Chúng tôi học làm cha mẹ:

Thưởng Phạt    Khích Lệ

 

Hồ Đắc A-Trang

Nguyễn Văn Trường

 

 

Thân gởi cháu Quỳnh Giao

Trong bài này, chúng ta bàn về hai biện pháp mà cha mẹ (hoặc thầy cô giáo) thường hay sử dụng trong việc dạy dỗ con em: Thưởng Phạt và Khích Lệ.

 

1. Phạt

Phạt là trừng phạt, nhằm để răn đe đừng tái phạm.

Phạt nhằm bảo đừng làm như vậy nữa, đó là xấu, là dỡ, phải chừa.

Thường có hai h́nh thức phạt:

1.1.  La hét, mắng chửi, làm dữ, dọa phạt nhục h́nh để cho đứa bé sợ mà chừa. Đó cũng là làm nhục con cái và cho con cái hay học sinh một h́nh ảnh thiếu lễ độ, không mấy đẹp về ḿnh.

"Với con tôi, tôi cần phải có lễ độ ư?"

Thưa rằng:

"Phải!

Đó là qui định vô h́nh chung của hầu hết gia phong người Việt Nam. Con hơn cha là nhà có phước. Muốn con hơn ḿnh, phải nhận thức được trong chúng một nhân cách đang h́nh thành, một tương lai đang rộng mở, và phải biết nâng niu trân trọng cái quá tŕnh h́nh thành này.

Pháp chế học đường Việt Nam nghiêm cấm nhục h́nh, dầu rằng vẫn c̣n nhiều dạng bạo hành do thầy cô giáo gây nên. Muốn nước mạnh dân giàu, phải đào tạo những con người biết tự tin, tin ở khả năng, ở cá tính của chính ḿnh. Giàu không chỉ hiểu trong khả năng làm ra của cải vật chất, mà c̣n trong khả năng góp phần trong việc xây dựng một không khí lành mạnh, hài ḥa cho môi trường. Nói riêng, giàu sáng kiến, t́nh nghĩa, t́nh chồng vợ, t́nh gia đ́nh, bằng hữu, láng giềng, thôn xóm, t́nh quê, t́nh người. Thật muôn mặt.  Được như vậy mới có cơ may nói được là “lương sư  hưng quốc”.

Phải!

Phải ư thức rằng là người ai cũng phải có lúc sai lầm. Cuộc sống của mỗi người là một quá tŕnh không ngừng cải thiện. Có ai là hoàn hảo đâu. Có chưởi mắng th́ chuyện cũng đă rồi, chỉ làm không khí thêm khó thở. Cho nên, phải biết giúp con cái nhận thức sai lầm để mà tránh về sau.

Nuôi ắt phải dưỡng, dạy th́ phải dỗ, và nuôi dạy không chỉ là cho cái thể xác. Một thân thể mạnh khỏe là tốt, nhưng c̣n phải có một tinh thần tráng kiện, những t́nh cảm trong sáng, lành mạnh.

Tóm lại, muốn con hơn cha, muốn là “lương sư”, phải có một lễ nghi tối thiểu trong gia đạo, trong lớp học. Trẻ con càng nhỏ, cha mẹ hay thầy cô càng phải thận trọng.”

1.2. Nhục h́nh.

Nhục là nói về thể xác, h́nh nói h́nh phạt

Nhục h́nh là h́nh phạt về thể xác. Trong một chừng mực nào đó, nhục h́nh nặng hơn la hét mắng chửi. Tuy nhiên, cũng có câu "một cái giá bằng ba cái đánh."

Để răn trẻ, phụ huynh hay thầy cô có khi dùng đến nhục h́nh. Nói nôm na, trẻ con bị đ̣n, roi vọt, v́ có những hành vi sai quấy, v́ vi phạm kỷ luật hay gia phong.

Nhục h́nh xưa nay thường gồm có: bắt đứng khoanh tay im lặng như trời trồng, bỏ một ḿnh trong pḥng, đánh bằng tay (tát tay, đánh dít), đánh bằng roi, thước (khẻ tay, roi vọt).

Tùy tuổi tác của đứa trẻ, tùy quan niệm và tính t́nh của phụ huynh hay thầy cô, tùy bối cảnh mà đứa trẻ có thể bị phạt hay không bị phạt, thế này hay thế khác.

Người Anh và Mỹ có câu: Spare the rod, spoil the child. (Không roi vọt, con hư)

Người Pháp có câu: Qui aime bien, châtie bien (Thương nhiều th́ phạt nhiều)

Người Việt ta cũng có những câu tương tự: Thương cho roi, cho vọt.

Nhưng h́nh như những giá trị này đă thuộc thời “thượng-cổ”, càng ngày càng ít người biết đến.

Cái lư của người sử dụng biện pháp phạt là: Đ̣n đau ắt phải sợ, sợ ắt phải chừa. Bị chửi rủa, hăm dọa, ắt phải biết thẹn, vậy th́ phải chừa. Quyền của cha mẹ là tối thượng, v́ cha mẹ trách nhiệm về con cái ḿnh khi chúng chưa trưởng thành.

Truyền thống Việt Nam đặt người thầy trên cả cha mẹ. Đừng v́ đó mà thầy cô nghĩ rằng ḿnh có thể vượt ra khỏi những ràng buộc của pháp chế học đường. Đừng v́ đó mà quên đi những điều sơ đẳng về tâm lư giáo dục. Phải biết kính nể mọi người, trong đó có cái nhân cách đang h́nh thành trong đứa bé, mới có được sự tương kính, mới được thật sự kính nể; nhờ vậy mà thầy cô có cơ may được phụ huynh thông hiểu và tích cực hổ trợ trong công tác giáo dục của ḿnh.

Cũng nên nghĩ rằng:


"Cấm? th́ làm lén! Cho biết tay!"  Đó là những luận điệu trả đủa.

 

2. Khen Thưởng

Khen thưởng ở đây được hiểu là đối nghĩa với la rầy và h́nh phạt, vừa nêu trên.

2.1. Khen là lời nói của cha mẹ (thầy cô) nhằm khuyến khích làm một việc tốt, hay, đẹp. Khen thường chỉ có hiệu quả tốt trong các trường hợp sau đây:

2.2. Thưởng là cho một món quà khi đứa nhỏ đă thực hiện một số điều mà người thưởng mong muốn.

Một phần thưởng không chỉ là một cái ǵ dễ thương và mong muốn. Cho con một cái bánh, một món quà, đó không là thưởng. Nhưng hứa rằng con sẽ được đi Chợ Tết nếu trong tuần hay trong tháng, con biết giúp cha mẹ giữa nhà cửa sạch sẽ và ngăn nắp. Khi con thực hiện được đúng những điều mà cha mẹ đ̣i hỏi, cha mẹ thưởng bằng cách giử lời cho đi Chợ Tết. Trong trường hợp này, đi Chợ Tết là một phần thưởng.

Phần thưởng là quà tích cực khuyến khích đứa bé làm theo ư ḿnh muốn. Thưởng ngầm thừa nhận rằng đă có một hành vi tốt, thực hiện một việc tốt, nên tiếp tục.

Nếu thưởng có tích cực khuyến khích đứa bé th́ thưởng lắm khi cũng có những hệ quả tiêu cực của nó.

Thường th́ thưởng cũng như phạt có một tác dụng nhất định nhưng ngắn hạn. Nó có lợi ích khi ḿnh t́m một kết quả tạm thời: tạm thời "dụ" làm theo ư ḿnh muốn, hay "răn" đừng tái phạm. V́ bị "mua chuộc" hay "dọa dẫm" đứa bé làm theo ư của ta trong thời gian mà sự "mua chuộc" hay "dọa dẫm" c̣n hiệu quả. Chúng ta không đạt điều ǵ hơn điều này.

Đứa bé mà được cha mẹ thường thưởng để làm những việc dễ thương lắm khi có thói quen chỉ làm việc dễ thương để được khen thưởng. Đến khi sự khen thưởng mất hiệu quả, th́ nó không c̣n động cơ để làm điều dễ thương.

Nói chung

·         trong việc khen thưởng, cũng như sự trừng phạt, động cơ nằm bên ngoài. Khen thưởng nhằm thúc đẩy đứa bé có một hành vi mà ta ước muốn.

·         khen thưởng, cũng như trừng phạt, là một cách điều khiển đứa bé làm theo ư ḿnh.

·         khen thưởng, cũng như trừng phạt, chú trọng vào thành quả,  vào mục tiêu mà ḿnh muốn, ít chú trọng vào diễn tiến bên trong của đứa bé.

·         khen thưởng lắm khi có cơ sở đặt trên ganh đua, so sánh với người khác: thắng cuộc, hơn người.

·         khen thưởng có khi tập đứa bé quen với sự được phỉnh nịnh hoặc thói quen tùy thuộc sự  khen chê.

·         khen thưởng đến đâu cho vừa cũng như phạt đến đâu cho cùng.

Những gịng trên đây có thể làm quí vị phụ huynh và quí thầy cô hiểu lầm rằng nhất thiết không dùng biện pháp thưởng phạt để dạy con.

Thưởng phạt mà đúng lúc, đúng chỗ, hợp t́nh, hợp lư th́ hẳn có những thành quả tốt. Hợp t́nh, hợp lư có nghĩa là có sự đồng thuận bên trong của đứa bé.

Khi đă biết khía cạnh tiêu cực của sự thưởng phạt, ta không nên lạm dụng các biện pháp này, nhất là phạt để nư giận.

 

3. Khích Lệ

Khích lệ cũng là khen, cũng có thể  có quà thưởng, nhưng không nhằm điều khiển đứa bé, không nhằm để đứa bé hành động theo ư của ḿnh.

Trong khích lệ,

·         có sự thấy hiểu đứa bé, thừa nhận quá tŕnh cố gắng cải thiện và trọng tâm của sự cải thiện, và đánh giá thật thà quá tŕnh này.

·         ta không so sánh nó với người khác, mà chỉ tập trung trên khả năng và cá tính của nó.

·         ta t́m động cơ bên trong nó và làm cho nó thoải mái với chính nó.

·         ta giúp nó biết hơn về chính nó, về những khả năng và tài khéo léo của chính nó trong cái thật thà nhất của ḿnh.

Tóm lại, khi đứa bé thấy bị điều khiển bằng khen thưởng th́ nhiều khả năng để đứa bé có phản ứng nghịch lại. Nói riêng, khen không là một khích lệ nếu đứa bé chỉ cố gắng nhằm để được khen mà thôi, hoặc giả nếu có thiếu sự kính nể người khen.

Trái lại, khen có thể là một khích lệ khi không có hậu ư điều khiển mà phát xuất từ một sự thật ḷng. Khen cũng có thể là một khích lệ khi lời khen thừa nhận một thành quả, một công tŕnh, hoặc gây trong đứa bé một ư thức tốt đẹp về nó.

 

Kết luận (cho bậc phụ huynh, nhưng vẫn có thể suy rộng cho trong nghề dạy học)

Dùng thưởng phạt để dạy trẻ là thường t́nh. V́ thường t́nh mà thành quan trọng. Nếu đứa con hành động chỉ v́ được khen thưởng hoặc sợ bị rầy, phạt, lâu ngày chầy tháng, điều này thành thói quen khó bỏ. Khi không c̣n ai ở bên để khen chê hay rầy phạt th́ nó sẽ ra sao? Xa hơn một bước, nếu đứa con, v́ được tiếng hiếu để, nhất nhất đều làm theo lời cha mẹ, th́ nó chỉ c̣n là một bóng mờ của mẹ cha, v́ quá quen làm diễn tuồng làm vui cho cha mẹ. Cũng nên nghĩ khi không có cha mẹ ở bên, hẳn nó sẽ lúng túng hoang mang, bơ vơ, thật tội.
Giáo dục không bao giớ bao hảm nghĩa là bạo hành, thể xác hay tâm linh, hay bất cứ ở một dạng thức nào.

Giáo dục cũng không nhằm biến con thành những con rối để riêng ḿnh sử dụng, hoặc để có tiếng gia đạo nghiêm minh, ăn hiền ở lành nên được phước có con hiếu để. Cũng đừng nghĩ rằng ḿnh có khả năng măi điều khiển được ai, ngay cả con của chính ḿnh. Khi ngộ ra rằng bị điều khiển, nạn nhân sẽ oán hận, và xem nhẹ người điều khiển, dầu người nầy là cha, là mẹ, và có thiện ư. Càng không nên nghĩ rằng cha mẹ phải kiểm soát được con cái. Người bị kiểm soát thường t́m cách thoát ra ṿng kiểm soát; nói cách khác là khi cảm thấy rằng răn đe hay khen thưởng là để kiểm soát, th́ con người thường  có phản ứng t́m cách thoát khỏi ṿng kiềm tỏa cho bằng được.

Xă hội hôm nay, nhất là xă hội Hoa Kỳ, tổ chức mỗi ngày thêm tinh tế và phức tạp. Theo đó mỗi thành viên phải tự ḿnh đứng trên chính hai chân của ḿnh được, nói cách khác là phải tự lập, tự cường. Thế nên, phải tập đứa bé tin ở chính bản thân, ở khả năng của chính nó. V́ thế mà khi sử dụng thưởng phạt, nên cân nhắc thiệt hơn, nên t́m hiểu những động cơ bên trong của đứa bé. Hiểu được điều này, gải đúng chỗ yếu, thưởng phạt có thể thành khích lệ và là đ̣n bẩy cho những bước đi vượt bực.