Đối thoại

Nguyễn Văn Trường

 

 


Độc thoại là nói một ḿnh. Thí dụ: Ḿnh tự vấn và tự giải đáp cho ḿnh về một vấn đề; một ông giáo giảng bài cho sinh viên, gần như nói suốt từ đầu giờ, đến cuối giờ, không một ai vấn hỏi, không có trao đổi qua lại, cũng là độc thọai.

Đối thoại là không là độc thoại.

Đối thoại ngầm hiểu phải có ít nhất đôi bên, và có trao đổi qua lại. Thế nên, trong đối thoại phải có ít nhất sự dị biệt của hai hay nhiều bên, và những bên có nghe hiểu nhau. Tư tưởng, t́nh cảm có qua có lại, có ảnh hưởng lẫn nhau.

Vậy, muốn đối thoại phải chấp nhận có dị biệt. Bên kia khác ḿnh, khác ở quan điểm, ở các suy nghĩ, có lắm bất đồng trong lắm vấn đề.

Bên những dị biệt, có ít nhất một tương đồng: đôi bên đều muốn nói chuyện với nhau, muốn lắng nghe, t́m hiểu, muốn gặp nhau đâu đó.

Cho nên, trong đối thoại không nên có tiên kiến, không nên buộc rằng sau cùng rồi người phải theo quan điểm của ḿnh.

Tôi chống cộng, và chống cộng là phải về biên giới Việt Miên Lào, tổ chức nghĩa quân, trường kỳ đánh phá cộng quân; không có một cách nào khác, và phải là tôi lănh đạo, tôi chỉ huy, không một ai có khả năng và đáng tin hơn tôi; đó là điều tiên quyết: chống cộng là nghiêm chỉnh, hiểm nguy, không thể dễ dăi được; nếu nghĩ như thế th́ tôi khó đối thoại với bất cứ ai muốn chống cộng.

Người mà lúc nào cũng nói đúng, làm đúng, lúc nào cũng thành công, cũng tượng trưng cho chân lư, khó đối thoại được với người khác. Đă quen với cái đúng, in trí rằng chẳng lúc nào ḿnh sai lầm hay thất bại, th́ thật khó nghe bắt được lư t́nh của người khác.

Người mà thích phỉnh nịnh, không quen với những giá trị khác lạ cũng khó đối thoại được với tha nhân.

Thế nên, thiên tử -- con của Trời-- quen với nghi lễ triều đ́nh, các quan phải tâu, bái, lạy, rất khó nghe hiểu được sự đói khổ của thần dân của ḿnh.

Dân chủ tập trung, hiểu trong nghĩa của người cộng sản, là thiểu số phải câm mồm trước đa số, không cho phép có đối thoại, giữa hai nhóm thiểu số và đa số.

Nói chung, các chính quyền chuyên chế--thí dụ phát xít, cộng sản, quân chủ chuyên chế--không thích hợp cho sự đối thoại giữa chính quyền và quần chúng hay giữa các nhóm văn hóa, đảng phái chính trị,..., v́ nói khác, làm khác chính quyền là phản động, có thể đi tù, hay bị tử h́nh. Không có đối thoại khi gươm kề cổ, buộc phải nói, nghĩ, làm trong chỉ một chiều.

Các định chế tự do, dân chủ kiểu Âu Mỹ có khả năng thích hợp cho đối thoại hơn.

Cuộc sống vốn bất toàn. Những chế độ dân chủ ở Tây Âu hoặc ở Bắc Mỹ không là hoàn hăo. Những tập đoàn tư bản có khống chế ngôn luận, có khả năng lũng đoạn kinh tế, chính trị, nhưng người dân có những quyền hạn và tự do khá rơ rệt. Cũng nên ghi rằng: tự do không đồng nghĩa với buông trôi theo bản năng, nô lệ ở thị hiếu; không có tự do vô giới hạn, trong đó, mỗi người muốn làm ǵ cũng được; tự do cá nhân bị giới hạn bởi tự do của người khác, bởi luật pháp, phong tục tập quán, định chế chung của xă hội. Chính những qui ước giới hạn những quyền hạn và tự do cá nhân đă trang bị cho con người một ngôn ngữ, một sự hiểu biết, những cử chỉ, thái độ, hành vi thích hợp cho đối thoại.

Lắng nghe là yếu tố quan trọng hàng đầu trong đối thoại, v́ phải thấu hiểu bên kia, mới có đối, có đáp.

Người ta có thể nghe qua cái bắt tay, qua gương mặt, qua một nhíu mày, một thoáng cười, một cử chỉ, một thái độ. Từ “nghe” của Việt Nam ḿnh không chỉ có nghĩa là nghe một âm thanh, mà c̣n có nghĩa là cảm nhận qua các giác quan. Từ “lắng” bao hàm cái ư rằng điều được nghe “đi vào sâu trong trong ḷng người,”  “người nghe có để tâm, để trí  để thấu hiểu những thông điệp của bên kia.” 

Thông điệp là những biểu hiện qua lời nói, giọng nói, cử chỉ, thái độ, gương mặt, nói chung là những tín hiệu phát đi. Thông điệp chuyển nội dung của cuộc đối thoại.

“Lắng” cũng có nghĩa là lắng đọng, không bị quấy nhiễu bên trong.

Hỉ, nộ, ái, ố, vui buồn hờn dỗi là những tiếng nhiễu có thể làm ta không nắm bắt được trọn thông điệp từ bên kia.

Tương tự, những giá trị, những sở đắc, những kinh nghiệm của ta có thể là những bức tường chắn không cho thông điệp  đến nơi như ư.

H́nh ảnh về ḿnh, về bên kia cũng có khả năng là tiếng nhiễu hay bức chắn làm trở ngại cuộc đối thoại.

Cho nên, nói lắng nghe là nghe với một cái tâm và trí lắng đọng, không bị nhiểu, không bị che lấp.

Về phía người phát ra thông điệp cũng thế: những xúc cảm, tiên kiến, thói quen làm cho người phát không diễn tả được như ư mong muốn.

Tiếng nhiễu, màn chắn, những ngăn trở trong việc phát và thâu thông điệp luôn luôn có. Người trong cuộc phải nghe thấy được chúng để giảm thiểu các ảnh hưởng tai  hại của chúng, để biết ḿnh, hiểu người tối đa trong những tâm trạng khác biệt ở mỗi thời lúc. Gọi như thế là tỉnh thức trong đối thoại. Có vậy, mới mong gặp nhau đâu đó, để có một cuộc gặp gỡ phong phú.

Cái biết và hiểu của bất cứ một cá nhân nào cũng có giới hạn, ở chiều rộng, ở chiều sâu. Thường thường, ít ai trút bỏ được giáo dục gia đ́nh, và những giá trị, kiến thức thu lượm trong quá tŕnh sống. Cho nên, phải thật thà nhận thức những giới hạn của chính ḿnh. Thật thà với chính ḿnh cũng nhằm để hiểu ḿnh hơn. Cũng phải thật thà với người, v́ ta muốn thông điệp của ta tải được ư t́nh tới được bên kia. Cho nên, tránh phô trương kiến thức, khả năng, quyền thế, vân vân mà không liên quan ǵ đến bối cảnh. Tránh những câu sáo, những câu quá khiêm tốn nhưng rỗng nghĩa (thường do giáo dục gia đ́nh hay phong tục tập quán), những rào đón, pḥng vệ nói lên sự e ngại phải thua cuộc.

Trong một cuộc đối thoại thẳng thắn, không có ai thua, ai mất một cái ǵ. Chỉ có được mà thôi. Mỗi bên đều học được một cái ǵ ở tha nhân, lấy tha nhân làm gương soi để thấy được ḿnh trong những cảm xúc nghĩ suy. Các bên đều có dịp tập luyện cho tâm trí an b́nh, tập luyện để có những cuộc tiếp xúc trong sáng.

Thái độ pḥng vệ, ḿnh trong tối, các bên kia ở ngoài ánh sáng, là thái độ của người mong thắng cuộc; nó không thích hợp cho đối thoại.

Đối thoại không là đối đầu.

Chúng ta có khác nhau, có lắm dị biệt, có nhiều bất đồng. Nhưng chúng ta cũng có lắm cái chung. Cảnh tha hương viễn xứ. Vết thương ḷng do cộng sản gây nên: những năm tù đày, khổ sai, nhân cách bị chà đạp, gia đ́nh ly tán, con cái thất học. Tâm trí phân đôi: dĩ văng và hiện tại, hội nhập và gốc nguồn.

V́ những tương đồng ấy, chúng ta muốn ngồi lại với nhau, hoặc bàn thảo về những vấn đề của cộng đồng người Việt hải ngoại, hoặc những vấn đề chung của đất nước.

Trong cái tuổi về chiều, con cái đă lớn khôn, biết tự lo lấy cuộc sống của bản thân, tứ thân phụ mẫu không c̣n  vấn đề lớn, th́ những vấn đề của cộng đồng, của môi trường, của quê hương trở lại, mỗi lúc thêm bức thiết.

Tuổi trẻ tiềm năng vô biên, dầu rất bận về công ăn việc làm, về gia đ́nh con cái, vẫn muốn dành thời gian cùng đàn anh, đàn em tham gia những công tác chung. Đâu đâu, cũng có tuổi trẻ thuộc mọi ngành nghề, kỷ sư, bác sĩ, tâm lư gia, gíáo sư,..ở mọi giới, t́nh nguyện tham gia vào những công tác có lợi ích chung: dạy tiếng Việt nam cho các em nhỏ, dạy tiếng Anh cho những gia đ́nh mới đến định cư, giúp đồng bào khai thuế, dạy các lớp thi quốc tịch, tổ chức hội Tết, viết bài, phát hành giai phẩm, nguyệt san, bán nguyệt san,...thật không sao kể hết.

Thế rồi, già trẻ, mọi lứa tuổi, mọi thành phần chúng ta có ngồi lại với nhau trong những vấn đề lớn nhỏ khác biệt.

Tha hưong viễn xứ là cảnh khó. Trong cái khó, cảm nhận được gần nhau hơn, có nhau hơn, là một an ủi, một tái trang bị thần to lớn.

Tuy nhiên, âm vang chung và đậm nét là chúng ta chẳng ai nghe được ai. Người ta có cảm tưởng rằng chúng ta ngồi lại với nhau để phê phán, chỉ trích nhau, tạo hồ nghi, gây khoảng cách, đào hố sâu giữa chúng ta. Theo đó, cộng đồng chúng ta bị phân hóa thành trăm ngh́n mảnh. H́nh ảnh người Việt Nam ở hải ngoại là những nhóm nhỏ, thật nhỏ, gói ḿnh trong một mặc cảm, mặc cảm kẻ mới người cũ, mặc cảm thành công, thất bại, v. v., lúc nào cũng pḥng vệ, hoài nghi, chia rẽ.

Chúng ta có thành tâm, thiện ư. Chúng ta có phương tiện: mỗi năm, tổng số tiền người Việt hải ngoại gởi về cho gia đ́nh hoặc tiêu xài ở Việt Nam được ước lượng trên một tỷ đô la. Chúng ta có khả năng: nhiều thương gia, kỹ nghệ gia, ... đă thành công lớn; riêng ở Mỹ, mỗi năm có hơn 400 bác sĩ Việt Nam tốt nghiệp, số kỹ sư và các ngành nghề khác th́ càng đông hơn nữa.

Chúng ta đă thành công v́ chúng ta lắng nghe được môi trường, đối thoại được với nền văn hóa mới.

Nhưng h́nh như cũng sự thành công đó đă góp phần che mắt, bịt tai không cho phép chúng ta lắng nghe lẫn nhau, đối thoại với nhau. Cũng có thể v́ thất bại, rồi rút vào cái cái tháp ngà của ḿnh, để thế sự ngoài tai mắt, nghi ngờ thiện chí, thiện ư của mọi người.

Nghi ngờ là phải, v́ trong đời có ai hoàn hảo đâu. Sức người, khả năng cá nhân, vốn giới hạn. Nhưng cũng v́ đó mà phải cho phép khả năng  lầm lẫn, điều chính yếu là phải biết xử lư cái sai; có thật tâm thành ư sửa sai hay không mới là vấn đề. Hơn nữa, mọi việc đều đ̣i hỏi thời gian. Chỉ cái học đơn giản cho có cái nghề sinh nhai cũng phải tính từ 4 hay 5 năm. Vậy không nóng vội. Người nóng vội không lắng nghe được bất cứ ai, họ chỉ nghe được những ǵ liên quan với cái họ đang mong chờ.

Chúng ta hiểu ngồi lại với nhau là cần thiết, nhưng chưa đủ. Chúng ta cũng hiểu rằng chúng ta có khả năng tạo một sức mạnh, đáng kể, đáng nể, buộc mọi chính quyền phải lưu tâm, trong đó có chính quyền địa phương, và chính quyền cộng sản hiện đang làm khổ đồng bào, gia quyến ta.

Chúng ta cũng kinh nghiệm rằng  có một cái ǵ đó đang cản trở, không cho chúng ta đối thoại hữu hiệu với nhau, để  gặp nhau đâu đó.

Đó là vấn đề thiết thân cho mọi người Việt hôm nay ở hải ngoại, nhất là trong bối cảnh đang có bang giao b́nh thường giữa Mỹ và cộng sản Việt Nam.

Người cộng sản v́ tin rằng ḿnh là “lương tri của thời đại”, “đỉnh cao của trí tuệ”, đă “nắm được hướng đi của lịch sử”, đă không nghe được tiếng rên siết của tang tóc, của đói khổ, của biệt ly, của cảnh con thiếu cha, vợ vắng chồng, mơi ṃn chờ đợi.

Chúng ta, những người không cộng sản, không có cái sắc máu, tàn nhẫn, bạo lực của các chế độ chuyên chế. Chúng ta chấp nhận sống với chế độ tự do dân chủ của Tây Phương. Nó không hoàn hảo, nhưng thực tiển. Trong những giới hạn cụ thể, chúng ta có những tự do nhất định, và mọi người có thể tham gia một cách b́nh đẳng. Trong xă hội này, sự tương nhượng, gặp gỡ nhau đâu đó ở “giữa đường” là tiên quyết. Không có kẻ hoàn toàn thắng, hoàn toàn bại. Có khó khăn, có thử thách, nhưng không có con đường cùng cho những người có thành tâm, thiện chí, có sức khỏe muốn vươn lên. Trong một xă hội như thế, đương nhiên phải biết nghe hiểu nhau, đương nhiên phải biết đối thoại. Chúng ta đă thành công phần nào trong đối thoại với nền văn hóa mới, những con người mới, những giống dân mới. Giờ đây, ḿnh với ḿnh, người Việt với người Việt, cùng một ngôn ngữ, cùng một cách sống, cùng là nạn nhân cộng sản, cái ǵ đă làm chúng ta không nghe được nhau, không gặp được nhau?

Có người bảo: “Người Việt Nam ta thích tranh luận hơn đối thoại.”

Trong tranh luận cũng có qua có lại, có vấn có đáp, có cố lắng nghe, cố hiểu, và theo đó, có học hỏi. Có những tranh luận rất phong phú.

Tuy nhiên, đă nói tranh th́ phải có thiệt có hơn.  “Tranh luận” đă bao hàm cái ư muốn thắng cuộc, muốn tranh đua hơn kém, và có ngại bị thua thiệt. Thường thường, mỗi bên đều có một quan điểm, lập trường, căn cứ vào một luận cứ “rất vững chắc.” Bên nây cố thuyết phục bên kia nghe, hiểu, và chấp nhận rằng những điều ḿnh nêu là đúng, là phải, là hay, là đẹp, là giải pháp tối ưu, tất yếu, vân vân.

Thế nên, sơ khởi, tranh luận đă bao hàm:

Có muốn được ưu thế, muốn bảo vệ quan điểm, lập trường của ḿnh.

Có trước một quan diểm, một lập trường, một luận cứ. Vậy, đă có tiên kiến.

Càng tin rằng ở lập luận của ḿnh bao nhiêu, càng nhiều khả năng tiên kiến trở nên thành kiến, cứng ngắt “không ǵ lay chuyễn nỗi”, ḿnh càng đóng kín, càng không nghe hiểu được bên kia.

Cũng nên ghi: từ thuyết phục đến thuyết phục cho bằng được, khoảng cách có khi chẳng đáng kể.

Cho nên, người tranh luận buộc phải lắng nghe, nghe rất kỹ, nhưng ḷng không rộng mở, v́ c̣n e ngại được thua, c̣n mong thắng cuộc. Theo đó, có lắm tiếng nhiễu, có nhiều màn chắn. Đôi bên chỉ nắm bắt cái ḿnh muốn nắm bắt, nghe cái mà ḿnh muốn nghe, không thấu hiểu những cái khác lạ, những cái mới không thuận với thói quen cố hữu của ḿnh.

Ngoài ra, v́ muốn nắm phần thắng, nên phải pḥng vệ. Phải thủ. Thủ có thể là khép kín, ḿnh trong tối, đưa  đối phương ra ngoài sáng, dễ cho ḿnh, khó cho người. Thủ cũng có thể là tấn công tới tấp buộc đối phương phải chỉ lo chống đỡ. Cho nên, chỉ cho đối phương hiểu những ǵ ḿnh muốn họ hiểu; và cũng chỉ lắng nghe những ǵ cần thiết cho một sự phản biện hữu hiệu. Bên nây có cao giọng? Có hùng hồn? Có dẫn giải kinh sách thánh hiền, hoặc công tŕnh khoa học, th́ bên kia cũng không kém. Cũng có khi người trong cuộc giữ được một thái độ từ tốn, ḥa nhă, nhưng thật sự bên trong th́ nghĩ nhu tất thắng cương, nhược tất thắng cường. Mục tiêu vẫn là cái lẽ “tất thắng”.

Một dạng phong phú của tranh luận là thảo luận.

Thăo luận là tranh luận mà giữ được ḥa khí cho nhau. Có cố gắng biện minh, soi sáng quan điểm lập trường của ḿnh, nhưng cũng thấy được cái hợp lư, cái hay, cái đẹp của người. Có thể xem đó là một cuộc đối thoại nhằm nhờ người soi sáng cho ḿnh, và học cái hay, cái đẹp của những quan điểm, lập trường khác biệt.

Thông thường, tranh luận dễ biến thành tranh căi.

Luận c̣n nói ư t́nh, c̣n có luận cứ, c̣n căn cứ ít nhiều vào những giá trị được công nhận, vào sự thật dầu rằng sự thật ấy chủ quan. Tranh căi là nói lư suông, và không thấy được cái lư của ḿnh là ngang ngược đối với người khác. Đến lúc này th́ mỗi bên bị cái lư, cái logic của riêng ḿnh dẫn dắt, để rồi quên mất thực tế trước mặt, không nhận thức được diễn biến cuộc diện, không ư thức được diện biến bên trong chính ḿnh. Càng nói, càng căi, càng bám chặt lập trường, càng trở nên cuồng tín. Thế rồi có thể chẳng ai c̣n nghe được ai. Cho nên, gọi đó là đối thoại của những người điếc.

Có những người thiên phú có tài biện bác. Thường họ hay căi.  Cũng có người có tài ăn nói lưu loát. Ta thường gặp họ trong những buổi họp, đám tiệc, cưới hỏi, làm MC, làm hoạt náo viên. Có khi họ cũng tranh luận, tranh căi, nhằm làm nổi đ́nh nổi đám, “vui xóm, vui làng.”

Cũng có người tranh luận v́ thích phô trương, v́ lúc nào cũng phải “nổi” ở đám đông.

Chúng tôi không nghĩ xấu, cũng không nghĩ tốt.

Tuy nhiên, không nên v́ một số người ít ỏi ấy, mà nói rằng người Việt Nam thich tranh luận hay tranh căi; rồi suy ra rằng v́ đó mà không ngồi lại với nhau được.

Đa số những người Việt  ḿnh c̣n phải bôn ba, vật lộn với sinh kế, chịu thử thách mọi bề. Thêm vào đó những năm tù đày chưa quên, một số rất đông v́ mất nước mà gia sản tiêu tan, con cái thất học, có người mất chồng mất vợ, vết thương vẫn chưa lành.  Thế nên, ḷng c̣n ngao ngán, khó cởi mở tâm t́nh, chưa sẵn sàng cho đối thoại, và cũng chẳng có th́ giờ để hàn uyên với bạn với bè.

Thiết nghĩ cũng đừng v́ cái thiểu số kia hay đa số này mà nói rằng người Việt không biết đối thoại.

Đừng quyết đoán. Không nên cường điệu. Chúng ta không ngồi chung với nhau được th́ thẳng thắng nhận rằng trong mỗi chúng ta có một cái ǵ đó đă giữ chúng ta lại, không cho chúng ta nghe hiểu được tâm tư của nhau. Cũng đều là tha hương, viễn xứ, nhưng mỗi người mỗi khác. Ta rơ điều này, nhưng sao lại buộc rằng ḿnh phải có một ǵ hơn người, sao không ngưng một phút, một giây, gịng tư tưởng, những phỏng định về người kia, để nghe hiểu được tối đa, lấy dị biệt làm gương soi, hiểu ḿnh hơn, biết người hơn.

Nghĩ cho cùng, thân phận con người là tính dị biệt: âm dương, thị phi, phải trái, đúng sai, đẹp xấu, hay dỡ, sang hèn, được thua,.... Không có không khí bao quanh th́ làm ǵ thấy được cái bàn, cái ghế, cái tô, cái tộ. Biết được mặn, nồng, vị ngọt vị bùi, cũng nhờ có khác biệt. Lắm sự việc tương sinh, tương khắc. Không âm, làm ǵ có dương, không tiểu nhân, làm ǵ có quân tử. Thiện ác thường song đôi. Tái ông mất ngựa là việc hàng ngày của thế sự, xưa cũng như nay. Vă lại phải trái, thiện ác, đúng sai thường là tương quan với những tiêu chuẩn của một xă hội cụ thể, ở những thời đoạn cụ thể.

Ngưng lại một phút giây, buông bỏ bớt những nóng vội, những tiên kiến, những thị phi để ḷng được an tịnh hơn, để có cơ may nhận định bối cảnh rơ hơn, nắm bắt được cái khoảng cách giữa cái vọng trong ta và cái thực ngoài ta.

Ngưng lại một phút giây cũng là để cho người kia có cơ may ngưng lại ḍng tư tưởng, những phỏng định, nh́n trước, nh́n sau, thấy người soi ḿnh.

Cái giây phút ngưng đọng ấy cần thiết cho cả đôi bên để thảo luận không biến thành tranh luận, giúp cho những người đồng cảnh, đồng tâm tư, đồng sự, thấy gần nhau hơn, trong tương kính tương thân.

Có nên kết luận bài này bằng câu chuyện trong cổ văn về  “Năm người mù sờ voi?” hay là chuyện cặp vợ chồng căi nhau v́ vợ điếc, chỉ thấy cờ xí tung bay, chồng mù, chỉ nghe trống chuông inh ỏi, rồi vợ chồng tranh nhau cái phải. Một bên th́ rơ ràng rằng chẳng nghe trống nghe chuông, một bên th́ chuông trống inh ỏi thế mà bảo chẳng có. Thiết nghĩ cũng không nên. Có lẽ chỉ nên ghi lại một thường t́nh:

Cái lỗi, cái sai chẳng bao giờ ở ta cả. Cái lỗi, cái sai lúc nào cũng ở ngoài kia, ở tha nhân, ở thế sự. Ta th́ lúc nào cũng “đầy thiện chí”, kiên nhẫn, biết trước biết sau, cái lẽ thật sờ sờ trước mặt, v́ kẻ kia như mù như điếc, không nghe hiểu ǵ được một cái ǵ trong lẻ phải của ta. Thường t́nh là thế đấy. Giờ đây, một lần nữa, chung qui lỗi vẫn là tại  người Việt Nam; người Việt Nam chỉ thích tranh luận, tranh căi. Âu đó cũng là một thường t́nh. Một thường t́nh tai hại, có thể là của một mặc cảm tự ti, một thời phút khiếp nhược. Thật tội nghiệp!