Đức Khiêm Cung
của người tu học
Hồ Đắc A-Trang
Nguyễn Văn Trường
Trong
bài này chúng tôi cố gắng nói lên sự quan trọng và
cần thiết của đức tính khiêm cung cho những
người tu học. Chúng tôi cũng muốn nhấn
mạnh trên một xác quyết, nghe qua như là một nghịch
lư. Đó là: Khiêm Cung mà không
phải là khiêm cung mới thật sự là khiêm cung.
1. Định nghĩa.
1.1. Tu học.
Tu là sửa, sửa sao cho
cuộc sống bản thân mỗi lúc mỗi thích nghi
với môi trường, với bối cảnh. Nói rộng
hơn, tu là cải thiện bản thân. Cải thiện là làm cho cuộc
sống của ḿnh tốt hơn, dễ chịu hơn,
thoải mái hơn, đại loại như vậy.
Quá
tŕnh cải thiện là một quá tŕnh liên tục, không
ngưng nghỉ, suốt cuộc đời. Trong cỏi ta
bà này, không có cái thiện rốt ráo, hoàn mỹ, tuyệt
đối.
Học là học với người xưa, người
nay, ở sách vở, kinh kệ, ở kinh nghiệm bản
thân. Trong học có hỏi, có nghĩ suy, biện bạch,
đổi trao và thực hành.
Tri
và hành là hai yếu tố chánh yếu của việc
học. Xưa có thuyết tri
dị hành nan, có thuyếùt tri nan hành dị, và cũng có thuyết
tri hành hợp nhất. Trong thực tế, giữa tri và
hành không mấy khi không có khoảng cách. Nhờ cái khoảng
cách ấy, mà ta thấy được rằng hoặc
biết chưa đến nơi đến chốn,
hoặc trong ta c̣n thiếu nhiều đức tánh
để thi hành được những ǵ ta nghĩ
cần thiết cho việc cải thiện. Cải
thiện có thể là bằng cách tu sửa bản thân,
tạo điều kiện cho cái khoảng cách ấy thu
hẹp lại.
1.2. Khiêm cung
Khiêm
cung là một đức tính.
Khiêm
là khiêm tốn, khiêm nhường. Ngầm hiểu một
sự nhún nhường, nhũn nhặn.
Cung
là cung kính. Ngầm hiểu một sự tôn trọng tha
nhân, tôn trọng môi trường sống, cùng là dành cho tha
nhân và môi truờng một sự lưu tâm chú ư đặc
biệt. Tôn trọng không có nghĩa là che dấu một
tự ti hay tự tôn mặc cảm bằng một lớp
áo ngoài khiêm nhường trong xử thế. Tôn trọng là xác nhận tha nhân,
ngoại vật có quyền tồn tại, có những nét
đặc thù, bất khả xâm phạm. Nói riêng, ḿnh và
người b́nh đẳng, không hơn, không kém.
Đức
khiêm cung biểu hiện trong
lời lẽ, cử chỉ, thái độ, hành vi, thậm
chí trong cách đi đứng ăn mặc, nói chung trong
nếp sống hàng ngày của con người. Làm ḿnh
nhỏ bé, không nhằm để che dấu một mặc
cảm mà thật ḷng thấy ḿnh nhỏ bé trước cái
bao la và phức tạp của vủ trụ, th́ đó có
thể là dấu hiệu cụ thể của tính khiêm cung.
Đối
nghịch với đức khiêm cung là tính cao ngạo, kiêu
căng, hănh diện quá mức về ḿnh. Thấy ḿnh cao
hơn, hay hơn người, giỏi hơn người,
rồi ngạo mạn, kiêu căng, xem trời bằng vung,
là một tâm thức giới hạn việc học hỏi
và tu sửa. Đă hay, đă tốt, đă giỏi, đă
đúng, con người đến được như
thế là cùng, th́ học
hỏi làm chi nữa, tu sửa làm chi nữa. Thiếu
đức khiêm cung là một rrở ngại lớn cho
việc tu học.
Nói
chung, nói tu học hay khiêm cung là nói quan hệ giữa cá
thể người tu học và môi trường, là xác
quyết không thể tách rời cá thể ra khỏi môi
trường.
Ḿnh
và môi trường chung quanh tuy hai mà là một. Cái ly
nước trước mặt tôi, tuy khác khoảng không
gian chung quanh nó, khác một cách rơ ràng, cách biệt. Cái này
không là cái kia. Nhưng nếu
không có khoảng không gian bao quanh, th́ không thể nào thấy
được cái ly. Vậy, cái ly không là không gian bao quanh,
nhưng không gian bao quanh xác định cái ly. Và ngược
lại. Cái này do cái kia mà hiện hữu, cái này là nhân và cái
kia là quả và ngược lại.
V́ vậy, nên nói: cái ly và không- gian- bao- quanh-
nó là tương khắc mà cũng tương sinh.
Cũng
tương tự, ḿnh và môi trường, ta và môi
trường, tôi và môi trường sống của tôi, là
hai thực thể bất khả phân, tương khắc
đồng thời cũng tương sinh.
Cho
nên, mọi thay đổi trong
bản thân đều có
khả năng tác động trên môi trường, và
mọi thay đổi môi
trường đều có ít
nhiều ảnh hưởng
trên những cá thể sống trong môi trường đó.
Ở
đây, chúng ta cũng xác quyết ḷng muốn cải
thiện bản thân của người tu học b́nh
thường trong một bối cảnh b́nh thường.
Những
truyền thuyết như Hứa Do, Sào Phủ, Bá Di, Thúc
Tề những trường hợp đặc thù
đại diện cho sự trung thành mù quán hay cho một
sự khư khư ôm giữ các tiên kiến, sẽ không
được đặt ra trong bối cảnh bài này.
Những
tư tưởng như lánh đời t́m đạo,
đi vào thâm sơn cùng cốc, cũng không đăt ra v́
quá đặc thù riêng lẻ, gần như không có. Nghĩ
cho cùng, những người xuất gia, các tu sĩ gịng kín
ngày nay chỉ có thể là những cá thể sống trong
một tổ chức cộng đồng thu hẹp
của các gịng tu.
1.3. Đạo?
Tu
học cũng ngầm hiểu là tầm Đạo, đi
vào Đạo, và có thể có mục tiêu là đạt
Đạo.
Về
việc này, nói chuyện trên trời th́ dễ. Mua indulgences,
ấn tống, góp công, góp của xây chùa, thánh
đường, rồi đạt đạo,
được phước báu cho người hoặc cho
ḿnh: hoặc ta tin, hoặc không tin, không có chi phải bàn căi.
Chuyện
con người mới khó. Người xưa vẫn than:
làm người khó! làm người khó! Khó v́ nó phức tạp vô cùng
tận, khó v́ bể dâu tang điền, v́ “không một ai
tắm được hai lần cùng trong một gịng sông”,
v́ gịng đời không ngừng trôi chảy, đổi thay,
không điểm đến. Cũng khó là v́ ta kiểm
nghiệm được, không phải nói dối, nói cho qua
mà được.
Mục
tiêu của chúng ta hôm nay là mượn đề tài làm duyên,
để bàn về cái đạo làm người.
Khiêm
cung để tu học. Tu và học làm người. Lúc nào cũng đạt và lúc nào
cũng không đạt.
Để
khai triển cái học làm người, tôi xin mượn
từ ngữ và một cách nh́n của Phật gia. Tôi vẫn nghĩ, dầu là vay
mượn trong Phật gia, những điều nêu sau
đây không mâu thuẫn, với đức tin của các tín
hữu Công Giáo, Cao Đài, Phật Giáo Ḥa Hảo, và có
thể nhiều tôn giáo khác. Trái lại trong một giới
hạn nào đó, chúng có thể giúp cho quí vị tín hữu
này thấy trung thực những giới hạn của
thế gian, trong đó có chính ḿnh, và theo đó sống
thật hơn, và sống thêm một kích thước khác
của tâm linh, trong đó có niềm tin, tin ở con
người, tin ở sự toàn mỹ của Đức
Phật, của Đấng Chí Tôn, của Đức Chúa
Trời.
2. Vô thường. Vô Ngă. Không
2.1. Vô
Thường
Trong
một buổi thuyết tŕnh, một vị bác sĩ cho
biết rằng 98% toàn thể tế bào trong thân thể con
người đều được thay thế trong ṿng
5 năm.
Về tâm linh, thiết nghĩ, những lo âu, vui, buồn,
hờn, giận, những kinh nghiệm ở trường
đời, những suy tư—nói chung, tư duy và cảm
xúc—là nhân và quả cho những đổi thay tâm linh không
ngưng nghỉ.
Mỗi khoảnh khắc đều có
những tế bào bị thay thế, có những tư
tưởng, xúc cảm chết đi để phát sinh
những tư tưởng mới, xúc cảm mới.
Cuộc sống nhờ vậy mà tồn tại. Cuộc
sống là một chuổi dài
những tử sinh, sinh tử.
Nói rộng ra,
Tiên Đề 1: Mọi sự
việc đều vô thường, hiểu trong cái nghĩa
luôn luôn biến đổi, không một khắc giây ngưng
nghỉ.
2.2. Vô Ngă
Ngă
là tôi. Cái nhà của tôi, cái xe của tôi, vợ con tôi, cha
mẹ tôi, gia đ́nh tôi, tôi nghĩ thế nầy, thế
khác, và c̣n lắm cái của tôi khác nữa.
Cái
TÔI ấy có thể xác định bằng thể xác, trí
tuệ, tâm linh của tôi, với những luân thường
đạo lư, giá trị, cách sinh sống của tôi, nó chung
là cả một tổng thể ít nhiều phức tạp,
khó mà mô tả đúng thành lời.
Cái
TÔI có thể được xác định bằng cái
VŨ TRỤ BAO QUANH TÔI (VTBQT), gồm tha nhân, vạn
vật và khí uyển bao quanh tôi.
TÔI và VTBQT tương
khắc, tương sinh. TÔI và VTBQT khác nhau nhưng xác
định lẫn nhau.
V́
mọi sự việc đều vô thường, nên TÔI và
VTBQT lúc nào cũng biến đổi, nói riêng trong khoảng
trăm năm đời người.
Vậy,
phải nh́n sự việc— thí dụ, nh́n TÔI và tha nhân,
hoặc TÔI và VTBQT—trong quá tŕnh biến đổi của
sự việc.
Nói vô
ngă là xác quyết lại rằng con người hay bất
cứ sự việc nào đều không có cái TÔI bất
biến cũng không có một VTBQT
bất biến. Nói riêng, quan hệ giữa
người với người, người với vũ
trụ luôn biến
đổi.
Trong
cái nghĩa rơ ràng này, th́ tiên đề 2 sau đây chỉ là
một hệ luận của tiên đề 1:
Tiên đề 2: Mọi sự
việc đều vô ngă.
Cũng
tiên đề 2 mà nói một cách khác là:
Mọi sự việc đều không có
tự tính.
Vô
ngă hay không có tự tính là hai cụm từ đồng
nghĩa. Nghĩa của chúng là: không có cái TÔI VĨNH
HẰNG BẤT BIẾN cũng như không có cái VTBQT VĨNH
HẰNG BẤT BIẾN và mọi quan hệ trong vũ
trụ đều không ngừng đổi thay. Nhưng vô
ngă không phủ định quá tŕnh biến đổi. Trái
lại, vô ngă xác quyết tính vô thường của sự
vật và buộc phải nh́n sự vật trong quá tŕnh
biến đổi của nó.
2.3. Vọng Ngă
Nói
th́ dễ, nhưng trong
cuộc sống hàng ngày, hầu hết ai ai cũng nghĩ
có một một cái TÔI “trước sau như
một”, bất biến. Cái Tôi ấy có thể là h́nh hài,
tư cách, học thức, tài khéo, nói chung là một tổng
thể giúp ta tự tin, làm việc, xử thế trong sinh
sống hàng ngày. Đó chỉ là ảo vọng về tính
bất biến của cái TÔI. Cho nên gọi nó là vọng ngă
hay ngă vọng.
Vọng ngă là cần thiết.
Nhưng
nó cũng là mầm, nguồn, nền tảng cho mọi phân
biệt, so sánh, hơn thiệt, được thua,
thương ghét, hờn ghen, vui thú, theo đó là nguồn và
nền tảng của những xáo trộn và giông bảo
tâm linh. Nói riêng, vọng ngă là cơ sở cho sự cao
ngạo, kiêu căng. Một
phương pháp để tránh không bị quanh
quẩn trong trận đồ vọng ngă là hành vô trụ
như sau đây.
2.4. Không và vô trụ
Nhận
xét tiên khởi: Cái biết và đúng thế gian.
Một
sự việc A xảy ra ở thời điểm T.
Muốn nhận thấy nó, ta phải dùng giác quan, nếu là
mắt, th́ phải có thời gian t
ánh sáng đi từ sự việc đó đến
mắt ta, và phải có thời gian t’ chuyển cảm giác
từ mắt đến năo bộ. Nói cách khác là ta nhận
thức được chỉ sau một tíc tắc là t+t’. Ở
thời điểm T+t+t’ –thời điểm nhật
thức sự việc A—th́ sự việc đă khác
đi rồi. Khi ta thấy
được sự việc th́ sự việc đă biến
khác đi rồi. Vậy lúc nào ta cũng thấy các sự
việc trong quá khứ .
Ngoài
ra, ta bị giới hạn bởi khả năng của
giác quan. Tùy góc nh́n ṿng tṛn mà ta thấy ṿng tṛn ấy là
một ṿng tṛn, hay h́nh ellipse, hay một đoạn
thẳng. Với mắt trần ta có thể thấy hai tinh
tú là một. Vậy thêm một yếu tố sai lạc.
Nếu
ta dùng dụng cụ để cho giác quan của ta
được nối dài, để nhận thức
của ta được chính xác hơn, th́ ta cũng bị
giới hạn bởi các dụng cụ. Bất cứ
một đo lường nào đều gần đúng, nói
cách khác là: ít nhiều không đúng. Đó là một
đặc điểm của khoa học, và nói riêng của
xác suất, mà càng ngày ảnh hưởng càng lan rộng, và
ăn sâu trong đời sống.
Vậy,
càng phải nghĩ rằng cái đúng chỉ trong giới
hạn của những xác xuất, trong ước
lượng của độ sai.
Vậy,
tiên đề 3: Cái biết
thế gian không đúng.
Cũng
phải ghi là càng ngày xă hội loài người càng
đậm nét tính đa văn hóa. Trong cái khối văn hóa
lớn, thí dụ văn hóa Hoa Kỳ, có những nền
văn hóa nhỏ Á, Âu , Đen, Trắng, Da Đỏ, có cái
văn hóa của giới luật sư, kỷ sư, bác
sĩ, thợ tiện, thợ
nề, nghệ sĩ, mỗi ngành nghề có một
ngôn ngữ, tập tục, nếp sống riêng, một luân
thường đạo lư riêng. Và nếu tiếp tục,
phân nhỏ măi, th́ ta sẽ thấy bất cứ cá nhân nào
cũng mang một nền văn hóa cá biệt. V́ mỗi cá
nhân có thể thuộc nhiều thành phần xă hội khác
nhau: khu phố, tuổi tác, nghề nghiệp, họ
hàng,...., nên những giá trị của nền văn hóa cá
nhân là tổng thể của các nền văn hóa của các
thành phần xă hội mà họ là thàønh viên.
Vậy,
khi nói đúng th́ phải hiểu rằng đúng
tương đối với những giá trị văn hóa
nào, ở thời điểm nào, đúng với ai, trong
những giới hạn nào.
Vậy,
tiên đề 4: Cái đúng
thế gian là tương đối. Nói rơ hơn là: đúng
đối với một thang giá trị cụ thể trong
ở thời điểm cụ thể.
Đức
khiêm cung của người tu học trong lư thuyết
Thiết
nghĩ, người tín hữu Phật giáo, Công giáo, Cao
Đài, Ḥa Hăo, hay bất cứ đạo giáo nào
đều có thể dễ dàng chấp nhận các tiên
đề nêu trên trong việc tu tập. Và nếu trong quá
tŕnh tu tập người tín hữu thấy, biết,
hiểu và sống được như nêu trong các tiên
đề trên, th́ sẽ không c̣n một thang giá trị
vững bền nào, một nền tảng vững bền
nào là cơ sở cho sự cao ngạo của ḿnh. Mọi
giá trị đều tương đối trong thời
gian và không gian, đều đổi thay từng sát na
một, th́ vin vào đâu để kiêu căng, cao ngạo.
V́ vậy, tính cao ngạo tự nhiên rơi mất,
triệt tiêu, và theo đó, bên ngoài nh́n vào th́ thấy rơ
người ấy khiêm cung trong tư cách, lời nói,
cử chỉ, thái độ, hành vi, nhưng tự thân,
người ấy không nghĩ, biết là ḿnh khiêm cung trong
đối xử. Đó là
khiêm cung, mà không cần biết ḿnh (hay không để ư) ḿnh
có khiêm cung hay không.. Thiết nghĩ đó là một trong
những điều mà người tu học cần
đạt đến.
Đức
khiêm cung và thực tế tu học
Trong
thực tế,
-
Có người v́ nghĩ rằng mọi sự việc
đều vô ngă, cuộc sống vốn vô thường.
Thôi th́, “nếm mùi đời cho đủ thứ mà
chơi”, chơi cho đă, cho thỏa; đời
người như bóng câu, thoắt một cái tuổi già
sừng sựng ngay ngưởng cửa, theo đó, túng
dục, phóng dục, ăn vội, ở th́, “thà một phút
huy hoàng rồi chợt tắt, hơn là ngọn đèn leo
lét suốt thâm canh”, bất chấp luân thường
đạo lư. Thế rồi làm con thiêu thân cho bản
năng, làm hại cho bản thân, cho gia đ́nh, cho xóm làng,
và có khi một cách ư thức. Thường th́ những
người này bất cần tu học.
-
Cũng có người đi t́m vô ngă trong một cách
sống khổ hạnh, diệt dục, đè nén bản
năng, bằng đức tin, bằng những giá trị
tinh thần, điều này có khả năng tạo nên
những xáo trộn tinh thần, mà có khi trầm trọng,
và theo đó đem xáo trộn cho môi trường.
-
Cũng có người nghĩ kiếp này ta trả nợ
vay kiếp trước, hoặc cho vay để
hưởng phúc lạc kiếp sau, nên bây giờ hy sinh
mọi lạc thú, làm mất ḿnh v́ mọi người.
Và
có thể c̣n nhiều trường hợp khác.
Chúng
tôi không nêu lên những trường hợp này để bàn
thảo. Chúng tôi mượn đó làm duyên để ghi
rằng sống vô thường, vô ngă không có nghĩa là cố chấp,
bám chặt cái ư niệm, tiên kiến rằng mọi sự
việc đều không tự tánh.
Lấy
cái học về vô thường, vô ngă, rồi áp dụng ư
niệm học được cho sự vật để
suy luận, th́ chỉ là một tṛ chơi trí tuệ,
như giảng một bài toán đố ít nhiều phức
tạp, chớ không là tu, là tập, là hành động tu
học.
Lấy
cái học về vô thường, vô ngă rồi cắt xén,
đục đẻo cuộc sống bản thân, sao cho nó
thu gọn được trong ư niệm vô thường, vô
ngă, theo kiến thức học hỏi—thí dụ học
ở kinh luật, ở thầy, ở thiện tri
thức— có thể là một việc điên rồ và nguy
hiểm.
Theo
ngón tay của Đức Phật ta thấy trăng,
nhưng ngón tay của Đức Phật không là trăng.
Cho nên, người tu học có học kinh luật, có nghe
giảng dạy, nhưng chánh yếu vẫn là sống
trực tiếp với cái đang xảy ra của sự việc, trực
tiếp với gịng đời. Trăng nằm ngay trong
gịng đời. Trăng không ở nơi những ư
niệm già nua, khô cằn của kiến thức trong kinh
luận. Thể thường, lúc nào trong tu học cũng
có những ray rức, bâng khuâng, giữa vọng và chân,
giữa vọng ngă và cái không tự tính của sự
việc. Và điều này, có thể gây ra bi kịch. Do
đó vui buồn, thương ghét là việc b́nh
thường, không có ǵ phải trốn tránh. Tu học không
có nghĩa là chạy trốn, mà là giáp mặt với
cuộc đời.
Cho
nên, thấy, hiểu, biết, tiếp cận, kinh
nghiệm sự diễn biến của sự vật trong
mỗi thời lúc là việc tu học.
Trái
lại, học để tích tụ kiến thức, tích
tụ những kinh nghiệm, làm giàu kho tàng tri thức
của ḿnh, cũng cố và nới rộng các sở
đắc của bản thân, hoặc lánh đời, thu
h́nh trong am cốc hay trong một ảo ảnh đạo
hạnh giới cấm nào đó, có khi là mầm và cơ
sở cho cao ngạo. Một sự cao ngạo mà không
thấy ḿnh cao ngạo, mới là đáng sợ, v́ nó
được che dấu trong một lớp xử thế
khiêm tốn, nhúng nhường, một tư cách mà không nghe
một lời chê trách.
Như
vậy,
Tu học là tu tập nhằm không cột con người—trong
đó có ḿnh— hay sự vật vào một thời
điểm, vào một tiên kiến. Nói rơ hơn là: không
chấp trước bấc cứ cái chi, bất cứ
một giá trị nào, nói riêng,
không chấp rằng mọi sự việc đều
bất biến, cũng không chấp trước rằng
mọi sự việc đều không có tự tính, mà
phải nh́n thật, sống thật, bắt gặp sự
việc trong quá tŕnh diễn biến của nó. Nói cách khác,
không bám giữ bất cứ
một ư niệm nào, một chân lư nào, một thang giá
trị nào. Chúng tôi thường gọi như thế là vô
trụ, không trụ vào bất cứ cái chi, không trụ
cả vào ư niệm vô trụ.
Có
người bảo:”Vô trụ thật đơn giản,
biết mọi việc đều là vọng (vô
tướng) th́ bám vào nó làm ǵ. Hăy bỏ vọng th́ tự
nhiên cái chân thật hiện tiền.”
Thiết
nghĩ : cái thông tục, cái hằng ngày ta sống là
vọng, Cuộc sống của ta là như vậy, là
vọng, th́ có thể bỏ vọng, vọng tưởng,
vọng tâm, vọng tướng, được
chăng? Thật là khó, v́ cái không đúng, cái gần đúng,
và vọng là đặc tính
thế gian, là thân phận con người. Như vậy,
lời khuyên rằng bỏ vọng t́m chân, cái chân thật
rốt ráo, không có nghĩa là t́m cách triệt tiêu suy tư,
triệt tiêu t́nh cảm, triệt tiêu những yếu
tố đặc thù duyên khởi của vọng tâm. Lời nói đó cũng không có
nghĩa là gột bỏ cá tính, kiến thức nghề
nghiệp, triệt tiêu vọng ngă, v́ việc làm này không
khả thi.
Cho
nên bỏ vọng t́m chân phải được hiểu
trong cái nghĩa là không chấp, không chấp vô
thường, không chấp bất biến, không bám tiên
kiến, không khư khư ôm giữ những kiến
thức vô hồn của sách vở, kinh luật, mà thật
sự tiếp cận với cuộc đời—trong gia
đ́nh, ngoài xă hội, ở các gịng tu, chùa chiền, giáo
xứ, vân vân. Ở mỗi thời lúc, có nắm bắt, có
được, nhưng liền buông bỏ, không cố
giữ, mà sống thật theo một chuổi vô tận
tử-sinh và sinh-tử.
Thiết nghĩ đó là tu tập, và cũng là tu học,
học ở diễn tŕnh của vọng ngă, của sự
việc, học mà không tích lủy sở học và tập
buông bỏ mỗi khi thụ đắc.
Cách tu
học này bồi dưỡng cho cái đức khiêm cung
cần thiết cho người tu học một cách
rất tự nhiên. V́ lúc nào
cũng quen buông xă những giá trị, những thụ
đắc, cho nên có quen với sự khiêm cung. Có thể c̣n nuối
tiếc, c̣n vướng mắc, và theo đó c̣n chút cao
ngạo, nhưng rồi cũng hiểu, cũng thấy, rồi
buông bỏ, nhờ vậy mà trở lại cái b́nh
thường khiêm cung, nhờ vậy mà phá vở
được bức tường chắn, nhà giam của
các giá trị, của sự cao ngạo; nhờ vậy mà
mở rộng tầm thấy biết, mở rộng kinh
nghiệm tu tập, măi không ngừng đổi mới
bản thân. Nếu các thụ
đắc tự lai tự khứ, tự đến
rồi tự đi, tự sinh rồi tự diệt, th́
như trên có nói, cơ sở cao ngạo mất đi, th́
sự hiện hữu một sự khiêm cung mà không có ǵ là
khiêm cung, là một khả năng thực có, dầu chỉ
trong một khoảnh khắc.
Kết Luận
Kết luận 1
Chúng
ta có mượn tính khiêm cung làm duyên, để đi vào cái
đạo làm người. Chúng ta có nói đến vô
thường, vô ngă, vô trụ. Đạo là
đường, con đường đó là con
đường không tiên kiến, không bám giữ, không
củng cố ư niệm, không tích lủy sở đắc,
đó là con đường buông xă những thụ
đắc, không chấp trước, không chấp sau, không
chấp phải, không chấp trái, cũng không chấp cái
trung dung ở giữa, không chấp không, không chấp có,
không chấp chân, không chấp vọng. Đó là con
đường vô trụ, không trụ ở bất cứ
cái chi, ngay cả ở ư niệm vô trụ, ư niệm về
con đường vô trụ mà người tu học
đang đi. Vậy th́, quả có ư niệm về một
cách tu tập, có một đạo đấy, nhưng không
bám, không trụ vào đấy, không đi theo, cũng không
bỏ đạo, quá khứ, vị lai tụ vào một
điểm nhất thời ngay trước mặt, như
bọt biển, có rồi tan.
Khi mà
sự việc chưa tự lai tự khứ, th́, khả
năng bám víu, trụ vào cái Tôi của các sở đắc
c̣n mạnh, động cơ cao ngạo c̣n nhiều, cơ
sở cho cao ngạo c̣n vững, th́ đức tính khiêm cung
quá ư cần thiết, để không bị che lấp
bởi các tường thành cao ngạo, để không
bị giam cầm trong ngục tù vọng ngă. Khi ấy, c̣n mâu thuẩn, c̣n cao ngạo và
khiêm cung. Khi ấy, nếu người tu học có thấy
ḿnh thật sự khiêm cung, th́ hảy tự xét tận sâu
bên trong, xem ḿnh có ẩn dấu hay đè nén một sự
cao ngạo nào đó hay không, v́ rằng: cao ngạo mà tự
ḿnh không thấy là cao ngạo, mới thật sự là
một cao ngạo nguy hiểm, và cao độ.
Kết luận
2
Khuất
Nguyên đến bờ sông Mịch La, và than rằng:
Đời đục, ta trong, nên ta không có đất
sống. Rồi trầm ḿnh mà chết.
Bá Di
Thúc Tề khước từ ăn gạo nhà Châu vào hang sâu
cùng cốc mà tuyệt thực.
Đó
là những gương trong sáng của người xưa.
Đó
cũng là những gương định kiến: kiên
định trên một hệ thống giá trị, trên
một nếp sống. Cho nên, không đất sống,
hoặc chỉ sống bên lề đường
đời.
Gịng
đời đục chăng? trong chăng? Nếu nó
đục, th́ có nên chăng quậy nó lên, uống tận
cái cặn sau cùng của nó?
H́nh
như lúc nào nó vẫn là nó, không ngừng chảy. Nhanh,
chậm, ầm ầm như thác đổ hay lững
lờ trôi, khi trong, khi đục, có vui, có buồn, có
thương, yêu, ghen ghét, hờn ganh, phải chăng đó
là những tỉnh từ mà tâm thức gắng cho nó. Im
lặng được ồn ào vui buồn, phải trái,
đó là hệ quả của việc hành tŕ vô trụ.
Tập vô trụ là tu học, là tạo cơ may cho ta
hiểu gịng đời hơn, và sống thêm một kích
thước khác, hứa hẹn một cái ǵ mới,
một khả năng bắt gặp cái chân thật rốt
ráo, dầu chỉ trong khoảnh khắc.
Chúng
tôi thành tâm cám ơn sự lưu ư của quí vị.
Houston,
ngày 30 tháng 3, 2001