Chuyện Xưa Tích Cũ

 

Người Kế Mẫu

Hồ Đắc A-Trang

Nguyễn Văn Trường

 

Thân tặng Chị Nguyễn L.

 

Mấy đời bánh đúc có xương

Mấy đời d́ ghẻ mà thương con chồng.

Sâu trong dăy Trường Sơn, thời Tiền Lê, có một bộ tộc lớn, sống theo nghề du mục và săn thú rừng. Có một cô gái tư chất thật thà, đôn hậu, đẹp người, đẹp nết, đảm đang quán xuyến trong ngoài, ngày ngày giúp đở mẹ cha, anh chị em, láng giềng thôn xóm. Giúp người trong cảnh khó, nàng xem là việc đương nhiên.

Một hôm, một thanh niên miền đồng bằng thành thị, trong một buổi đi săn, v́ ham theo đuổi theo thú rừng mà phải lạc đường nơi sơn dă.

Chàng, tuấn tú khôi ngô, nàng sắc nước hương trời. Gặp nhau, yêu nhau, rồi được gia đ́nh và bộ tộc tác thành chồng vợ. 

Rồi nàng theo chàng về chốn thị thành.

Tuy không xa, chỉ năm bảy ngày đường, nhưng phải vượt suối qua đèo. Có mệt nhọc. nhưng cái tuổi ấy, lại là đôi vơ chồng trẻ sau tân hôn, th́ tiếng róc rách của suối, tiếng rù ŕ của rừng già, tiếng thác đổ, chim kêu, vượn hú, tiếng gầm của thú dữ, chỉ là những giai điệu làm tăng thêm cái đẹp của một cuộc t́nh “nhất thế chi thần tiên” này của họ.

Cuộc sống bên chồng hoàn toàn khác lạ. Đó là thị thành, rộn rịp, náo nhiệt, từ sớm đến chiều. Có triều đ́nh, quan lại, lính vệ, có chợ búa, hiệu buôn,..Nàng gặp nhiều khó khăn, nhưng với nhu thuận và cố gắng nên chóng vượt qua và thích nghi được nếp sống mới,

Chàng và nàng hoàn toàn hạnh phúc, nếu....chàng không có đứa con của người vợ trước.

Nàng không ghen với hồn ma người quá cố. Không trách chồng sao để thành gia thất rồi mới nói đă góa vợ và có con thơ. Nàng chấp nhận trọn vẹn cuộc sống trước mặt, làm mọi cách để cuộc sống gia đ́nh được thoải mái cho mọi người. Chưa có con, nàng xem con chồng như là con ruột của ḿnh.  Lúc nào ḷng nàng cũng rộng mỡ, chờ đón để ôm nó vào ḷng, ôm ấp, nâng niu, bao bọc, chăm sóc bằng một t́nh yêu vị tha. Tuy nhiên, đứa bé lạnh nhạt, từ chối mọi chăm sóc của nàng, và cũng có khi, tỏ ra khó chịu với nàng. Càng cố gắng, càng chịu khó, nàng càng bị đứa bé xô ra, hất hủi.

Nàng kiên nhẩn t́m cách này đến cách khác. Nàng tham khảo kinh sách, t́m gương hay lời đẹp của thánh hiền. Hàng ngày nàng vái van, cầu nguyện, cầu Phật Trời cho nàng đủ sức, đủ trí thông minh để qua được thách đố. Nàng vẫn nghĩ:”Ở đời chẳng có ǵ là khó, chẳng qua là ḷng người không bền.” Thế nhưng, nàng có cảm giác rơ rệt rằng đứa bé càng ngày càng xa nàng, trong cử chỉ, trong thái độ, trong hành vi, trong lời ăn tiếng nói. Đôi khi, nàng cảm như tuyệt vọng.                                                    

Một hôm, có người mách, ở sâu trong sơn cốc, có một đạo sĩ tu tiên, thông suốt việc người, việc quỉ thần, tiền kiếp, hậu kiếp, lại có phép tiên, thần thông quảng đại, trị được bá bệnh, trị cả chứng điên khùng, người mất trí, và  khuyên đến đó mà khẩn xin thần dược.

Hai vợ chồng bàn nhau và cùng đi. Ngày đi, đêm nghỉ, càng vào sâu trong rừng núi, càng hiểm trở, gian nan. Sau cùng gặp được đạo nhân. Hai vợ chồng qú xin đạo nhân ban cho một lọ thuốc thần cho đứa bé để nó biết nghe, biết nghĩ, trở nên hiền lành và dễ dạy.

Đạo nhân bảo: “Được! Được! Điều ấy không khó. Nhưng thuốc của ta cần một sợi râu cọp, lấy từ một con cọp sống. Và phải cô nương đây tự tay đi lấy th́ mới được. Có được sợi râu ấy, thần dược sẽ có ngay.”

Người chồng vội hỏi: “Làm sao nhổ được râu cọp sống?”

Đạo nhân đáp: “Đó là chuyện của vợ nhà ngươi, và của ngươi, ta thật không biết.”

Người vợ, vốn là sơn nữ, trở về với núi rừng, tham hỏi mẹ cha cách lấy râu hổ.

Người cha dạy: “Trước hết, muốn gần hổ, phải có thịt sống cho hổ. Bắt đầu, t́m vết chân hổ, treo thịt sống trong vùng có hổ. Khi biết có hổ ăn mồi, tiếp tục treo mồi để mỗi ngày hổ quen đến nơi ấy t́m mồi. Khi hổ đă no, th́ tập cho hổ quen thấy ḿnh, và mỗi ngày ḿnh mỗi đến gần hổ, và dần dần như thế, khoảng cách hổ và người thu hẹp, hổ không c̣n nhu cầu xem người là miếng mồi ngon, cho đến lúc hổ quen với người. Chừng ấy ngồi ngay cạnh hổ cũng chẳng sao. Trong  lúc hổ say giấc th́ dùng kéo cắt một vài sợi râu hổ, th́ có khó ǵ. Nói chung, phải học hỏi các thói quen, nếp sống của hổ.”, Và người cha cung cấp cho nàng những phương tiện cần thiết và nhờ những trai tráng trong  bộ tộc cung  nỏ sẳn sàng can thiệp nếu nàng gặp phải hiểm nguy. Đùa với hổ không biết mất mạng lúc nào.

Thoạt đầu, chỉ trông thấy hổ từ xa th́ người sơn nữ đă run sợ. Nàng phải để cơn sợ đi qua, trấn tỉnh, đợi chờ, quan sát, học hỏi những phản ứng, những thói quen của hổ, trước, sau, và ngay khi ăn mồi, nhất nhất đều ghi trong trí. Lúc đầu th́ núp từ xa, rồi cho hổ thấy, rồi dần dần đến gần hổ. Mỗi lần như thế, là một lần lo sợ, một lần phải t́m lấy lại b́nh tỉnh để  quan sát, ghi nhận, suy  đoán,  đo lường hiểm nguy và kiểm nghiệm.

Sau nhiều tháng, người thôn nữ thành công. Hai vợ chồng đem dâng sợi râu hổ cho đạo nhân, và khấu đầu xin thần dược.

Lăo đạo hiền lành nói: “Thật ra, ta chẳng có một thần dược nào. Cô nương thông minh, tài trí hơn người, lại tŕ chí, bền ḷng, biết nhận hiểm nguy, có ḷng thành, biết chờ đợi cơ may, biết xử sự đúng thời đúng lúc, mới lấy được râu hổ này. Hổ có tiếng là thú dữ, có thể ăn thịt người, mà cô nương c̣n gần được, quen được, biết được thói quen, nếp sống của nó, để  lấy  được một sợi râu của nó mà không mảy may bị thương tích, th́ xá ǵ một đứa bé thơ ngay, chưa biết lau sạch mũi. Tâm lư trẻ con có phức tạp, nhưng vẫn dễ gần trẻ con hơn là gần hổ. Ta tin rằng cô nương, với sự trợ giúp của chồng, sẽ thành công với cháu bé, như mong muốn.”

Nói xong, lăo đạo phủi áo vào trong.

Nàng như tỉnh ngộ, thỏ thẻ cùng chàng:

Trước kia, sống theo khuôn thước của cha ông, gương mẫu của thánh hiền, t́m trong kinh sách, trong lời vàng ngọc của người xưa, nghĩ rằng làm tốt sẽ động ḷng người, mẫu mực sẽ giáo hoá được con thơ. Rồi thiếp sửa ḿnh, sữa sao cho thích hợp với khuôn thước học hỏi, với lời khuyên của mẹ cha, thân bằng quyến thuộc. Đến đâu thiếp cũng được mến thương, một đối xử chân t́nh. Thiếp hănh diện ở cái đẹp bên trong, ở tính t́nh, ở sự nhu thuận, sự hài ḥa với gia đ́nh bên chàng, với làng giềng thôn xóm. Thiếp nghĩ đă thành công, nếu con ḿnh chịu nghe thiếp. Nhưng cũng có lẽ cái h́nh ảnh đẹp về ḿnh đó, v́ những thành công của thiếp đó, mà thiếp quên hẳn đi rằng thiếp phải học hỏi ngay ở con, ở những ǵ xăy ra bên trong con, biết con, hiểu con, biết những cảm nghĩ của con, th́ mới có khả năng nói nó nghe, nó sửa, theo đó đổi thay được hành vi của nó. Khởi đầu thiếp chờ đón, sau rồi thiếp đi đến, t́m cách gần con, nhưng mỗi lần đều bị chối từ. Nghĩ lại, thiếp không có những lo âu, run sợ, tính toán, t́m hiểu như thiếp đă làm với hổ. H́nh như đạo nhân đă nhũ: “Thiếp phải để qua bên cái h́nh ảnh đẹp về ḿnh, ḷng ham muốn của thiếp, và cả lời vàng ngọc của thánh hiền, để chỉ chú tâm vào những ǵ đang xảy ra bên trong nó, những cảm xúc nhất thời, những nghĩ suy, động cơ thúc những hành động. Lắng nghe những lời lẽ, cử chỉ, thái độ, gương mặt, ánh mắt của con rồi suy đoán và kiểm nghiệm xem ḿnh đúng đến đâu để có những thái độ hay hành vi thích hợp. Mong được chàng giúp thiếp điều này.”

Thế rồi vợ chồng học hỏi, theo dơi từng cử chỉ, thái độ, hành vi của đứa con, cùng bàn tính, và chấp nhận những rũi may thử thách. Ít tháng sau, đứa bé bắt đầu không chê là cơm khô, canh lạt, .., không c̣n lặng thinh, lạnh lùng với  người kế mẫu. Một thời gian sau, nó góp mặt trong các sinh hoạt gia đ́nh, giúp đở lặt vặt,...

Rồi một hôm, nó thủ thỉ với người kế mẫu: “Con có một chuyện muốn nói với mẹ,.....”

Nàng ôm nó vào ḷng, rơi nước mắt, Ơn Trên đă ban cho nàng những giọt nước mắt hỷ lạc v́ ḷng thành, v́ ḷng từ, v́ sự chí t́nh của nàng với chồng con, Trời chẳng phụ ḷng thành và sự cố gắng của bất cứ ai.

 

Lời bàn của Bất Tịnh Thiền Sư 

Lành thay! Lành thay! Ư t́nh của người thức ngộ.

“Dạy cho nó là v́ nó, bởi nó.” Nó là chính. Người dạy là phu.ï Mọi cái khác, kinh sách, thánh hiền, khuôn vàng thước ngọc, trị gia cách ngôn, tất tất đều là phương tiện. Cho gương tốt là việc nên làm, nhưng phải để qua bên những tham muốn của ḿnh —dầu là muốn cho một gương tốt, một h́nh ảnh đẹp về ḿnh là chí phải, để ḷng ḿnh không bị chiếm, trí ḿnh không bị nhiểm, để thấy, biết, bắt gặp những diễn biến bên trong của đứa con, đứa học tṛ, người được giáo dục. Đó là mầm và cũng là nghĩa của tính ba la mật của nhà Phật. Đó cũng là khởi điểm cho đức khiêm cung của người Ky Tô Giáo, của một sự tĩnh lặng tận sâu thẩm bên trong, chuẩn bị một tâm linh trong lành để rước đón ân sủng của Chúa. Đó cũng là ư nghĩa của từ empathy của Tây Phương, của một sự cảm thông trong suốt, thương, hiểu và buông xă những gút mắc, va chạm, hờn dỗi, đau thương.

Lành thay! Bi kịch của cô sơn nữ.

Bi kịch thứ nhất. Về với chồng rồi mới biết chồng đă qua một đời vợ, và có con. Có thể nàng cảm thấy ḿnh bị lừa gạt, tự ái bị tổn thương. Nhưng rồi thương chồng, bỏ qua những giận dỗi căm hờn, để thêm một bước, chấp nhận con chồng làm con ḿnh.

Bi kịch thứ hai: Bị đứa con từ khước những săn đón của ḿnh. Thêm đau thương, nhưng bền ḷng.

Trong bi kịch thứ nhất, với người lớn th́ khuôn vàng thước ngọc của thánh hiền, kinh sách,v.v., có thể giúp nàng rất nhiều, v́ người lớn có học, có biết, và sống  ít nhiều  theo lời dạy của các bậc hiền triết, hoặc của cha ông.

Nhưng bé con nào có  biết thánh hiền, chưa có dịp đọc được  tứ thư ngủ kinh. Bé con xa lạ với những gương Nhị Thập Tứ Hiếu. Thường th́ chúng qui mọi sự việc về chính chúng. Thời ấy chưa có tâm lư học, để nương theo. Vậy chỉ c̣n có cách là làm như đă xử sự với hổ. Lắng nghe, t́m hiểu tâm lư của đứa con, và đứa con đó chớ không là một đứa bé nào khác.

Hiểu được như vậy, chỉ mới là điều kiện cần. Hành động thực tiển mới thấy những hoang mang, chao đăo. Cũng có những hiểm nguy: một lời nói, một cử chỉ không phải chỗ, không phải lúc, có thể chỉ trong một tíc tắc phá hủy công lao xây dựng trong nhiều tháng liền. Và cũng phải chấp nhận hiểm nguy. H́nh như không có một công việc nào mà ta chắc chắn biết trước rằng sẽ tuyệt đối an toàn.

Đồng tiền nào cũng có hai mặt, mỗi t́nh huống đều có thể xem là may hay rủi tùy nơi ḿnh muốn nh́n ở mặt nào. Có thể nàng cảm nhận được điều này. Trong chơi vơi, hoang mang trong những ngày đầu về với gia đ́nh bên chồng, gần như cái ǵ cũng mới, cũng xa lạ, cũng phải học, làm quen, và thích ứng. Với người con gái thời ấy, không có ngơ về, không biết vùng lên, cách mạng, lật đổ. Nhưng nàng không đổ lỗi cho thân phận, cho nhiệp báo, cho Ông Tạo bất công, Nàng cũng không bảo lỗi tại ta, rồi ngày ngày cầu kinh xám hối. Nàng không buông trôi, mặc cho số phận. Nàng có vấn đề, đương nhiên phải t́m cách giải quyết. Tránh né, vấn đề có thể tự giải quyết. Nhưng mấy khi được như vậy? Thường th́ nó trở nên phức tạp. Và sống trong cái trạng thái mà lúc nào vấn đề cũng dọa dẫm, sừng sững trước mặt, th́ thật là như sống ở địa ngục.

Lành thay! Nàng sơn nữ đă xem bi kịch là một thử thách phải vượt qua. Và nàng đă vượt qua được. Trong những năm tháng mở gút cho bi kịch, nàng được tôi luyện, trong suy nghĩ, cảm nhận và hành động, về cách xử thế, hiểu ḷng người, hiểu sự vật, hiểu những quan hệ, và hiểu chính nàng.

Phải chăng như vậy là sống trọn vẹn cuộc sống trời ban, trọn vẹn với thân phận làm người.

Nàng hy sinh cũng nhiều nhưng rồi th́ được đăi ngộ tương xứng. Người hiền ắt gặp lành.

 

Lời bàn của Ông Tướng Thầy Ba.

Lành thay lời bàn của sư Bất Tịnh.Lành thay khi được nghe sư Bất Tịnh nói một điều nghe được.

Nhưng sao lại nói hy sinh?  Hy sinh là chữ nghĩa của “thánh hiền”, của  đám nho gia, hoặc của bọn người  đă gói ḿnh trong một khung giáo lư, giam ḿnh trong những tháp ngà tối tăm của các chân lư không bao giờ thay đổi,  dầu  “sông có cạn, núi có ṃn”, dầu ḍng đời không ngừng đổi. Hy sinh là một từ không may, thường dùng để biện minh một một sự thất bại, một sự mất mát, và thường là để kể lể, phân bua, hay đổ lổi cho người khác, hoặc cho Trời, cho số mạng.

Thực ra chỉ là một sự lựa chọn. Chọn giữa tiêu cực và tích cực, giữa cố chấp và buông trôiû, giữa cái trừu tượng của một ảo vọng dễ chịu, và cái thực tiển trước mặt lắm khi rối ren phức tạp, giữa tránh né, lẩn trốn và giáp mặt với vấn đề. Nàng sơn nữ đă chọn trực diện với vấn đề, chọn chuyễn nghịch thành thuận, chuyển thù địch thành bạn. Chọn từ bi mà cảm hóa ḷng người, lấy t́nh thương và hiểu biết thay cho sự đối đầu và đối kháng.

Cũng là lựa chọn giữa thái độ mở và khép kín. Có một thời vua tôi nước ta, v́ bế quan tỏa cảng, để củng cố quyền lực tuyệt đối của ḿnh mà mất nước. Sơn nữ, không giam ḿnh trong một cái tôi vĩ đại, không chiếm lănh chỉ cho ḿnh mọi t́nh thương và chăm sóc của đức lang quân, không t́m củng cố vai tṛ của “hoàng hậu chánh cung” trong gia đ́nh, không t́m quyền lực để “ngự trị”. Nàng đă nhận thức được những khác lạ, ở môi trường, ở con người, nếp sống, giá trị,..tất tất  đều khác lạ. Khác là đương nhiên. Trăm hoa không thể đua nở chỉ một màu. Phải khác, mới mới xác định được tính duy nhất, đặc thù của cá thể. Phải khác, nàng mới là chính nàng, không giống bất cứ một ai. Nàng chớ không một ai khác. Nhưng nàng, một bông hoa, cùng với trăm ngàn bông hoa khác, phải đóng góp phần ḿnh làm đẹp gịng đời. Cho nên phải thích ứng, thích hợp và ứng phó với mọi t́nh huống. Thích ứng  không có nghĩa là mất ḿnh, cũng không có nghĩa là loại người, loại bất cứ cái chi mà ḿnh chẳng thích, mà trực nhận những biến đỗi trong quan hệ, để có những tác động khả dỉ làm cho quan hệ được tốt hơn. Đổi thay quan hệ là đổi thay ḷng người, thay đổi thói quen, nếp sống, cách suy nghĩ và hành vi của người và của ḿnh. V́ vậy mà phải chịu nhận lấy những cơ nguy gây thêm phức tạp, va chạm với người, thương tích trong ḷng người và trong chính bản thân.

Mở cũng  là thái độ đầu tiên của Bồ Tát Đạo. Muốn đọä người, phải mở ḷng ḿnh để hiểu biết ḷng người. Và ḷng người th́ nuôn ngh́n vạn trạng. Không có lời giải đơn giản. Không có việc chớp nhoáng là cô bé lọ lem biến thành tiên nữ, trái bí biến thành cung xa,.. Bồ tát  không t́m thoát khỏi những nhọc nhằn thế gian, không  tôi luyện thần thông, mà là nhập thế, uống tận giọt cuối cùng của men đời, để hiểu, thấy, biết, cảm thông và buông xă. Nàng sơn nữ nhờ vậy, không biết Bồ Tát Đạo, mà hành Bồ Tát Đạo. Nhờ vậy, mà “độ”ä được gia đ́nh nhỏ của nàng, bước thêm một bước gần với đạo.

Lựa chọn là bỏ một hoặc nhiều điều và chọn lấy một. Cái một mà ḿnh chọn là cái ḿnh muốn, thích, hoặc cho là tối ưu, thích hợp nhất với cá tính của ḿnh. Cho nên từ khước một số lợi lộc hoặc thị hiếu mà người đời thường vấp phải, không có nghĩa là hy sinh, dầu rằng những thứ ấy cũng có khả năng lay chuyễn ḿnh trong một thời khắc. Không nên gán cho nàng những trạng huống mà có thể nàng không có. Cũng không nên biện minh cho nàng khi nàng không cần một biện minh. Cũng không nên tạo thêm huyền thoại trong khi xă hội Việt Nam đă lạm phát huyền thoại. Cho nên, đừng nói hy sinh, đừng kể kham khỗ. Nên nói khả năng chọn lựa ở mỗi thời điểm của cuộc đời. Nói chọn lựa là nói có thu lượm dữơ kiện, vấn hỏi về vấn đề, tự vấn, có ư thức ít nhiều về ḿnh và môi trường, để sau cùng dấn thân trong những rũi may của giải pháp.         

Chọn dễ, tránh khó cũng là cái tâm lư chung của  con người. Lắm người cầu nguyện. mong được một phép lạ, thoảng một cái là mọi việc được như ư. Cô sơn nữ trong truyện không thoát khỏi cái tâm lư chung là mong được một lọ thần dược, một bùa linh, có khả năng giúp sửa đổi tính t́nh của đứa con.

Đức tin là nguồn cho sự an tâm. Đức tin có khả năng mở thêm một kích thước mới hết sức phong phú cho cuộc sống tâm linh. Cầu nguyện v́ đó mà có thể có hiệu quả của một phép lạ đối với nhiều người. Tuy nhiên, bùa chú, “nước thánh”, “thuốc thần” chỉ có thể ru người trong ảo vọng.  May thay, cô gặp được người lương thiện, không nhân đó mà buôn thần bán thánh, không dạy soi tiền kiếp, không truyền pháp thần thông, cũng không xui cúng sao, cúng hanï, xin xăm xủ quẻ.  May thay, cô biết nghĩ suy, nhẫn nại, bền ḷng  chịu khóù.

Houston 9/04/01