Độc
thoại là nói một ḿnh. Thí dụ: Ḿnh tự vấn và
tự giải đáp cho ḿnh về một vấn
đề; một ông giáo giảng bài cho sinh viên, gần
như nói suốt từ đầu giờ, đến
cuối giờ, không một ai vấn hỏi, không có trao
đổi qua lại, cũng là độc thọai.
Đối
thoại là không là độc thoại.
Đối
thoại ngầm hiểu phải có ít nhất đôi bên, và
có trao đổi qua lại. Thế nên, trong đối
thoại phải có ít nhất sự dị biệt của
hai hay nhiều bên, và những bên có nghe hiểu nhau. Tư
tưởng, t́nh cảm có qua có lại, có ảnh
hưởng lẫn nhau.
Vậy,
muốn đối thoại phải chấp nhận có
dị biệt. Bên kia khác ḿnh, khác ở quan
điểm, ở các suy nghĩ, có lắm bất
đồng trong lắm vấn đề.
Bên
những dị biệt, có ít nhất một tương
đồng: đôi bên đều muốn nói chuyện
với nhau, muốn lắng nghe, t́m hiểu, muốn
gặp nhau đâu đó.
Cho
nên, trong đối thoại không nên có tiên kiến, không nên
buộc rằng sau cùng rồi người phải theo quan
điểm của ḿnh.
Tôi
chống cộng, và chống cộng là phải về biên
giới Việt Miên Lào, tổ chức nghĩa quân,
trường kỳ đánh phá cộng quân; không có một
cách nào khác, và phải là tôi lănh đạo, tôi chỉ huy,
không một ai có khả năng và đáng tin hơn tôi;
đó là điều tiên quyết: chống cộng là nghiêm
chỉnh, hiểm nguy, không thể dễ dăi
được; nếu nghĩ như thế th́ tôi khó
đối thoại với bất cứ ai muốn
chống cộng.
Người
mà lúc nào cũng nói đúng, làm đúng, lúc nào cũng thành
công, cũng tượng trưng cho chân lư, khó đối
thoại được với người khác. Đă quen
với cái đúng, in trí rằng chẳng lúc nào ḿnh sai
lầm hay thất bại, th́ thật khó nghe bắt
được lư t́nh của người khác.
Người
mà thích phỉnh nịnh, không quen với những giá trị
khác lạ cũng khó đối thoại được
với tha nhân.
Thế
nên, thiên tử -- con của Trời-- quen với nghi lễ
triều đ́nh, các quan phải tâu, bái, lạy, rất khó
nghe hiểu được sự đói khổ của
thần dân của ḿnh.
Dân
chủ tập trung, hiểu trong nghĩa của
người cộng sản, là thiểu số phải câm
mồm trước đa số, không cho phép có đối
thoại, giữa hai nhóm thiểu số và đa số.
Nói
chung, các chính quyền chuyên chế--thí dụ phát xít,
cộng sản, quân chủ chuyên chế--không thích hợp
cho sự đối thoại giữa chính quyền và
quần chúng hay giữa các nhóm văn hóa, đảng phái
chính trị,..., v́ nói khác, làm khác chính quyền là phản
động, có thể đi tù, hay bị tử h́nh. Không có
đối thoại khi gươm kề cổ, buộc
phải nói, nghĩ, làm trong chỉ một chiều.
Các
định chế tự do, dân chủ kiểu Âu Mỹ có
khả năng thích hợp cho đối thoại hơn.
Cuộc sống
vốn bất toàn. Những chế độ dân chủ
ở Tây Âu hoặc ở Bắc Mỹ không là hoàn hăo.
Những tập đoàn tư bản có khống chế ngôn
luận, có khả năng lũng đoạn kinh tế,
chính trị, nhưng người dân có những quyền
hạn và tự do khá rơ rệt. Cũng nên ghi rằng:
tự do không đồng nghĩa với buông trôi theo
bản năng, nô lệ ở thị hiếu; không có
tự do vô giới hạn, trong đó, mỗi người
muốn làm ǵ cũng được; tự do cá nhân bị
giới hạn bởi tự do của người khác,
bởi luật pháp, phong tục tập quán, định
chế chung của xă hội. Chính những qui ước
giới hạn những quyền hạn và tự do cá nhân
đă trang bị cho con người một ngôn ngữ,
một sự hiểu biết, những cử chỉ, thái
độ, hành vi thích hợp cho đối thoại.
Lắng
nghe là yếu tố quan trọng hàng đầu trong
đối thoại, v́ phải thấu hiểu bên kia,
mới có đối, có đáp.
Người
ta có thể nghe qua cái bắt tay, qua gương mặt, qua
một nhíu mày, một thoáng cười, một cử
chỉ, một thái độ. Từ “nghe” của
Việt Nam ḿnh không chỉ có nghĩa là nghe một âm thanh,
mà c̣n có nghĩa là cảm nhận qua các giác quan. Từ
“lắng” bao hàm cái ư rằng điều được nghe
“đi vào sâu trong trong ḷng người,” “người nghe có để tâm,
để trí để
thấu hiểu những thông điệp của bên kia.”
Thông
điệp là những biểu hiện qua lời nói,
giọng nói, cử chỉ, thái độ, gương
mặt, nói chung là những tín hiệu phát đi. Thông
điệp chuyển nội dung của cuộc đối
thoại.
“Lắng”
cũng có nghĩa là lắng đọng, không bị
quấy nhiễu bên trong.
Hỉ,
nộ, ái, ố, vui buồn hờn dỗi là những
tiếng nhiễu có thể làm ta không nắm bắt
được trọn thông điệp từ bên kia.
Tương
tự, những giá trị, những sở đắc,
những kinh nghiệm của ta có thể là những
bức tường chắn không cho thông điệp đến nơi như ư.
H́nh
ảnh về ḿnh, về bên kia cũng có khả năng là
tiếng nhiễu hay bức chắn làm trở ngại
cuộc đối thoại.
Cho
nên, nói lắng nghe là nghe với một cái tâm và trí lắng
đọng, không bị nhiểu, không bị che lấp.
Về
phía người phát ra thông điệp cũng thế:
những xúc cảm, tiên kiến, thói quen làm cho người
phát không diễn tả được như ư mong muốn.
Tiếng
nhiễu, màn chắn, những ngăn trở trong việc
phát và thâu thông điệp luôn luôn có. Người trong
cuộc phải nghe thấy được chúng để
giảm thiểu các ảnh hưởng tai hại của chúng, để
biết ḿnh, hiểu người tối đa trong
những tâm trạng khác biệt ở mỗi thời lúc.
Gọi như thế là tỉnh thức trong đối
thoại. Có vậy, mới mong gặp nhau đâu đó, để
có một cuộc gặp gỡ phong phú.
Cái
biết và hiểu của bất cứ một cá nhân nào
cũng có giới hạn, ở chiều rộng, ở
chiều sâu. Thường thường, ít ai trút bỏ
được giáo dục gia đ́nh, và những giá
trị, kiến thức thu lượm trong quá tŕnh
sống. Cho nên, phải thật thà nhận thức
những giới hạn của chính ḿnh. Thật thà
với chính ḿnh cũng nhằm để hiểu ḿnh
hơn. Cũng phải thật thà với người, v́ ta
muốn thông điệp của ta tải được ư
t́nh tới được bên kia. Cho nên, tránh phô
trương kiến thức, khả năng, quyền
thế, vân vân mà không liên quan ǵ đến bối cảnh.
Tránh những câu sáo, những câu quá khiêm tốn nhưng
rỗng nghĩa (thường do giáo dục gia đ́nh hay
phong tục tập quán), những rào đón, pḥng vệ nói
lên sự e ngại phải thua cuộc.
Trong
một cuộc đối thoại thẳng thắn, không
có ai thua, ai mất một cái ǵ. Chỉ có được mà
thôi. Mỗi bên đều học được một cái
ǵ ở tha nhân, lấy tha nhân làm gương soi để
thấy được ḿnh trong những cảm xúc nghĩ
suy. Các bên đều có dịp tập luyện cho tâm trí an
b́nh, tập luyện để có những cuộc tiếp
xúc trong sáng.
Thái
độ pḥng vệ, ḿnh trong tối, các bên kia ở ngoài
ánh sáng, là thái độ của người mong thắng
cuộc; nó không thích hợp cho đối thoại.
Đối
thoại không là đối đầu.
Chúng
ta có khác nhau, có lắm dị biệt, có nhiều bất
đồng. Nhưng chúng ta cũng có lắm cái chung.
Cảnh tha hương viễn xứ. Vết thương
ḷng do cộng sản gây nên: những năm tù đày,
khổ sai, nhân cách bị chà đạp, gia đ́nh ly tán, con
cái thất học. Tâm trí phân đôi: dĩ văng và hiện
tại, hội nhập và gốc nguồn.
V́
những tương đồng ấy, chúng ta muốn
ngồi lại với nhau, hoặc bàn thảo về
những vấn đề của cộng đồng
người Việt hải ngoại, hoặc những
vấn đề chung của đất nước.
Trong
cái tuổi về chiều, con cái đă lớn khôn, biết
tự lo lấy cuộc sống của bản thân, tứ
thân phụ mẫu không c̣n
vấn đề lớn, th́ những vấn
đề của cộng đồng, của môi
trường, của quê hương trở lại, mỗi
lúc thêm bức thiết.
Tuổi
trẻ tiềm năng vô biên, dầu rất bận về
công ăn việc làm, về gia đ́nh con cái, vẫn
muốn dành thời gian cùng đàn anh, đàn em tham gia
những công tác chung. Đâu đâu, cũng có tuổi
trẻ thuộc mọi ngành nghề, kỷ sư, bác
sĩ, tâm lư gia, gíáo sư,..ở mọi giới, t́nh
nguyện tham gia vào những công tác có lợi ích chung:
dạy tiếng Việt nam cho các em nhỏ, dạy
tiếng Anh cho những gia đ́nh mới đến
định cư, giúp đồng bào khai thuế, dạy
các lớp thi quốc tịch, tổ chức hội
Tết, viết bài, phát hành giai phẩm, nguyệt san, bán
nguyệt san,...thật không sao kể hết.
Thế
rồi, già trẻ, mọi lứa tuổi, mọi thành
phần chúng ta có ngồi lại với nhau trong những
vấn đề lớn nhỏ khác biệt.
Tha
hưong viễn xứ là cảnh khó. Trong cái khó, cảm
nhận được gần nhau hơn, có nhau hơn, là
một an ủi, một tái trang bị thần to lớn.
Tuy
nhiên, âm vang chung và đậm nét là chúng ta chẳng ai nghe
được ai. Người ta có cảm tưởng
rằng chúng ta ngồi lại với nhau để phê phán,
chỉ trích nhau, tạo hồ nghi, gây khoảng cách, đào
hố sâu giữa chúng ta. Theo đó, cộng đồng
chúng ta bị phân hóa thành trăm ngh́n mảnh. H́nh ảnh
người Việt Nam ở hải ngoại là những
nhóm nhỏ, thật nhỏ, gói ḿnh trong một mặc
cảm, mặc cảm kẻ mới người cũ,
mặc cảm thành công, thất bại, v. v., lúc nào cũng
pḥng vệ, hoài nghi, chia rẽ.
Chúng
ta có thành tâm, thiện ư. Chúng ta có phương tiện:
mỗi năm, tổng số tiền người Việt
hải ngoại gởi về cho gia đ́nh hoặc tiêu xài
ở Việt Nam được ước lượng
trên một tỷ đô la. Chúng ta có khả năng:
nhiều thương gia, kỹ nghệ gia, ... đă thành
công lớn; riêng ở Mỹ, mỗi năm có hơn 400 bác
sĩ Việt Nam tốt nghiệp, số kỹ sư và các
ngành nghề khác th́ càng đông hơn nữa.
Chúng
ta đă thành công v́ chúng ta lắng nghe được môi
trường, đối thoại được với
nền văn hóa mới.
Nhưng
h́nh như cũng sự thành công đó đă góp phần che
mắt, bịt tai không cho phép chúng ta lắng nghe lẫn
nhau, đối thoại với nhau. Cũng có thể v́
thất bại, rồi rút vào cái cái tháp ngà của ḿnh,
để thế sự ngoài tai mắt, nghi ngờ
thiện chí, thiện ư của mọi người.
Nghi
ngờ là phải, v́ trong đời có ai hoàn hảo đâu.
Sức người, khả năng cá nhân, vốn giới
hạn. Nhưng cũng v́ đó mà phải cho phép khả
năng lầm lẫn,
điều chính yếu là phải biết xử lư cái sai;
có thật tâm thành ư sửa sai hay không mới là vấn
đề. Hơn nữa, mọi việc đều đ̣i
hỏi thời gian. Chỉ cái học đơn giản cho
có cái nghề sinh nhai cũng phải tính từ 4 hay 5
năm. Vậy không nóng vội. Người nóng vội không
lắng nghe được bất cứ ai, họ chỉ
nghe được những ǵ liên quan với cái họ
đang mong chờ.
Chúng
ta hiểu ngồi lại với nhau là cần thiết,
nhưng chưa đủ. Chúng ta cũng hiểu rằng
chúng ta có khả năng tạo một sức mạnh,
đáng kể, đáng nể, buộc mọi chính quyền
phải lưu tâm, trong đó có chính quyền địa
phương, và chính quyền cộng sản hiện
đang làm khổ đồng bào, gia quyến ta.
Chúng
ta cũng kinh nghiệm rằng
có một cái ǵ đó đang cản trở, không cho
chúng ta đối thoại hữu hiệu với nhau,
để gặp nhau đâu
đó.
Đó
là vấn đề thiết thân cho mọi người
Việt hôm nay ở hải ngoại, nhất là trong bối
cảnh đang có bang giao b́nh thường giữa Mỹ và
cộng sản Việt Nam.
Người
cộng sản v́ tin rằng ḿnh là “lương tri của
thời đại”, “đỉnh cao của trí tuệ”,
đă “nắm được hướng đi của
lịch sử”, đă không nghe được tiếng rên
siết của tang tóc, của đói khổ, của
biệt ly, của cảnh con thiếu cha, vợ vắng
chồng, mơi ṃn chờ đợi.
Chúng
ta, những người không cộng sản, không có cái
sắc máu, tàn nhẫn, bạo lực của các chế
độ chuyên chế. Chúng ta chấp nhận sống
với chế độ tự do dân chủ của Tây
Phương. Nó không hoàn hảo, nhưng thực tiển. Trong
những giới hạn cụ thể, chúng ta có những
tự do nhất định, và mọi người có
thể tham gia một cách b́nh đẳng. Trong xă hội này,
sự tương nhượng, gặp gỡ nhau đâu
đó ở “giữa đường” là tiên quyết. Không
có kẻ hoàn toàn thắng, hoàn toàn bại. Có khó khăn, có
thử thách, nhưng không có con đường cùng cho
những người có thành tâm, thiện chí, có sức
khỏe muốn vươn lên. Trong một xă hội
như thế, đương nhiên phải biết nghe
hiểu nhau, đương nhiên phải biết
đối thoại. Chúng ta đă thành công phần nào trong
đối thoại với nền văn hóa mới,
những con người mới, những giống dân
mới. Giờ đây, ḿnh với ḿnh, người Việt
với người Việt, cùng một ngôn ngữ, cùng
một cách sống, cùng là nạn nhân cộng sản, cái ǵ
đă làm chúng ta không nghe được nhau, không gặp
được nhau?
Có
người bảo: “Người Việt Nam ta thích tranh
luận hơn đối thoại.”
Trong
tranh luận cũng có qua có lại, có vấn có đáp, có
cố lắng nghe, cố hiểu, và theo đó, có học
hỏi. Có những tranh luận rất phong phú.
Tuy
nhiên, đă nói tranh th́ phải có thiệt có hơn. “Tranh luận” đă bao hàm cái ư
muốn thắng cuộc, muốn tranh đua hơn kém, và
có ngại bị thua thiệt. Thường thường,
mỗi bên đều có một quan điểm, lập
trường, căn cứ vào một luận cứ
“rất vững chắc.” Bên nây cố thuyết phục bên
kia nghe, hiểu, và chấp nhận rằng những
điều ḿnh nêu là đúng, là phải, là hay, là
đẹp, là giải pháp tối ưu, tất yếu, vân
vân.
Thế
nên, sơ khởi, tranh luận đă bao hàm:
Có
muốn được ưu thế, muốn bảo
vệ quan điểm, lập trường của ḿnh.
Có
trước một quan diểm, một lập
trường, một luận cứ. Vậy, đă có tiên
kiến.
Càng
tin rằng ở lập luận của ḿnh bao nhiêu, càng
nhiều khả năng tiên kiến trở nên thành kiến,
cứng ngắt “không ǵ lay chuyễn nỗi”, ḿnh càng
đóng kín, càng không nghe hiểu được bên kia.
Cũng
nên ghi: từ thuyết phục đến thuyết
phục cho bằng được, khoảng cách có khi
chẳng đáng kể.
Cho
nên, người tranh luận buộc phải lắng nghe,
nghe rất kỹ, nhưng ḷng không rộng mở, v́ c̣n e
ngại được thua, c̣n mong thắng cuộc. Theo
đó, có lắm tiếng nhiễu, có nhiều màn chắn.
Đôi bên chỉ nắm bắt cái ḿnh muốn nắm
bắt, nghe cái mà ḿnh muốn nghe, không thấu hiểu
những cái khác lạ, những cái mới không thuận
với thói quen cố hữu của ḿnh.
Ngoài
ra, v́ muốn nắm phần thắng, nên phải pḥng
vệ. Phải thủ. Thủ có thể là khép kín, ḿnh trong
tối, đưa đối
phương ra ngoài sáng, dễ cho ḿnh, khó cho người.
Thủ cũng có thể là tấn công tới tấp
buộc đối phương phải chỉ lo chống
đỡ. Cho nên, chỉ cho đối phương
hiểu những ǵ ḿnh muốn họ hiểu; và cũng
chỉ lắng nghe những ǵ cần thiết cho một
sự phản biện hữu hiệu. Bên nây có cao
giọng? Có hùng hồn? Có dẫn giải kinh sách thánh
hiền, hoặc công tŕnh khoa học, th́ bên kia cũng không
kém. Cũng có khi người trong cuộc giữ
được một thái độ từ tốn, ḥa nhă,
nhưng thật sự bên trong th́ nghĩ nhu tất
thắng cương, nhược tất thắng
cường. Mục tiêu vẫn là cái lẽ “tất
thắng”.
Một
dạng phong phú của tranh luận là thảo luận.
Thăo
luận là tranh luận mà giữ được ḥa khí cho
nhau. Có cố gắng biện minh, soi sáng quan điểm
lập trường của ḿnh, nhưng cũng thấy
được cái hợp lư, cái hay, cái đẹp của
người. Có thể xem đó là một cuộc
đối thoại nhằm nhờ người soi sáng cho
ḿnh, và học cái hay, cái đẹp của những quan
điểm, lập trường khác biệt.
Thông
thường, tranh luận dễ biến thành tranh căi.
Luận
c̣n nói ư t́nh, c̣n có luận cứ, c̣n căn cứ ít
nhiều vào những giá trị được công nhận,
vào sự thật dầu rằng sự thật ấy
chủ quan. Tranh căi là nói lư suông, và không thấy
được cái lư của ḿnh là ngang ngược
đối với người khác. Đến lúc này th́
mỗi bên bị cái lư, cái logic của riêng ḿnh dẫn
dắt, để rồi quên mất thực tế
trước mặt, không nhận thức được
diễn biến cuộc diện, không ư thức
được diện biến bên trong chính ḿnh. Càng nói, càng
căi, càng bám chặt lập trường, càng trở nên
cuồng tín. Thế rồi có thể chẳng ai c̣n nghe
được ai. Cho nên, gọi đó là đối
thoại của những người điếc.
Có
những người thiên phú có tài biện bác. Thường
họ hay căi. Cũng có
người có tài ăn nói lưu loát. Ta thường
gặp họ trong những buổi họp, đám tiệc,
cưới hỏi, làm MC, làm hoạt náo viên. Có khi họ
cũng tranh luận, tranh căi, nhằm làm nổi đ́nh
nổi đám, “vui xóm, vui làng.”
Cũng có người tranh luận v́ thích
phô trương, v́ lúc nào cũng phải “nổi” ở
đám đông.
Chúng tôi không nghĩ xấu, cũng không
nghĩ tốt.
Tuy nhiên, không nên v́ một số
người ít ỏi ấy, mà nói rằng người
Việt Nam thich tranh luận hay tranh căi; rồi suy ra
rằng v́ đó mà không ngồi lại với nhau được.
Đa số những người
Việt ḿnh c̣n phải bôn ba,
vật lộn với sinh kế, chịu thử thách
mọi bề. Thêm vào đó những năm tù đày chưa
quên, một số rất đông v́ mất nước mà
gia sản tiêu tan, con cái thất học, có người
mất chồng mất vợ, vết thương vẫn
chưa lành. Thế nên, ḷng c̣n
ngao ngán, khó cởi mở tâm t́nh, chưa sẵn sàng cho
đối thoại, và cũng chẳng có th́ giờ
để hàn uyên với bạn với bè.
Thiết nghĩ cũng đừng v́ cái
thiểu số kia hay đa số này mà nói rằng
người Việt không biết đối thoại.
Đừng quyết đoán. Không nên
cường điệu. Chúng ta không ngồi chung với
nhau được th́ thẳng thắng nhận rằng
trong mỗi chúng ta có một cái ǵ đó đă giữ chúng ta
lại, không cho chúng ta nghe hiểu được tâm tư
của nhau. Cũng đều là tha hương, viễn
xứ, nhưng mỗi người mỗi khác. Ta rơ
điều này, nhưng sao lại buộc rằng ḿnh
phải có một ǵ hơn người, sao không ngưng
một phút, một giây, gịng tư tưởng, những
phỏng định về người kia, để nghe
hiểu được tối đa, lấy dị
biệt làm gương soi, hiểu ḿnh hơn, biết
người hơn.
Nghĩ cho cùng, thân phận con người
là tính dị biệt: âm dương, thị phi, phải
trái, đúng sai, đẹp xấu, hay dỡ, sang hèn,
được thua,.... Không có không khí bao quanh th́ làm ǵ
thấy được cái bàn, cái ghế, cái tô, cái tộ.
Biết được mặn, nồng, vị ngọt
vị bùi, cũng nhờ có khác biệt. Lắm sự
việc tương sinh, tương khắc. Không âm, làm ǵ
có dương, không tiểu nhân, làm ǵ có quân tử. Thiện
ác thường song đôi. Tái ông mất ngựa là việc
hàng ngày của thế sự, xưa cũng như nay. Vă
lại phải trái, thiện ác, đúng sai thường là
tương quan với những tiêu chuẩn của một
xă hội cụ thể, ở những thời đoạn
cụ thể.
Ngưng lại một phút giây, buông bỏ
bớt những nóng vội, những tiên kiến, những
thị phi để ḷng được an tịnh hơn,
để có cơ may nhận định bối cảnh rơ
hơn, nắm bắt được cái khoảng cách
giữa cái vọng trong ta và cái thực ngoài ta.
Ngưng lại một phút giây cũng là
để cho người kia có cơ may ngưng lại ḍng
tư tưởng, những phỏng định, nh́n
trước, nh́n sau, thấy người soi ḿnh.
Cái giây phút ngưng đọng ấy
cần thiết cho cả đôi bên để thảo
luận không biến thành tranh luận, giúp cho những
người đồng cảnh, đồng tâm tư,
đồng sự, thấy gần nhau hơn, trong
tương kính tương thân.
Có nên kết luận bài này bằng câu
chuyện trong cổ văn về
“Năm người mù sờ voi?” hay là chuyện
cặp vợ chồng căi nhau v́ vợ điếc, chỉ
thấy cờ xí tung bay, chồng mù, chỉ nghe trống
chuông inh ỏi, rồi vợ chồng tranh nhau cái phải.
Một bên th́ rơ ràng rằng chẳng nghe trống nghe chuông,
một bên th́ chuông trống inh ỏi thế mà bảo
chẳng có. Thiết nghĩ cũng không nên. Có lẽ
chỉ nên ghi lại một thường t́nh:
Cái lỗi, cái sai chẳng bao giờ ở
ta cả. Cái lỗi, cái sai lúc nào cũng ở ngoài kia,
ở tha nhân, ở thế sự. Ta th́ lúc nào cũng
“đầy thiện chí”, kiên nhẫn, biết trước
biết sau, cái lẽ thật sờ sờ trước
mặt, v́ kẻ kia như mù như điếc, không nghe
hiểu ǵ được một cái ǵ trong lẻ phải
của ta. Thường
t́nh là thế đấy. Giờ đây, một lần
nữa, chung qui lỗi vẫn là tại người Việt Nam;
người Việt Nam chỉ thích tranh luận, tranh căi. Âu
đó cũng là một thường t́nh. Một
thường t́nh tai hại, có thể là của một
mặc cảm tự ti, một thời phút khiếp
nhược. Thật tội nghiệp!