giồng (sơn điền). Đất rộng mênh mông
hoang vu, và lại là đất thấp không mấy thích
hợp với thổ dân, là hai điều kiện vô cùng
thuận lợi cho người lưu dân Việt vào vùng
Đồng Nai khai hoang sinh sống mà không gặp một
sự chống đối nào.
Số ít người
Việt đầu tiên vào đây khai phá không biết là ai,
không biết họ bắt đầu vào làm công việc
đó từ lúc nào, không có một ghi chép nào để lại
tên họ gốc gác của những người đó. Theo
các sách sử sau này th́ chắc chắn họ đă vào vùng
Đồng Nai khai khẩn sinh sống rất sớm, ngay
từ lúc Nguyễn Hoàng vừa vào trấn thủ Thuận
Hóa. Trịnh Hoài Đức cho là từ đời các
"tiên hoàng đế" tức là từ thời các chúa
Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phước Nguyên. Theo Huỳnh
Văn Lang th́ c̣n có thể trước đó nữa:
"Không phải đợi đến năm 1620 hay 21
người Việt mới vào khai hoang lập ấp ở
vùng Mỗi-xuy Bà Rịa. Họ đă tự động
đi ṿng bờ biển Chiêm Thành vào đó khai hoang lập
ấp có thể trước đó ba bốn thập
niên." (HVL, Công Chúa Sứ Giả, tr.243) .
Những người
đầu tiên vào đây là những người tự
nguyện chứ không phải là những người
được chính quyền đưa đến hay bị
lưu đày. Lúc này chính quyền chưa chính thức áp
dụng biện pháp di dân vào Nam được. Lưu dân
lúc này có thể là những người nghèo khổ,
những kẻ bị áp bức, những người
chạy trốn chiến tranh loạn lạc, những
người không sống được trong xă hội
đương thời, phải mạo hiểm t́m
đường sinh sống ở vùng đất mới.
Họ có thể đến từ Miền Bắc hay
Miền Trung. Nhưng phần đông chắc là người
Miền Trung, người Đàng Trong nhiều hơn,
nhất là những người vùng Thuận Quảng. Sau
đợt t́nh nguyện đầu tiên, nhất là sau
sự kiện Ngọc Vạn công chúa, chúa Nguyễn bắt
đầu áp dụng chính sách đưa dân quân vào Nam
mỗi ngày một triệt để hơn. Trong quyển
"Việt Nam, hành tŕnh một dân tộc" Philippe Papin
nhận xét:
"Cuộc tranh chấp
giữa hai phủ chúa thù nghịch đóng kín ranh giới,
cho nên cuộc "Nam tiến" trở thành một
hiện tượng của riêng lănh địa nhà Nguyễn
; nước Việt Nam "mới" c̣n đi xa hơn
nữa, nhưng từ nay là người miền Trung
sẽ tiến vào miền Nam bao la của nước
Việt, bắt đầu được khai thác đúng
vào lúc nước Việt đứt đoạn. . . .Mong
muốn kiểm soát một không gian ngày càng rộng lớn,
các chúa Nguyễn bèn áp dụng một chính sách cư dân
triệt để: các viên chức được lệnh
tập hợp tất cả những người vô gia
cư, tất cả những ai không có tên trong sổ bộ
làng xă, đưa vào các tỉnh miền Nam mới chiếm
được của Kampuchea. . ."(Nguyễn Khánh Long
dịch, đăng trong Ḍng Việt, số 17, tr. 76-77). Giáo
sư Nguyễn Đăng Thục ghi lại lời
của Jules Sion trong "L'Asie des Moussons" về cuộc
bành trướng của dân Việt về phương Nam
như sau:
"Cuộc bành
trướng của dân Việt là một sự
đồng hóa thật sự. Tính chất đó giải
thích v́ sao người Việt bành trướng chậm
nhưng rất chắc chắn. Cao Miên và Lào quốc
đánh nhau chỉ đem quân cướp lấy tù binh
đem về làm nô lệ, lại có một giai cấp quí
tộc thống trị cho nên có cướp được
đất cũng để mất ngay.
Mục đích của
người Việt lại khác. Họ không cần bắt
nô lệ, họ làm lấy. Đối với họ
thắng trận không phải là để có người
làm, mà là để có đất cày.
Nhiều khi chiến tranh
chỉ là để xác nhận một t́nh thế đă
rồi. Dân Việt bành trướng một cách ôn ḥa, sinh
cơ lập nghiệp rồi sau binh lính mới tới.
Trước khi Việt Nam sáp nhập đất Nam kỳ
về ḿnh, người Việt đă lập ở đây
những tổ chức, những đám di dân đă xây
dựng làng xóm hay là tới ở chung với người
Mên, rồi lần lần nắm quyền chính.
Cuộc bành trướng
thực hành bằng cách đưa đến những
đám người liên tiếp, đủ các hạng: dân
cày không có ruộng, tù tội, kẻ chống đối
chế độ hay là quân cướp muốn chuộc
tội. Cũng có khi chính phủ thu thập những
người đó rồi đưa xuống những
miền mới chiếm lănh, hay là lập đồn
điền nơi biên thùy để pḥng bị lân bang
tới đánh. Những người ấy có quan lại
cai trị và họ lập thành làng mạc." (Ḍng
Việt, số 17, tr.68-69).
[Michel Blanchard trong bài
"Les données historiques: De la limite territoriale au tracé
frontalier" viết:
"Le delta du Mekong fut
colonisé progressivement par les Vietnamiens, qui avancèrent peu à peu dans ces
espaces peu peuplés, appliquant déjà la fameuse théorie de la "peau de
léopard". Les colons vietnamiens, encouragés par le pouvoir central et
notamment la dynastie des seigneurs Nguyễn établie à Huế à partir
de la duxième decennie du 17è siècle, occupaient les espaces vides entre les
comptoirs khmers, souvent tenus par les Chinois d'origine. Une partie des
territoires fut également obtenue par la guerre, comme dédommagement après
chaque victoire sur le Siam, le grand ennemy et concurrent.
La colonisation encouragée par
Huế portait notamment sur le déplacement des "individus ne jouant
aucun rôle social", le petit peuple sans emploi. Le but avoué est de
mettre en valeur le sol, résister à l'ennemi, et assimiler ou refouler les
autochtones. " (Ḍng Việt, số 17, tr. 109-110).]
Ngoài những người
dân Việt từ vùng Thuận Quảng đến c̣n có
người Trung Hoa vùng Quảng Đông - Quảng Tây,
trốn chạy nhà Thanh, sang đây định cư
lập nghiệp. Thành phần cư dân này rất quan
trọng v́ họ giúp phát triển mạnh về
thương mại và công nghiệp, nhất là thương
mại.
Trong số quân binh nhà
Nguyễn đi chinh chiến ở Miền Nam hay trên Cao Miên
cũng có nhiều người t́nh nguyện hay
được chính quyền cho ở lại định
cư, làm ăn với dân chúng. [Dẫn lời bà Langlet,
Michel Blanchard ghi:
"Pour la colonisation des
terres du Sud, la cour de Hue utilisa notamment, selon Mme Langlet, les
implantations des "colonies militaires", qui passaient
progressivement au stade civil, composés des soldats-paysans et des condamnés.
Des facilités étaient accordés aux colons volontaires, notamment des exemptions
d'impôts. La securité était établie par des postes militaires." (Ḍng
Việt, số 17, tr.114)]
Nói chung th́ phần đông
người lưu dân là người Miền Trung thuộc
đủ các thành phần xă hội cùng một số
đáng kể người Trung Hoa. Họ là những
người có công lớn lao trong việc bành trướng
lănh thổ, mở mang bờ cơi Việt Nam về
phương Nam, biến vùng rừng rú hoang vu đầy
muôn thú thành vùng đất đai ph́ nhiêu màu mỡ nuôi
sống và làm giàu cho cả nước.
ĐỜI
SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG NAI CỬU LONG
a)
Đời sống vật chất, xă hội, kinh tế
Phần đông
người dân ở vùng Đồng Nai Cửu Long sống
ở nông thôn, sống với ruộng nương hay
vườn tượt. Họ sống giữa những biển
lúa mênh mông, với đủ thứ loại từ "lúa
ma" hay "lúa trời", đến "lúa
sạ" và "lúa nước". Lúa ma hay lúa trời là
loại lúa mọc tự nhiên không do người ta
trồng, thường chỉ có ở vùng Đồng Tháp
Mười. Lúa sạ là loại lúa lên cao theo mực
nước, và không phải cấy, loại này chỉ có
ở vùng nước nổi ở Châu Đốc, Long Xuyên.
Lúa nước là lúa cần có cày cấy ở phần
lớn các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Phần.
Cũng có loại ruộng không phải cày gọi là
ruộng chầm. Trong quyển "Trấn Tây Kư
Lục", Doăn Uẩn mô tả việc làm ruộng
chầm ở miền Nam như sau: "Việc làm
ruộng lúa đơn giản, phát cho lau sậy ngă rạp,
cào cỏ hai ba lần rồi cấy, không cần phí sức
nhiều. Như đă cấy rồi th́ không cần
phải trông nom tới, cũng khỏi lo thiếu
nước." (Sơn Nam trích dẫn trong Đồng
Bằng Sông Cửu Long, tr.46). Nguyên cả chu kỳ làm
ruộng là bắt đầu phát cỏ, cày, bừa,
trục, gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ,
gặt lúa, đập lúa, giê lúa, phơi lúa và đem vào
bồ, hay lẫm (kho) để chứa. Chu kỳ
để biến lúa thành gạo để nấu cơm
ăn th́ bao gồm các công việc: xay lúa, quạt lúa,
giả gạo, sàn gạo. Tất cả các hoạt
động trên đây đều do những người
nhà quê từ hạng trung nông trở xuống hạng làm
công, làm mướn, đảm trách cùng với vợ con
họ. Các công việc này đều phải dùng đến
những dụng cụ đặc biệt tạo nên
bởi một kỹ thuật c̣n thô sơ nhưng thực
dụng, có cái đă có ở miền Bắc và miền Trung
nhưng cũng có cái chỉ mới có ở miền Nam (vay
mượn của người Chăm và Khờ Me). Phát
cỏ th́ dùng phảng, cày th́ dùng lưỡi cày, bừa và
trục th́ dùng máy bừa, máy trục. Đập lúa hay
đạp lúa th́ có hai cách: đập là do người ta
đập từng bó lúa vào một cái cộ có dừng
bồ chung quanh kéo đi theo người đập, c̣n
đạp lúa là cho trâu giẫm lên lúa để
trước sân nhà hay ở ngoài ruộng. Xay lúa th́ có
cối xay. Xay xong rồi phải quạt để tách
rời trấu ra khỏi gạo. Có thể dùng chiếu
để quạt trấu hoặc tốt hơn th́ dùng máy
quạt gió (xa gió). Giă gạo th́ dùng cối chày tay hay
cối chày đạp. Sàn gạo th́ dùng cái dừng sàn
gạo để tách rời cám ra khỏi gạo. Những
công việc trên đây bắt đầu mất dần khi
có các nhà máy xay lúa dựng lên ở các nơi . Ở trong Nam
người ta chỉ làm ruộng có một mùa, nhưng có
thể có lúa sớm hoặc lúa muộn. Hết mùa lúa th́
phải t́m công việc làm khác làm ăn sinh sống. Các
chủ điền thường chứa lúa trong bồ hay
trong lẫm, chờ gần đến mùa mới bán ra cho có
giá. Mua lúa thường là các chủ chành người Hoa. Lúa
đong bằng giạ (40 lít), cho vào bao bố tời, hai
hay ba giạ một bao. Ở những vùng đồng
ruộng (gọi là miệt đồng) thường có
những bờ đê trên đó người ta hay trồng
cây trâm bầu. Gần nhà có người trồng cây sua
đủa, hay cây g̣n, ngoài những cây dừa, cau hay
chuối.
Những người làm
vườn th́ có thể trồng các loại cây ăn trái
hay dừa khô. Vườn thường phải ở
gần sông rạch để có đất phù sa. Cây ăn
trái th́ chỉ có huê lợi theo mùa, như vú sửa, dưa
hấu, cam quưt th́ chỉ có vào mùa xuân, c̣n ḅn bon, lôm chôm,
măng cụt, sầu riêng, xoài, mít th́ có trái vào mùa hè.
Chỉ riêng vườn dừa khô th́ có trái quanh năm,
nhưng có 6 tháng dừa mùa (nhiều trái), và 6 tháng dừa
treo (ít trái), tháng nào cũng có thu huê lợi vào
được. Muốn làm vườn dừa th́ phải
mướn người lên líp, biến ruộng thành
vườn. Người ta phải đào mương
lấy đất đấp lên líp. Cứ mỗi cái
mương th́ có một bờ vườn ở liền
cạnh nhau. Khi mới lên líp, đất c̣n phèn,
người ta phải bắt đầu trồng ḿ và
chuối trước, trong khi đó người ta
ươm dừa. Chờ cho đất rơ hết phèn và
dừa bắt đầu lên cây th́ người ta mới
trồng dừa và cau. Dừa th́ thường phải 5
năm mới có trái. Khi mới có trái th́ cây dừa c̣n
thấp nhưng vài chục năm sau th́ cây dừa lên
rất cao. Lâu hơn nữa th́ dừa lên thật cao và
trở thành dừa lăo. Muốn leo lên dừa hay cau
người nhà quê thường dùng cái “nài”. Ở những
nơi có vườn dừa thật lớn và thật
nhiều th́ người ta phải “giựt dừa”.
Thường trong một vườn dừa có hai ba
loại dừa cao thấp khác nhau cho nên người
giựt dừa phải có nhiều cán hay sào giựt dừa
với độ cao khác nhau, gọi là sào thấp – sào cao.
Sào giựt dừa là một cây tre dài có gắn lưỡi liềm
ở đằng đầu. Người giựt dừa
dùng lưỡi liềm đó để cắt đứt
cả quày dừa. Mỗi tháng giựt dừa một
lần. Khi giựt dừa th́ phải có người
lượm dừa, và gánh dừa. Nếu không gánh th́
phải lùa dừa theo các mương vườn hay các con
rạch nhỏ để đem dừa về sân nhà.
Dừa đây phần lớn hay hầu hết là “dừa
ta” (trái to, không ngọt nước), không phải để
ăn mà để bán làm dầu. Người ta chỉ
trồng một ít “dừa xiêm” (trái nhỏ, nước
ngọt) hay “dừa lửa” hoặc “dừa tân quang” ở
chung quanh nhà để ăn thôi. Dừa giựt xuống là
dừa khô, bán ra cho những người lái dừa,
thường là khách trú. Dừa mua xong là người ta
mướn người lột dừa. Người
lột dừa thường dùng cây nầm lưỡi
sắt, cậm sâu xuống đất, rồi lột
từng trái dừa một trên cây nầm đó. Lột xong
liệng vỏ dừa qua một bên và gáo dừa qua một
bên. Lái mua dừa chỉ chở gáo dừa mà thôi. Có khi nhà
vườn tự ḿnh cạy lấy ruột, phơi
hơi khô rồi chở đi bán. Muốn bán cái dừa
như vậy th́ sau khi lột dừa xong, người ta
phải đập (hay bổ làm đôi) gáo dừa.
Nước dừa có thể thắng làm nước màu,
không th́ bỏ. Gáo dừa đập ra rồi đem
phơi nắng. Khi nào cái dừa hơi khô th́ người
ta cạy ra, lấy cái dừa phơi tiếp cho khô hơn
chút nữa rồi đem bán. Miễng gáo, tức vỏ
cứng hay c̣n gọi là muỗng vùa, th́ dùng để nhóm
lửa lấy than đỏ.
Cá tôm càng về xưa càng
nhiều. Trên ruộng, trong sông rạch, trong các mương
vườn, các đ́a, các ao, ngoài biển, ở đâu
cũng có cá, tép, tôm, cua, ốc, rùa, cua đinh, lươn,
rắn. “Nhiều đ́a cá ở xa đường giao
thông, cá nổi đầu lên như mù u chín rụng,
nhưng chẳng ai khai thác, gặp năm cá sụt giá.”
(Sơn Nam, Đồng Bằng Sông Cửu Long, tr. 47). Cá linh
vào khoảng tháng 10 ta, hồi thập niên 1930 mỗi
giạ chỉ có không đầy ba cắc bạc. Nói
về cá linh, Nguyễn Hiến Lê ghi lại lời
người dân Đồng Tháp Mười như
sau:”Tại phía trong Hồng Ngự, nó lội đầy
rạch, chỉ việc lấy thùng thiếc mà xúc. Hồi
lúa rẻ, mỗi thùng chỉ bán có một cắc. Ăn
không hết, làm nước mắm và mắm cũng không
hết, có khi, người ta phải đổ đi,
hoặc dùng làm phân bón thuốc (thuốc lá).” (Nguyễn
Hiến Lê, Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười,
tr.78). Người nhà quê Nam Việt không thiếu đồ
ăn. Họ có nhiều cách bắt tôm cá. Câu, chỉa, nôm,
xúc, đăng, đó, đặt ṇ, đặt gió, chài,
lưới, vở chà, tát mươn, tát đ́a, bắt
cảng, bắt hôi, v v . . . Chặn mương, đắp
đ́a, bỏ chà ở bờ sông lớn, bỏ ốc
ở băi bùn bên cồn là những h́nh thức nuôi cá, tôm,
ốc mà không phải cho ăn. Mấm, nước mấm,
khô được sản xuất rất nhiều. Ai
cũng biết mấm lóc, mấm sặc, mấm trèn,
mấm cá linh, mấm thái, mấm c̣ng, mấm tôm. . .,
cũng như khô lóc, khô sặc, khô tra, khô cá gộc, khô cá
thiều. . . Nhà nào cũng có nuôi gà vịt, một số ít
có nuôi heo. Gà vịt nuôi để ăn nhiều hơn là
để bán. Ở làng quê thỉnh thoảng có chú
“chệch ” đi qua thổi c̣i quảng cáo “thiến heo”.
Nhà nào nuôi heo nái để sanh heo con th́ phải đi
rước “heo nọc” ở một nơi chuyên cho
mướn heo nọc. Heo lớn lên th́ bán cho một
người làm thịt heo trong làng. Anh này thường làm
heo, ra thịt, gánh đi bán trong xóm, trong thôn ấp. Hoặc
bán cho các lái heo người Hoa.
Ngoại trừ các
đại điền chủ hay điền chủ, c̣n
hầu hết đều phải làm lụng vất vả
mới có miếng ăn. Có thể gọi là cực khổ
nhưng dù sao th́ sự cực khổ ở đây cũng
không tệ hại như cuộc sống của những
người nghèo khổ ở Miền Trung hay Miền
Bắc. Nhất là ở đây không chết đói bao
giờ. “Nghèo tới mấy, suốt năm, họ cũng
được ăn cơm với cá hoặc mắm, chứ
không phải ăn khoai, ăn ngô (bắp) như ngoài
Bắc”. (Nguyễn Hiến Lê, Bảy Ngày Trong Đồng
Tháp Mười, tr.33). “Chủ điền trong này là
những ông vua nhỏ! Chánh Tham Biện vào nhà họ,
thấy những thứ rượu của họ, mà thèm!
Họ mua từng thùng để đăi khách quư. Cha kiếm
dễ, th́ con phải phá: trước hồi kinh tế
khủng hoảng, các công tử Bạc Liêu (miền này
hồi đó, mới phát, lúa chất cao như núi, tiền
nhiều như ốc). Muốn khoe giàu với gái
điếm, lấy giấy xăng (trăm) quấn
thuốc hút chơi! Quả thật là họ đă liệng
tiền qua cửa sổ.” ( Nguyễn Hiến Lê, sđd.,
tr. 91). Đó là trường hợp hiếm có của
những đại điền chủ c̣n phần đông
người dân quê th́ như Sơn Nam diễn tả sau
đây: “Đời sống thường nhật thuở
ấy chắc hơi giống những nét mà ông Việt Cúc
mô tả lại. . .”Hằng ngày sáng ra lót ḷng cơm với
muối mè, hoặc cháo, trưa và chiều hai bữa cơm
đạm bạc cá mắm canh rau, quần bô áo vải, no
bụng ấm thân th́ thôi. Người được
mạnh khỏe, ít hay ốm đau. Xóm thưa, dân số
ít, hai ba năm mới nghe cái đám ma. . . Nhà cửa
phần nhiều là nhà nghèo, cất bằng cây đốn
nơi rừng, lợp tranh lá. Thật là bực đại
phú mới làm nhà bằng cây điều mộc, nền xây
đá ong, vách ván, lợp ngói âm dương. Hai ba xóm mới
thấy bóng một nhà ngói đỏ lói, thiên hạ ghé
mắt trầm trồ khen. . . .””(Đồng Bằng Sông
Cửu Long hay Văn Minh Miệt Vườn, tr. 57-58).
Miền Tây Nam Phần là
vùng văn minh sông rạch. Đường sông,
đường biển là mạch máu của người
dân. Phương tiện di chuyển, giao thông quan trọng nhất
là ghe, xuồng. Xuồng ba lá, ghe tam bản, ghe lườn,
một số các nhà trong làng đều có sắm. Làng xóm
mọc lên từng cụm dọc theo bờ sông, con kinh, con
rạch. Làng này qua làng kia nối tiếp nhau, không có một
hàng rào ngăn cách nào. Ranh giới giữa hai làng chỉ có
người địa phương quen thuộc mới
phân biệt được. Đường đi trong làng
thường phải qua rất nhiều những cây
cầu, nhất là ở Miệt Vườn. Cầu
dừa, cầu cau, cầu tre bắt qua các mương
vườn, cầu đúc, cầu ván, cầu khỉ
bắt qua các con rạch lớn hơn. Mỗi làng
thường có cái chợ nằm bên bờ sông, mỗi ngày
đều có nhóm để người trong làng tới bán
buôn mua sắm. Chợ thường nằm bên con rạch và
mang tên con rạch đó, như chợ Rạch Gầm,
chợ Rạch Đ́nh, hoặc lấy tên làng như
chợ Vĩnh Kim, chợ ông Văn. Ở mỗi quận
có chợ quận như chợ Cái Bè, chợ Gạo,
chợ B́nh Đại, chợ Sóc Sải, v v . . . Ở
những nơi ghe thương hồ thường dừng
lại nghỉ đêm, ở những chỗ gọi là vàm
(như Vàm Kỳ Hôn, Vàm Cống), thường có những
chiếc xuồng bán đồ ăn (chè, cháo, bánh ú, bánh ít,
bánh tét, bánh dừa, khoai lang, xôi, bắp, v v . . .) của các
cô gái bán vàm.
Nghề thủ công ở
Miền Nam gồm một số những nghề truyền
thống đem từ Miền Bắc và Miền Trung vào và
một số những nghề mới. Nói chung nghề
thủ công ở đây mang sắc thái văn hóa đặc
trưng, h́nh thành và phát triển theo điều kiện
địa lư và môi trường sinh sống, và từ
thế kỷ 19 trở đi đă bước vào con
đường kinh tế sản xuất với những
xóm nghề hay làng nghề hay có khi cả khu vực như
nghề trầu rang và cau khô, nghề làm trống, nghề
đóng xe ḅ, nghề đóng ghe thuyền, nghề làm tàu
hủ ky, nghề nắn nồi đất, nghề làm
cần xé, v v. . . Trong “Niên Giám Đông Dương” phát hành
năm 1910, có ghi t́nh trạng nghề thủ công ở Nam
Việt như sau” Người bản xứ chế tác
một số ít kim hoàn, các vật dụng đan bằng
tre (thúng, mủng. . .), chiếu và các loại túi bàng.
Người Hoa h́nh như độc chiếm các nghề
sành sứ và gạch ngói. . . Họ quản lư hầu
hết các ḷ nung vôi, các xưởng nấu rượu và
xưởng cưa.”
Thương măi phát
triển mạnh, phần lớn là do người Hoa
nắm. Thương cảng Sài G̣n đă trù phú, phồn
thịnh từ thời Gia Long, và càng ngày càng phát triển mạnh
thêm. Năm 1822 một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn
đầu có đến yết kiến Tả Quân Lê Văn
Duyệt, Tổng Trấn Gia Định . Trong dịp này
Crawfurd thú nhận: “Đây là lần đầu tiên tôi
tới Saigun (Sài G̣n) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất
ngờ thấy rằng nó không thua ǵ kinh đô nước
Xiêm. Về nhiều mặt trông nó c̣n sầm uất hơn,
không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả
hợp lư hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn
nhiều kinh thành mà chúng tôi đă đi qua. Tôi có cảm giác
như đây là một vương quốc lư tưởng.”
Sau đó ông c̣n ghi lại trong quyển nhật kư của ông
về những sinh hoạt của thành phố Sài G̣n lúc
đó và tiếng tăm của Ngài Tổng trấn như
sau:
“Thành phố Saigun không xa
biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố Pingeh
(Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun độ 3
dặm. Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm.
Các thành tŕ nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây
buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây
được Tổng trấn cho nhập hộ tịch,
qua một hai đời đă trở thành người Gia
Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các
dân tộc nơi đây được nhà nước
bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như
nhau. Tất cả đều được sống trong
bầu không khí an lành. Trộm cướp không có.
Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn
rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn
phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng
ông lại rất tàn bạo với bọn cố t́nh không
chịu quy phục triều đ́nh. Chưa ở đâu
kỷ cương phép nước được tôn
trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra
đường ghẹo gái cũng bị cách chức
lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ
Tổng trấn biết được cũng bị
phạt rất nặng.
Ở đây chúng tôi mua
được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng
tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.
Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên
bán cho chúng tôi. Nh́n dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết
dân no đủ. Nhiều người rất kính trọng
vị Tổng trấn của họ.
Con người này ít
học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nh́n
cởi mở hơn nhiều những đại thần
và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của
Khổng giáo. Ngài sống thanh liêm, muốn mở mang
đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc
gia khác ở trong vùng biển Đông.”
Dưới thời Pháp
thuộc, Sài G̣n và nhiều thành phố khác như Cà Mau,
Cần Thơ, Mỹ Tho v v . . .ở Nam Kỳ
được phát triển thêm với nếp sống
văn minh mới. Lớp người theo tân học ở
thị thành càng ngày càng đông. Tỷ lệ người
dân thành thị tăng thêm nhiều. Những hạng
người mới trong xă hội thành h́nh, nhất là
những công tư chức. Những lớp người này
có đời sống tân tiến, gần với văn minh
Tây phương hơn người nhà quê. Tuy có những
đổi mới ở thành thị nhưng những
đổi mới này không làm thay đổi nếp sống
của người dân quê nơi ruộng vườn.
b)
Đời sống tâm linh: Tư tưởng, Tín
Ngưỡng, Tôn giáo.
Bao phủ bởi rừng
rậm hoang vu với nhiều thú dữ, với sơn lam
chướng khí, đe dọa bởi những hiểm nguy
không lường trước được, người
lưu dân trong cuộc mạo hiểm vào phương Nam lúc
nào cũng sống trong sự kính nể, lo sợ, nhưng
cũng mong mỏi được che chở bởi một
thế lực siêu linh huyền bí. Họ phải tin,
phải thờ cúng, nguyện cầu nhiều bậc
thần linh mà họ nghĩ ra được hay t́m ra
được trong tâm tư họ. Gần gũi với
họ nhất là ông bà tổ tiên, những vong linh của
những người thân trong gia đ́nh. Thờ ông bà,
tổ tiên là truyền thống tín ngưỡng/tôn giáo quan
trọng của họ. Đi đến đâu họ
cũng mang theo truyền thống tốt đẹp đó.
Phần đông đều tin rằng vong hồn của
người đă khuất vẫn c̣n sống ở một
thế giới siêu linh nào đó, và ông bà tổ tiên vẫn
linh hiển theo dơi cuộc sống của con cháu, giúp
đỡ hộ tŕ cho con cháu. Người ta cúng ông bà
để tỏ ḷng tôn kính, biết ơn, và cũng
để nguyện cầu cho gia đ́nh, con cháu
được b́nh yên, làm ăn phát đạt.
Kế đó là các thần
linh vốn là những người có thể là anh hùng có công
khai phá, bảo vệ, phát triển nơi vùng đất
người dân sinh sống. Các vị thần linh đó
được thờ phượng trong các đ́nh,
miễu ở trong làng xă, hay trong các lăng miếu chốn
đô hội thị thành. Anh hùng hay phúc thần cho cả
vùng th́ có Lăng Ông thờ Đức Tả Quân Lê Văn
Duyệt ở Bà Chiểu, Gia Định. Gần như
ở mỗi tỉnh đều có một vị anh hùng
được dân chúng thờ phụng trong tỉnh của
họ: Biên Ḥa có Nguyễn Hữu Cảnh, Long An có
Nguyễn Huỳnh Đức, Rạch Giá có Nguyễn Trung
Trực, An Giang có Thoại Ngọc Hầu, Mỹ Tho có
Nguyễn Hữu Huân, G̣ Công có Trương Công Định,
v v . . . Mỗi
làng, mỗi xă thường có đ́nh làng để thờ
thành hoàng. Nhiều nơi ở mỗi ấp cũng có
một cái miễu thờ thần địa phương.
Nghi thức cúng đ́nh rất được người
dân và làng xă hay hương chức hội tề chú trọng
rất nhiều. Làng nào cũng có ban tế tự bên
cạnh ban hội tề. Tế tự th́ có từ các
vị bồi, bái đến ông kế hiền, trong khi ban
hội tề th́ gồm hương cả, hương
chủ, hương thân, hương giáo, hương sư,
hương trưởng, dến hương thôn,
hương quản và chánh lục bộ. Khi cúng đ́nh th́
hương chức hội tề mỗi người
phải cúng ít nhất là một mâm xôi. Cúng xong thường
không dùng hết nên làng kiếng lại cho các viên chức hội
tề. Ông cả được kiếng mâm xôi với
phần thủ vĩ, ông chủ cũng với từng
ấy xôi nhưng được cái nộng heo, v v . . .Cúng
đ́nh th́ phải có hát bội. Làng mướn một gánh
hát bội hát trong ba đêm. Các hương chức như
cả, chủ thay nhau cầm chầu. Dân làng đi coi thí,
không phải tốn tiền ǵ cả.
Người lưu dân
Việt khi vào Nam đă tiếp nhận và Việt hóa
một số thần linh của các dân tộc khác như
sự thờ cúng Bà Chúa Xứ, Bà Mă Châu, Bà Đen, v v . .
.Đồng bào Nam Việt hằng năm đi hành
hương, cúng bái ở các miễu Bà Đen, Bà Chúa Xứ,
Bà Mă Châu đông không biết bao nhiêu mà nói. Người th́
cầu tài, mong mua may bán đắt, người th́
mượn lộc, vay tiền của bà để làm
ăn, người th́ cầu phúc, cầu cho gia đạo
tai qua nạn khỏi, hết cơn đau bệnh,
sống b́nh yên hạnh phúc, cũng có nhiều người
cầu xin cho t́nh duyên tốt đẹp, suông sẻ,
hạnh phúc. Sự tín ngưỡng của người dân
miền Nam đối với các vị thần linh này,
nhất là Bà Chúa Xứ, thật vô cùng mạnh mẻ.
Người ta thấy gần như ở làng xă nào cũng
có miễu Bà Chúa Xứ, và trong nhiều khuôn viên đ́nh, chùa
cũng đều có miễu thờ vị nữ thần
này bên cạnh miếu Ngũ Hành, miếu Thổ
Địa.
Về tôn giáo, người
dân miền Nam vẫn tin ở Phật Nho Lăo, nhưng tam
giáo vào đây cũng biến thể khi được
nhập vào tín ngưởng tôn giáo đặc biệt
của địa phương như Cao Đài, Bửu
Sơn Kỳ Hương và Phật Giáo Ḥa Hảo.
c)
Ngôn ngữ.
Tiếng Việt vùng
Đồng Nai Cửu Long có những đặc nét
đặc biệt của nó. Tuy cả ba miền
đều sử dụng một thứ ngôn ngữ chung
như nhau nhưng trên phần lớn ngữ vựng thông
dụng cho cả ba miền c̣n có những tiếng
địa phương đặc biệt chỉ xài cho
một vùng hay một địa phương nào đó thôi.
Có những danh từ để gọi những đồ
dùng như cái “phảng”, cái “nóp”, hay những động
từ chỉ định những hoạt động
như “bắt hôi”, “mót” mà chỉ ở vùng Đồng Nai
Cửu Long mới có. Có khi cùng một từ ngữ
nhưng ư nghĩa lại khác nhau tùy theo miền. Cái ḥm
đối với người miền Nam là cái hàng
để tẩn liệm người chết trong khi
người Bắc dùng chữ đó với ư nghĩa
của cái rương đựng đồ dùng của
người miền Nam. Củ sắn của người
Bắc là củ khoai ḿ của người Nam. Những
tiếng xưng hô trong gia đ́nh họ hàng cũng có
chỗ khác biệt. Tiếng cô, chú, bác giữa người
Nam và người Bắc rất khác nhau cũng như
những tiếng d́ dượng th́ chỉ có người
miền Nam và một số người miền Trung dùng
đến. Khác biệt rơ ràng nhất là cách phát âm tiếng
Việt của mỗi vùng, mỗi địa phương.
Người miền Bắc phát âm đủ cả năm
dấu, nhất là phân biệt được rơ ràng dấu
hỏi và dấu ngă, phân biệt được phụ âm t
và c ở cuối chữ (như phát và phác, phút và phúc...),
nhưng lại không phân biệt được hai phụ
âm tr và ch (trân châu và chân trâu chẳng hạn). Phần
đông người miền Nam đều phân biệt các
phụ âm tr và ch nhưng không phân biệt hỏi ngă và các
phụ âm t và c ở cuối chữ. Đối với
người b́nh dân miền Nam th́ người Huế phát âm
các dấu sắc hỏi ngă đều như dấu
nặng, và người Quảng Nam/Quảng Ngăi th́ phát âm
những nguyên âm a như ơ và ơ như ô. Chỉ nói
riêng về mặt phát âm, một số vần trong
tiếng Việt Miền Nam đă có nhiều biến
đổi so với âm chính của tiếng Đàng Trong, và
Đàng Ngoài. Thí dụ: th́ biến thành thời, chu thành ra châu,
quí thành ra quới, vũ thành ra vơ, v v . . .(Xem bài “Một
Số Từ Biến Âm Trong Tiếng Việt Miền Nam”
của Nguyễn Viết Sơn trong Đồng Nai Cửu
Long 2). Năm 1954 khi có cuộc di cư ồ ạt của
người Bắc vào Nam, th́ đa số người Nam
ở miền quê không hiểu được tiếng nói
của người Bắc, và các bà mẹ quê miền Nam
thường gọi những người Bắc di cư
là “người ngoại quốc” hay cho họ “không phải
là người Việt”. Người ở thành thị th́
hiểu tiếng Bắc nhiều hơn, nhất là ở
các học đường, khi các học sinh, sinh viên
phải thường xuyên tiếp xúc với bạn bè và
thầy cô người Bắc.
d) Nghệ thuật ca hát
Trương Vĩnh Kư ghi
lại câu tục ngữ vào cuối thế kỷ 19 là “Nam
lư, Bắc thơ, Huế ḥ” và ông giải thích rằng
người trong Nam hát lư hay hơn, c̣n ca, phú thơ vịnh
th́ phải nhường cho người ngoài Bắc, c̣n
về ḥ th́ người Huế ở nơi kinh kỳ hay
hơn cả. Theo nhận định trên đây của câu
tục ngữ th́ lư có thể xem như một thể
loại dân ca tiêu biểu của miền Nam. Lư là ǵ?
Huỳnh Tịnh Của định nghĩa: “Lư hát: Là
kể và hát, có mau có chậm”, và “Hát lư: Hát bắt nhịp,
giọng cao, giọng thấp, lặp đi, lặp
lại.” Nhiều bài lư nổi tiếng như Lư Con Sáo, Lư
Ngựa Ô đă được phổ nhạc lại
gần đây và rất được nhiều
người ưa thích. Thật ra không phải người
miền Nam không thích ḥ. Ngược lại điệu ḥ
miền Nam rất được người dân ở
đây ưa thích và sử dụng thường xuyên trong
sinh hoạt hằng ngày khi làm lụng ở ngoài
đồng ruộng hay chèo ghe thuyền trên sông rạch.
Một h́nh thức diễn
xướng ưa chuộng khác ở miền Nam là “nói”. Nói
vè, nói thơ, nói truyện, nói tuồng. Đây là những
h́nh thức diễn xướng khá quan trọng trong sinh
hoạt nghệ thuật của người dân miền
Nam. Vè của trẻ con như “Bắt Kim Thang”, “Tùm Nụm,
Tùm Niệu”, “Chặt Cây Dừa”, “Tập Tầm Vông”,
rất phổ biến trong đám trẻ nhà quê. Vè thổ
sản như Vè Trái Cây, Vè Cá, Vè Chim Chóc, Vè Rắn U minh, vè
lao động sản xuất như Vè Làm Ruộng, Vè Bán
Quán, Vè Chăn Vịt, v v . . ., có hàng ngàn bài vè nói lên mọi
khía cạnh sinh hoạt của người dân Nam (Xem Vè Nam
Bộ của Huỳnh Ngọc Trảng). Nói thơ Lục
Vân Tiên là một phong trào đôc đáo ở miền Nam.
Phần đông người miền Nam xưa kia
đều thuộc nằm ḷng thơ Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đ́nh Chiểu. Nói thơ Vân Tiên là cả một
nghệ thuật, với âm điệu bổng trầm,
tiết tấu khoan nhặt làm cho người nghe bị
quyến rũ lôi cuốn theo. Nói tuồng là một h́nh
thức giản đơn mở đầu cho hát bội
và cải lương sau này.
Trong “Trấn Tây Kỷ
Lược”, Doăn Uẩn viết” Từ chúa Hiểu
Triết (1641-1678) đến chúa Vơ Vương (1739-1765),
trong non một trăm năm ấy, mở mang bờ cơi. .
. ruộng đất màu mỡ, lúa thóc đầy dẫy,
cho đến cây gỗ, cá tôm đều vô khối. Cho nên
dân dễ làm ăn. Làng xóm an vui vô sự. Duy tính nhân dân thích
ca vũ lắm, không ngày nào không”. Ca vũ nói ở đây là
hát bội. Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: “. .
.Người gần thành thị chơi bời biếng
nhác, như con gái ở Mỹ Tho th́ hay sửa soạn trang
sức đi coi hát xướng. . .tật xấu chưa
chừa” (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Phủ QVKDTVH xb,
S, 1959, tập thượng, tr.103). Hát bội xưa kia
rất phổ biến trong dân gian, người dân miền
Nam rất mê hát bội:
“Má ơi đừng
đánh con đau,
Để
con hát bội làm đào má coi.”
Trong giáo tŕnh “Hát, lư, ḥ Annam”
Trương Vĩnh Kư viết: “Hát bội cũng đáng vô
việc lễ nhạc, cho nên nơi đ́nh miếu, chùa
chiền đều có làm nhà vơ ca để khi khấn vái
một chầu th́ kêu bầu gánh đem ban hát tới đó
mà hát”. Hát bội cúng thần là một trong những nghi
thức đă thành lệ với những lễ “xây
chầu”, “tôn vương” thường thấy ở trong
các buổi cúng đ́nh. Hát bội suy tàn dần khi
người Pháp củng cố nền đô hộ ở
Nam Kỳ để dần dần nhường chỗ cho
sân khấu cải lương.
Cải lương
trước hết là danh từ chỉ chung cho phong trào
cải cách xă hội được nhiều thức
giả cổ xúy ở Nam Kỳ vào đầu thế
kỷ XX. Trên báo chí Nam Kỳ trong thời gian này có nhiều
bài viết bàn về việc cải lương trên
nhiều lănh vực. Nguyễn Chánh Sắt hô hào cải
lương nông nghiệp; Hồ Biểu Chánh kêu gọi
cải lương văn học và giáo dục; Nguyễn
Từ Thức bàn về cải lương nếp sống
của người phụ nữ. . . . Một số người
theo tân học thấy hát bội có nhiều điểm
không c̣n thích hợp với xă hội mới. Họ kêu
gọi cải cách sân khấu hát bội bằng cách
đưa lên sân khấu những tuồng tích mới,
với nghệ thuật tŕnh diễn mới và đặc
biệt là dùng cái “mùi” của bài ca vọng cổ trong
nhiều đoạn của một vở tuồng. Đó
là sân khấu mới, được mệnh danh là “cải
lương” thành h́nh vào đầu thập niên 1920. Gánh hát
đầu tiên có danh xưng “Đoàn Hát Cải Lương”
là gánh hát Tân Thinh ra đời vào giữa năm 1920 tại
Sài G̣n. Mục đích, tôn chỉ của gánh được
ghi trong hai câu đối sau đây để trước
cửa rạp:
“Cải cách hát ca theo
tiến bộ,
Lương
truyền tuồng tích sách văn minh.”
Bài ca vọng cổ, bài ca
được ưa thích nhất trong tuồng hát cải
lương, cũng được soạn vào khoảng
thời gian này (1920) với cái tên hồi ban đầu là
“dạ cổ hoài lang” mà tác giả là Cao Văn Lầu (Sáu
Lầu) ở Bạc Liêu. Bài hát được nhiều
người mê thích và sau này được gọi là bài
vọng cổ hoài lang hay bài vọng cổ. Hát cải
lương và ca vọng cổ phát triển nhanh nhóng, thay
thế dần cho hát bội, trước hết là ở
thành thị. Ở thôn quê những gánh hát bội vẫn c̣n
tồn tại và c̣n lưu diễn ở các đ́nh miễu
và các chợ làng, nhưng cũng suy tàn nhanh chóng
trước phong trào đờn ca tài tử lớn mạnh
lên ở thôn quê với bài ca vọng cổ. Nhiều
soạn giả cải lương nổi tiếng xuất
hiện như Tư Trang, Năm Châu cho đến Hà
Triều Hoa Phượng. . . sau này. Người ta mê
tiếng hát và sự diễn xuất của nhiều
nghệ sĩ cải lương nổi tiếng như
Năm Phỉ, Phùng Há, cô Tư Sạn, cô Tư Bé, Ba Vân,
Năm Châu, rồi Út Trà Oân, Thành Được, Thanh Nga,
Phượng Liên, v v…. . . Bộ dĩa xưa San Hậu,
Quan Âm Thị Kính , Lan và Điệp rất được
người dân quê ưa chuộng. Đa số
người miền Nam đều mê thích cải
lương và nhất là bài ca vọng cổ. Giọng
kể lể, giọng nói thơ, với những lời
lẽ phổ thông nhưng nhiều gợi cảm, với
điệu nhạc thê lương, ai oán, bổng trầm
năo nuột làm tê tái ḷng người. Những đoạn
nói lối lâm ly, lời lẽ b́nh thường, không
cần nhiều trau chuốt rất dễ đi sâu vào tâm
tư người dân miền Nam. Với bài ca vọng
cổ, người dân ở đây có thể thưởng
thức ngay, có thể mê say theo lời và giọng ca của
người ca sĩ mà không phải đợi chờ suy
nghĩ, không phải moi t́m trong kư ức xem điển tích
đó nói ǵ, không bị vướng vấp bởi những
khúc mắc, khó hiểu.
e)
Văn học
Ở địa hạt
văn chương th́ văn chương chữ Hán và
chữ Nôm chỉ xuất hiện ở miền Nam một
thời gian rất ngắn, và có thể xem như nghèo nàn so
với văn chương chữ Hán và chữ Nôm ở
miền Bắc, là miền ngàn năm văn vật.
Nhưng ở địa hạt văn học mới, th́
văn chương chữ Quốc Ngữ đă bắt
đầu ở trong Nam từ cuối thế kỷ 19 rồi,
với những người mở đầu là Petrus
Trương Vĩnh Kư và Paulus Huỳnh Tịnh Của. Báo
chí theo kiểu báo chí Tây phương cũng xuất
hiện ở đây trước trong khoảng thời gian
này. Truyện Tàu dịch ra tiếng Việt và in bằng
chữ Quốc Ngữ được phổ biến
rộng răi hồi đầu thế kỷ 20. Tiểu
thuyết viết bằng chữ Quốc Ngữ theo
kiểu Tây phương cũng bắt đầu xuất
hiện sớm ở đây. Số người biết
chữ Quốc Ngữ càng lúc càng đông, và báo chí và
tiểu thuyết càng ngày càng có nhiều độc giả.
Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh rất
được độc giả Nam Kỳ yêu chuộng.
Cũng như cải lương bên sân khấu, tiểu
thuyết bên văn chương cũng mang tính đặc
biệt “đặc sệt” giọng miền Nam, và nhờ
vậy đă đáp ứng đúng nhu cầu giải trí
của người dân bản xứ.
Như đă thấy trên
đây, văn hóa hay nếp sống của người dân
vùng Đồng Nai Cửu Long có nhiều khác biệt so
với nếp sống của người Việt ở
miền Bắc, từ kinh tế, kỷ thuật, tín
ngưỡng/tôn giáo, ngôn ngữ đến nghệ thuật.
Điều đó cho thấy có sự biến đổi
khá quan trọng trong văn hóa Việt Nam qua thời gian và
nhất là qua không gian hay hoàn cảnh/môi trường sinh
sống. “Bận chăn” hay vận xà rông, ngủ nóp,
lội śnh, ăn cơm nguội với mấm sống và
bần chua, bơi xuồng, chèo ghe tam bản hoặc ghe lườn,
thờ ông bà và đi cúng vái miếu bà Chúa Xứ, phát cỏ
bằng phảng, quạt lúa bằng xa gió, đá gà, đá
cá lia thia, hốt me, hát lư, nói thơ Vân Tiên, đờn ca tài
tử. . . . là một số những điều không t́m
thấy ở thôn quê miền Bắc nhưng lại rất
thông dụng ở miền Nam. Nguyễn Hiến Lê có kể
chuyện đưa một ông bạn từ Hà Nội
mới vào Nam lần thứ nhất đi thăm
Đồng Tháp Mười với ông trong quyển hồi
kư “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười”. Sau đây là
một vài nhận xét đặc biệt của ông bạn
trích trong tác phẩm nói trên. “Tôi không thể nào đọc
báo trong này được. . . In sai nhiều quá. Hỏi, ngă
nhầm be bét, rồi ác, át, an, ang. . . không phân biệt,
thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao, th́ có
chết tôi không chứ? . . . C̣n về nội dung th́ bài
vở tầm thường lắm. Ít bài xă thuyết có giá
trị. . . Nói chung th́ văn học Sài G̣n c̣n kém Hà Nội
xa! Sài G̣n không có ǵ đẹp. Không có nhiều di tích củ
như Hà Nội; không có thắng cảnh như Hồ Tây,
hồ Hoàn Kiếm, cách ăn mặc của phụ nữ
ở đây cũng không được nhă: Aùo dài th́
ngắn quá, màu th́ ḷe loẹt quá, và ra đường th́
nhiều cô chỉ mặc áo bà ba, không quen mắt như tôi,
thấy trơ trẽn lắm; hoa không có thứ quư: hải
đường, trà, đào . . . đều thiếu,
cuộc sinh hoạt th́ ồn ào: người ta sống
ở ngoài đường nhiều hơn ở trong nhà;
quán ăn, tiệm nước đầy phố và lúc nào
cũng chật những khách. . . .Sài G̣n không phải là
một thành phố Việt Nam. . .Ở ngoài
đường ta chạm trán với khách mọi
phương: những ông Lục Cao Miên, áo vàng nghệ, che
dù đen; những anh gác-dang Băng Ga Li, hút điếu
bằng đồng, cần dài và cong, một bọn
thủy thủ Anh, da đỏ như tôm luộc, mắt
xanh như nước biển, những lính Ma Rốc tóc
xoăn, mắt và răng trắng dă! Rồi người
Chàm, người Mă Lai, người Nhật, người
Pháp, người Huê Kiều ở Hải Nam, Quảng
Đông, Triều Châu. . ., bao nhiêu giống người,
bấy nhiêu tiếng nói, y phục, phong tục mà cũng
sống chung trên mảnh đất này, làm cho Sài G̣n có
những vẻ đặc biệt, khác hẳn với Hà
Nội, Huế. Ban đêm, vào Chợ Lớn, th́ ai mà không có
cảm tưởng là đương đi ở Hồng
Kông hoặc Thượng Hải. . .
Không khí tại đây là
không khí giang hồ, tứ chiếng. . . . Sài G̣n không phải
là một đô thị Việt Nam, nó là một thương
cảng của thế giới. . . .”
Nhận xét trên đây
chắc cũng là nhận xét của nhiều người
quen sống ở Hà Nội khi mới đặt chân vào Sài
G̣n. “Culture shock” chắc sẽ làm cho người ta có
liền nhận định đó. Nó là một nhận
định đúng, rất chính xác, đúng và chính xác ở
chỗ có sự khác biệt rất nhiều và rất rơ
rệt giữa văn hóa/xă hội miền Nam và văn
hóa/xă hội miền Bắc. Nhưng khác biệt không có
nghĩa là hay hơn hay dở hơn v́ nhận định
về giá trị hơn kém của mỗi miền không có
cơ sở vững vàng. Khoa học cho phép ta chấp
nhận sự khác biệt của người khác hay
của xă hội/văn hóa khác, nhưng khoa học không
khuyên ta đánh giá người khác hay nền văn hóa khác
bằng những tiêu chuẩn hay bậc thang (standard hay
scale) không cùng một loại. Ở đây chúng ta chấp
nhận sự khác biệt để thấy có sự
biến đổi quan trọng trong văn hóa Việt
từ Bắc vào Nam nhưng chúng ta không làm công việc phê
b́nh hay lượng giá một nền văn hóa khu vực
nào cả. Từ sự biến đổi đó, một
số câu hỏi được đặt ra. Tại sao
người Việt không giữ được văn hóa
truyền thống của họ khi họ vào Nam, trong khi
người Bắc vẫn giữ được
truyền thống đó? Tại sao có sự biến
đổi về văn hóa như vậy?
SỰ
BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ BẮC
VÀO NAM
Trước hết sự
biến đổi của văn hóa Việt Nam từ
Bắc vào Nam cho thấy có khuynh hướng xa dần
văn hóa Trung Hoa để đến gần văn hóa Aán
Độ hơn. Từ xưa, từ lúc bị Trung Hoa
đô hộ cho đến đầu thế kỷ XVII,
Việt Nam là một trong những nước ở Đông
Nam Á ít nhận ảnh hưởng văn hóa Aán Độ
nhất. Văn hóa Việt Nam xưa gần như là
bản sao của văn hóa Trung Hoa. Khi văn hóa Đàng Trong,
nhất là khu vực Đồng Nai Cửu Long thành h́nh th́
khu vực văn hóa này một mặt giảm bớt
ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa và mặt khác thu
nhận phần nào ảnh hưởng văn hóa Ấn
Độ. Điều này không có nghĩa là văn hóa Ấn
Độ mạnh hơn hay tốt hơn văn hóa Trung
Hoa, thật ra đây chỉ có nghĩa là văn hóa Ấn
Độ có những nét (traits) khác hơn văn hóa Trung Hoa
mà thôi. Nó cũng không có nghĩa là văn hóa Đồng Nai
Cửu Long trực tiếp nhận ảnh hưởng
văn hóa Ấn Độ, đúng ra nó chỉ tiếp
nhận một số nét đặc biệt của văn
hóa Ấn Độ qua các nước chịu ảnh
hưởng văn hóa Ấn như Champa và Kampuchia hay Thái
Lan. Văn hóa Đồng Nai Cửu Long đến gần
văn hóa vùng Đông Nam Á hơn văn hóa truyền
thống Việt Nam ở Thăng Long. Cái ǵ làm cho có sự
thay đổi theo chiều hướng như vậy?
Chính trị đóng vai tṛ
khá quan trọng ở đây. Từ danh xưng “Đàng
Trong” để đối lại với “Đàng Ngoài”
đến sự xác định nguồn gốc “Ô Châu”
của chúa Nguyễn Phúc Khoát, người ta có thể suy ra
được quyết tâm của chính quyền ở phía
Nam sông Gianh trong nỗ lực xây dựng một
nước khác, độc lập đối với nhà Lê
và miền Bắc, đi một hướng đi khác
hơn hướng đi của Đàng Ngoài, có một cách
làm người Việt Nam khác hơn là người
miền Bắc. Tana Li trong bài “An Alternative Vietnam? The Nguyen
kingdom in the seventeenth and eighteen centuries” (Journal of Southeast Asia
Studies; 3/1/1998) viết:
“From the seventeenth century,
the Red River delta ceased to be the only centre of Vietnamese civilization: a
new centre – Phu Xuan (Hue) – challenged Thang Long (Hanoi), and a second
important socio-economic zone – Thuan Quang – took shape far from the Red River
delta. This was more than a simple southern extension of the former Vietnamese
economy and society. Rather, a new society developed, with a different cultural
background and quite different political and economic circumstances. As a
residents of a region over which the hostile Le/Trinh northern government never
formally renounced control, southern Vietnamese described their territory as
the “inner region” (Dang Trong), and characterized the northern Red River
plains as the “outer region” (Dang Ngoai). The terminology indicates clearly
that they perceived the south as a distinct entity, and the emergence of marked
dissimilarities between the two areas amounted to two different ways of being
Vietnamese.”
Và:
“When proclaiming himself king in 1744, Nguyen Phuc Khoat declared proudly,
“our country rose and developed from O Chau”, using a name with strong local
colour for the place of origin of the royal family and many high officers. O
Chau emphasized a perception of Dang Trong as a separate country that had
developed since the early seventeenth century. This identification actually
implied two meanings: a country equal to the north and a local rather than a
foreign regime for the local people. The latter sense was related to
legitimacy, and to the self-confidence of the Nguyen.”
(Từ thế kỷ 17,
châu thổ sông Hồng không c̣n là trung tâm duy nhất của
văn minh Việt Nam: một trung tâm mới – Phú Xuân
(Huế) – thách thức Thăng Long (Hà Nội), và một
vùng xă hội kinh tế quan trọng thứ hai - vùng
Thuận Quảng - thành h́nh, ở xa châu thổ Hồng Hà.
Đây là cái ǵ nhiều hơn là chỉ một mở
rộng của xă hội, kinh tế Việt Nam cũ.
Đây là một xă hội mới được phát
triển với một bối cảnh văn hóa khác và
những điều kiện chính trị, kinh tế khác. Là
cư dân của một vùng mà chính quyền thù nghịch
Lê/Trịnh không bao giờ muốn từ bỏ kiểm
soát, người Việt miền Nam mô tả lănh thổ
của họ là Đàng Trong, và cho vùng châu thổ Hồng Hà
là Đàng Ngoài. Cách sử dụng danh từ cho thấy rơ
họ nhận thức rằng miền Nam là một
thực thể riêng biệt, và những khác biệt
khởi lên giữa hai vùng đưa đến hai cách
thức làm người Việt Nam khác nhau.
Và:
Khi tuyên xưng ḿnh là vua năm 1744, Nguyễn Phúc Khoát đă
hănh diện tuyên bố “nước chúng ta dựng lên và phát
triển từ Ô Châu”, ông đă dùng một danh xưng
rất có màu sắc địa phương để
gọi quê hương, gốc gác của gia đ́nh nhà vua và
nhiều quan lại cao cấp của triều đ́nh. Danh
xưng Ô Châu nhấn mạnh sự nhân thức rằng
Đàng Trong là một quốc gia riêng biệt đă
được dựng lên từ đầu thế kỷ
17. Sự nhận diện này thật sự có hai ư nghĩa:
một quốc gia ngang hàng với miền Bắc và là
một chế độ ở địa phương
của người địa phương chớ không
phải ngoại lai. Ư nghĩa sau này liên hệ tới tính
chính thống và sự tự tin của nhà Nguyễn).
Lư do quan trọng kế
đó là môi trường sinh sống. Môi trường sinh
sống mới và sự tiếp xúc với những nền
văn hóa khác là những điều kiện cần yếu
đưa đến những biến đổi.
Trước hết là môi trường thiên nhiên vật lư:
đất đai, khí hậu, ruộng nương,
vườn tượt ở đây cùng một loại
với đất đai, khí hậu, ruộng nương
vườn tượt ở Kampuchia, Thái Lan, Mả Lai,
thành ra các loại cây trái giống nhau, kỷ thuật làm
ruộng, làm vườn, trồng cây trái cũng giống
nhau. Cuộc sống vật chất ở nhà quê do đó
cũng rất giống nhau. Người lưu dân Việt
vào môi trường sinh sống này không thể không linh
động thay đổi để thích ứng với môi
trường sinh sống mới. Mặt khác ở trong hoàn
cảnh sinh sống mới này họ lại gần gũi
với những dân tộc khác với nền văn hóa khác
mà lâu dần, quen dần, họ không thể không vay
mượn một số nét đặc thù nào đó mà
họ thấy cần yếu hay thích hợp với họ
trong hoàn cảnh sinh sống mới. Thành ra từ khi
Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa và các chúa Nguyễn nối
tiếp, xây dựng nên Đàng Trong th́ bắt đầu có
một nhánh văn hóa Việt biến dạng dần
dần trở thành một chi nhánh văn hóa (subculture) có
phần khác biệt với văn hóa cổ truyền ở
miền Bắc. Sự cắt đứt liên hệ chính
trị giữa Đàng Trong (Chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài
(Chúa Trịnh), sự phân tranh Nam Bắc và chia đôi lănh
thổ đă là cơ hội để tạo nên một
chi nhánh văn hóa mới xa dần văn hóa cổ
truyền. Đến thế kỷ XVII khi Họ Nguyễn
chiếm hết cả miền Trung và rồi một số
người miền Trung vào khai phá miền Nam khẩn hoang
lập ấp xây dựng nên miền Nam th́ một chi nhánh
văn hóa khác nữa lại thành h́nh. Chi nhánh văn hóa
mới này lại càng cách biệt với văn hóa gốc
ở miền Bắc để đến gần văn
hóa Đông Nam Á hơn (tức cũng có nghĩa xa dần
văn hóa Trung Hoa và đến gần văn hóa Aán Đô
hơn).
Miền Nam là cả một
vùng đất hoang mênh mông chằng chịt sông rạch
với không biết là bao nhiêu cá tôm rau cỏ cây trái.
Đất đai lại rất ph́ nhiêu do phù sa mang lại.
Khẩn hoang lập nghiệp tuy có cực nhọc nặng
nề nhưng kết quả thu lượm dễ dàng và
khả quan, đời sống tự nhiên ung dung thoải
mái. Điều kiện vật lư đó cũng dễ un
đúc nên tính t́nh rộng răi, phóng khoáng, hiếu khách,
đối đăi tử tế với người từ
xa mới đến của người miền Nam mà
nhiều người công nhận. Vùng mới lập này tuy
có ít nhiều liên hệ với Chúa Nguyễn nhưng
triều đ́nh ở xa, tổ chức cai trị không
chặt chẽ tùy thuộc ở triều đ́nh Huế
(chế độ tổng trấn), thêm vào đó c̣n có
những biến cố chính trị làm thay ngôi đổi
chủ nhiều lần cho nên tương đối có
nhiều tự do địa phương và tự do cho cá
nhân nữa. Chỗ này ở không được, hoặc
bị áp bức th́ nhổ sào, chèo ghe đi chỗ khác làm
ăn, không có ǵ ràng buộc họ được. Hoàn
cảnh đặc biệt ở đây giúp người ta
nuôi dưỡng tinh khí tự do phóng khoáng, không cần
phải ép ḿnh, chế ngự cái tôi để phụng
sự cho một lư tưởng sách vở ǵ cả. Vả
lại nỗ lực chính của những thế hệ
đầu tiên vào đây là khai khẩn đất đai,
thiết lập đời sống mới nhiều hơn
là trau dồi kinh sử để lănh lấy măo áo chức
tước của triều đ́nh. Đời sống
dễ dăi, tương đối thừa thăi về vật
chất và tự do về tinh thần, đă không bắt
buộc người dân Việt ở đây phải duy tŕ
hay theo đúng những phong tục tập quán đă được
mang vào Đàng Trong từ mấy thế kỷ
trước. Sự lỏng lẻo của khuông phép từ
thế hệ này sang thế hệ khác đă tạo nên
một nếp sống mới, một tính t́nh và nhân cách
mới, rộng răi và phóng khoáng, với tâm hồn chân
thật, chất phác, mở rộng để đón
nhận những cái mới lạ hơn là khép kín
để duy tŕ những cái đă có. Ngoài hoàn cảnh
địa lư nói trên, trong quá tŕnh mở rộng đất
đai về phương Nam chi nhánh văn hóa Đàng Trong
đă phải tiếp xúc va chạm với những nền
văn hóa khác tạo nên điều kiện rất cần
cho sự biến đổi về văn hóa. Có tiếp xúc
với văn hóa khác là có cơ hội để nh́n
thấy lối sống, cách hoạt động, sự tín
ngưỡng, lề lối suy tư của một giống
người khác. Từ đó có thể có những thích nghi
với nhau hay vay mượn lẫn nhau ít nhiều từ
tập quán, kỹ thuật, đến tín ngưỡng và
nghệ thuật. Từ thế kỷ XVII người
Đàng Trong đă có cơ hội gần gũi với
văn hóa Chiêm Thành, đă nh́n thấy và hiểu biết
lối sống của người dân Chăm. Sau đó sang
thế kỷ XVIII người Việt khi bành trướng
lănh thổ về miền Nam lại có dịp sống bên
cạnh người Miên và người Trung Hoa (Minh
Hương, Triều Châu). Và gần đây hơn từ
thế kỷ XIX người Việt ở đây lại
có nhiều dịp để biết đến đạo
Thiên Chúa cùng văn minh Tây Phương do người Pháp
mang đến. Thí dụ như ở Cà Mau (tỉnh lỵ
An Xuyên), vào khoảng thập niên 1960, thống kê cho biết
dân số là 270,643 người trong đó có 3,048
người Việt gốc Hoa, và 2,959 người Việt
gốc Miên, với 22,000 Tịnh độ cư sĩ,
15,000 Công giáo, 3,700 Thiền Lâm, 3,200 Cao Đài, và 400 Tin Lành.
Người Việt gốc Miên ở Trà Vinh, Sóc Trăng
rất nhiều và người Triều Châu rất đông
ở Bạc Liêu đến đổi người dân Nam
phải nói “Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều
Châu”. Có thể nói miền Nam cũng na ná như xứ
Mỹ, nó là một xă hội mới thành h́nh với
nhiều chủng tộc sống lẫn lộn trong đó
và với một nền văn hóa ít nhiều pha trộn
đủ thứ. Nó như cái “melting pot” hay cái “salad bowl”
của Việt Nam. Nó mang rất ít tính chất cổ
truyền của nền văn hóa gốc.
Thật ra th́ sự gặp
gỡ, tiếp xúc giữa các nền văn hóa mới
chỉ là điều kiện cần mà thôi chớ chưa
phải là điều kiện đủ để cho sự
vay mượn, học hỏi xảy ra. Điều
kiện đủ để đưa đến vay
mượn và thích nghi văn hóa là sự có mặt của
những yếu tố sau đây: (1) tinh thần khai phóng
của người vay mượn, (2) sự tự do
chấp nhận cái mới lạ của người vay
mượn, và (3) sự lợi ích của những ǵ
được vay mượn học hỏi. Văn hóa
không thay đổi nếu các thành phần trong nền
văn hóa đó không có tinh thần cởi mở, không
chấp nhận những cái mới lạ của nền
văn hóa khác. Mặt khác dù các thành phần chấp nhận
những cái mới lạ của văn hóa khác đi
nữa nhưng không có tự do để học hỏi,
thực hiện th́ văn hóa cũng không có cơ hội
thay đổi. Chẳng hạn như nếu luật
lệ của quốc gia quá cứng rắn không cho phép
người dân chấp nhận hay du nhập những cái
mới lạ, hoặc giả nếu như phong tục
tập quán trong xă hội quá khắt khe khiến
người ta không thể đi ra ngoài những thói quen
đă có th́ sự thay đổi về văn hóa tất
nhiên sẽ khó xảy ra. Phải có đủ tự do
để học hỏi và thực hiện điều ǵ
mới lạ trong cuộc sống th́ sự biến
đổi về văn hóa mới diển tiến
được. Sau hết người ta chỉ học
hỏi vay mượn khi nào điều người ta
muốn học hỏi vay mượn đó đáp ứng
được nhu cầu sinh sống của con
người.
Những điều
kiện trên đây cần phải có đủ th́ văn hóa
mới có thể thay đổi được.
Người Việt Nam trong quá tŕnh bành trướng lănh thổ
và định cư vào Phương Nam đă có đủ
những điều kiện ghi trên. Họ có tinh thần
rộng răi khai phóng, không mù quáng tôn sùng cổ nhân, không khép
kín chật hẹp hay bế quan tỏa cảng. Họ có ít
nhiều tự do chớ không bị chặt chẽ ràng
buộc bởi luật lệ cứng rắn của
triều đ́nh hay tập quán khắt khe của xă hội.
Khi đă có đủ những điều kiện cần
và đủ th́ tất nhiên văn hóa phải thay
đổi theo lối sống thay đổi của con
người ở vùng đất mới mẻ này.
Những khác biệt này là những biến đổi
tự nhiên của văn hóa Việt Nam qua bao nhiêu thế
hệ và qua quá tŕnh bành trướng lănh thổ, tiếp xúc
với nhiều nền văn hóa khác. Biến đổi
để thích ứng với môi trường và hoàn
cảnh mới, đó là điều kiện cần yếu
để một nền văn hóa sinh tồn và tiến
bộ. Khi văn hóa biến đổi nó cũng làm cho con
người ít nhiều biến đổi theo. Có sự
tương quan khá mật thiết giữa văn hóa và nhân
cách của con người. Người ta hay nói đến
tính bộc trực, ăn ngay nói thật, tính rộng răi
chiều khách, tính anh hùng ngang tàng của người dân
miền Nam, kể cả tính bất cần và không thèm kiên
nhẫn của người dân vùng này.
Văn hóa làm nên con
người bởi khi sinh ra trong xă hội văn hóa nào th́
con người sẽ được xă hội hóa
(socialized) vào trong xă hội, văn hóa đó. Nhưng mặt
khác cũng chính con người làm nên văn hóa, v́ khi
sống cùng những người khác con người có những
sinh hoạt trong đời sống xă hội, và những
sinh hoạt đó là văn hóa. Con người không thay
đổi về phương diện sinh vật, cái gene
của con người từ lúc có con người homo
sapiens tới ngày nay vẫn vậy, không có ǵ thay
đổi. Nhưng văn hóa lại biến đổi
theo thời gian và không gian v́ văn hóa là những sinh
hoạt nhằm thỏa măn những nhu cầu sinh sống
của con người. Ở đâu con người cũng
có những nhu cầu ăn uống, che thân, muốn
được sung sướng hạnh phúc, ở đâu
cũng có tín ngưỡng, giáo dục, học hỏi,
truyền thông, ở đâu cũng có nghệ thuật hát
ca, nhảy múa, làm t́nh sinh con đẻ cái. Nhưng những
sinh hoạt thể hiện những nhu cầu đó
rất biến đổi tùy theo thời đại, tùy
theo môi trường sinh sống. Những người làm
chính trị cũng như những nhà làm văn hóa, hay nói
rộng ra hơn, tất cả những ai thiết tha
với văn hóa nhân loại hay văn hóa nước nhà,
cần phải nh́n thấy sự khác biệt giữa
những nền văn hóa hay khu vực văn hóa, cũng
như những lư do đưa đến sự khác
biệt đó. Nhận biết như vậy không phải
để cổ vơ cho sự chia rẽ hay gây tinh thần
kỳ thị địa phương mà là để có
thể đi đến tinh thần đa nguyên đa
văn hóa (cultural pluralism). Tinh thần này đ̣i hỏi
người ta phải nh́n thấy và chấp nhận
sự khác biệt giữa các nền văn hóa hay giữa
các khu vực văn hóa với nhau. Từ sự chấp
nhận khác biệt đó người ta mới có thể
hiểu nhau và cộng tác với nhau trong tinh thần kính
trọng lẫn nhau để sự cộng tác với nhau
được lâu dài và hữu hiệu. Chấp nhận
khác biệt của văn hóa khác hay người khác cũng
có nghĩa là phải tôn trọng giá trị của văn
hóa hay của người khác, v́ cái nào cũng có giá tri
của nó cả chớ không phải chỉ có cái ǵ của
ḿnh mới tốt. Nếu phủ nhận giá trị
của những ǵ khác hơn ḿnh th́ không khỏi có cái nh́n
thiên lệch mà hậu quả tai hại là sẽ bị
rơi vào một h́nh thức nào đó của chủ
nghĩa “chủng tộc độc tôn” (ethnocentrism) và tinh
thần kỳ thị chủng tộc hoặc một h́nh
thức kỳ thị nào khác.