Trường Phan Thanh Giản
Cần Thơ
Hậu Truyện
Nguyễn Văn Trường
Khóa 1943-1948
Có một lần, cũng trong bối
cảnh này[i], trong
một bài tự truyện, tôi có dịp thuật lại
cuộc sống năm ch́m bảy nổi chín cái linh đinh
của tôi:
- từ thuở chào
đời, thời Pháp thuộc,
- trong những khó khăn
khủng khoảng của tuổi thiếu niên, bơ
vơ trong định hướng, trong việc
khẳng định chính ḿnh trong ḷng quê hương
đất tổ,
- trong cuộc chiến
tương tàn Bắc Nam,
- trong thời chủ
nghĩa anh hùng cách mạng cho đến nay.
Tôi đă trải ḷng ḿnh qua những ray
rức, vấn nạn về những thăng trầm
của thế sự. Các bạn tôi, Trường Nguyễn
Đ́nh Chiểu, Gia Long, Pétrus
Kư, Quốc Học, Đồng Khánh, Chu Văn An,
Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, đồng
cảnh, đồng thuyền, hẳn thông cảm và chia
sớt được với tôi lắm điều.
Vấn đề của chúng tôi cũng có
thể là vấn đề của bất cứ ai.
Bất cứ ai, ở một thời,
một lúc nào đó của cuộc đời, đều
có thể là thầy cô giáo, phụ huynh, học sinh (học
ở trường học hay trường đời), là
những người dấn thân trong việc dạy và
học, cũng kinh qua những vui buồn, những
phấn khởi, éo le hay trăn trở.
Hậu
truyện là truyện đi sau. Nhấp một hớp trà,
một ngụm rượu, nghe một hậu vị: cay,
đắng, ngọt, bùi, mỗi người mỗi khác,
mỗi cảnh mỗi khác. Hậu vị là cái hương
vị c̣n đọng lại đâu đấy ở chót
lưỡi, trong đốc giọng, trên ṿm miệng.
Tự truyện là cuộc sống, là sự việc, là kinh
nghiệm. Có thuật chuyện, có ư, có t́nh. Hậu
truyện là dư âm phảng phất sau tự truyện.
Vẫn là câu chuyện của tôi, nhưng t́nh lư có đi sâu
vào bên trong, phạm vi có thu hẹp lại. Bài có hai phần:
Bên ngoài với tôi và tôi với tôi.
Bên ngoài với tôi
Cách mà bên ngoài
nh́n tôi rất quan trọng. Tôi chỉ thật sự
hiện diện trong tương quan với tha nhân và
vạn vật. Tôi khác biệt với người, nhưng
trong những khác biệt ấy, chúng tôi xác định
lẫn nhau. Sống là hỗ tương tác động
với một môi trường, giới hạn trong không
gian và thời gian.
Với các công sở, với hai
trường tiểu học trước mặt và bên hông
tôi, với các khu nhà bao quanh tôi, những cây c̣ng, cây dái
ngựa, hay đám cỏ dọc bên đường, tôi
không có vấn đề. Chúng tôi có một sự giao
hảo tốt lành. Có thể v́ uy thế của một
trường trung học, của một trung tâm giáo
dục. Có thể v́ truyền thống Việt Nam trọng
kẻ sĩ, nên cây cỏ, gạch ngói—mà con người
nghĩ là vô tri, vô giác—cũng nh́n tôi với một sự
kính nể đúng mức. Cũng có thể tạo hóa không
sắp bày giữa chúng tôi những cái phức tạp
rắc rối của người đời.
Phong sương, gió băo, nắng hạ,
mưa dầm, chắc chắn ai ai cũng phải gặp.
Nhưng giông băo Miền Nam, nhất là miệt Hậu Giang
này, có gầm có thét, có mưa như cầm tỉn mà
đổ, có tạo nước đọng trên
đường phố, śnh lầy trơn trợt, làm cho
các xóm nghèo như nghèo thêm. Dầu vậy, chẳng chết
ai, một vài cây dái ngựa ương ngạnh bị găy
nhánh, găy cành, thôn quê đôi khi có vài cḥi tranh sập
đổ. Trái lại, sấm sét th́ làm cho đất thêm
ph́ nhiêu. Mưa cho nhà nông cày cấy. Mùa nước
đổ là mùa cá he, trẻ con vui đùa câu giựt[ii].
C̣n mùa nắng hạ, mở cửa đón gió từ
đồng ruộng thổi vào, bên sông rạch, mẹ ru
con cọt kẹt trên chiếc vơng, nhàn hạ, thanh b́nh.
Nói chung, cuộc sống của tôi an lành
với thiên nhiên vạn vật. "B́nh thường tâm
thị đạo."
Thấy được đạo rồi th́ chẳng
c̣n ǵ đáng nói.
Cái đáng nói là với người
đời. Quá nhiều rắc rối.
Trong một khía cạnh nào đó, họ nh́n
tôi là một vật. Một vật vô tri, tùy tiện sử
dụng. Có người chỉ thấy ở tôi là pḥng
ốc, hành lang, một cái nhà lớn, một công sở.
Gọi là trường học, nhưng cũng có khi
biến thành trại cải huấn, trại giam, trại
lính, trung tâm tị nạn, tế bần, cái ǵ cũng
được. Với họ, tôi là một chỗ
chứa, một cái kho chứa người hay chứa
bất cứ cái ǵ. Cái bá tánh dửng dưng, vô tâm ấy,
không có ǵ đáng trách. Đâu đâu cũng có những
người bàng quan, vô sự, những người chỉ
nh́n tha nhân và vạn vật trong cái "dụng" mà thôi,
và tôi nào phải là cái rún của vũ trụ đâu mà ai ai
cũng phải biết ḿnh, hay nghĩ khác về ḿnh.
Đáng trách là những người biết
rằng tôi là một trường trung học, biết lư
lịch của cả đời tôi, diễn tŕnh lên
xuống của sức khỏe của tôi, tinh thần và
thể xác, những người ấy lại quên rằng
tôi cũng có tâm hồn, có t́nh cảm, có lư trí.
Nếu nghĩ rằng tôi chỉ là gạch
ngói cột kèo, duyên hợp làm nên là sai. Nếu nghĩ
rằng tôi chỉ là pḥng ốc (pḥng học, thư
viện, pḥng thí nghiệm,...), bảng đen phấn
trắng, cũng là sai.
Tôi không chỉ là một trường trung
học. Tôi c̣n là một trung tâm văn hóa quan trọng và lâu
đời của địa phương này. Phụ huynh,
con em đặt nhiều hoài vọng ở tôi. Có những
tầng lớp dân chúng hănh diện v́ tôi.
Ngoài ra, từ lúc chào đời đến
giờ, không biết bao nhiêu nhóm người đă cùng tôi
cộng tác—lao công, tùy phái, công chức, giáo sư, học
sinh, phụ huynh, quần chúng địa
phương—hết lớp này sang lớp khác, có da
trắng, da đen, da vàng, góp công, góp sức, góp t́nh, góp
nghĩa. Tôi có chiêu dài theo thời gian, có xưa, có nay, có
trước, có sau; tôi có chiều rộng trong không gian,
người của tôi bây giờ hiện diện khắp
năm châu, học sinh, phụ huynh, giáo chức,... thật
khó mà kể hết được. Dầu họ ở chân
trời, tôi vẫn măi hoài góc biển, tôi vẫn là mối
dây liên lạc, là kư ức ghi sâu trong tâm khảm, là t́nh, t́nh
thầy tṛ, t́nh bè bạn từ thuở thiếu thời.
Có t́nh th́ có nghĩa. Nghĩa đây không là nhiệm vụ
chắc nịch, cứng ngắc của Thầy Mạnh, Thầy
Tŕnh, qua những câu cách ngôn vô hồn, có khi đă biến
thành sáo ngữ. Nghĩa đây phát xuất từ cuộc
sống, từ cái tự nhiên gắn bó với những cây
c̣ng trong sân, với trường, với thầy, với
cô, với bạn, với h́nh ảnh chị bán xôi, anh bán
"nước đá nhận" bên ngoài cổng. Họ
gặp nhau, c̣n nhắc nắm xôi ṿ trong chiếc lá
chuối lót dạ ban mai, ly đá bào xi rô-sữa chẳng
bao giờ đả khát trong buổi trưa hè. Dĩ nhiên
bên cạnh đó c̣n những tà áo, những mái tóc, cái
đẹp tự nhiên của người nữ sinh
của một thời, cái thuở nọ ấy, cái
thời tuy thiếu thốn mọi điều nhưng
trước mặt thênh thang rộng mở, cái ǵ cũng có
thể được với tuổi trẻ, cái tuổi
mà tương lai chưa định. Nói cách khác, tôi là một thực
thể có hồn, có xúc cảm, có suy tư, có sống
mật thiết với môi trường và có chiều sâu
“lịch sử”.
Nói như thế không có nghĩa là những
con người đă có thời sống dưới sự
trông lo chăm sóc của tôi kết tinh thành một khối
thuần nhất, không có những dị đồng, hay mâu
thuẩn. Gần đây thôi, tôi mang tên mới là Châu văn
Liêm. Thế là có hai bên.
Một bên cho đó là tội soán nghịch,
bất kính. Họ bảo: Châu Văn Liêm là đứa con,
sanh tự trong ḷng trường Phan. Đến giờ,
chưa thấy ai lấy tên con mà khai sinh lại cho cha
mẹ. Liêm lại có đạo Cộng Sản. Mà với
Miền Sông Hậu, nhất là ở Cần thơ, th́
người Cộng sản giỏi nghề súng
đạn, ám sát, đào lộ, phá cầu, dám tử v́
đạo. Người Cần Thơ cũng chưa quên
những mồ chôn tập thể năm Mậu Thân ở
Huế, và sau ngày “giải phóng”, những tù đày không
bản án, những chính sách kỳ thị trẻ thơ,
đă làm không biết bao nhiêu gia đ́nh điêu đứng.
Họ chưa quên được những điều
ấy. Họ cũng không chấp nhận nhà trường
là một công cụ tuyên huấn, “hồng phải trên chuyên”,
và dành ưu tiên quá đáng cho một số con em gia đ́nh
đảng viên hay gọi là “cách mạng”. Họ muốn
họ và con em họ có thể nghĩ khác, nói khác, làm khác
những ǵ mà chế độ hiện nay đang
cưỡng ép phải tuân hành. Họ cũng nghĩ:
dầu Liêm là một ông giáo, nhưng lại là một ông
giáo đạo cộng sản, th́ dầu có nhiệt tâm
đến đâu, ông cũng phải trung với
Đảng trước đă, c̣n
hiếu với dân th́ hạ hồi phân giải;
hiện giờ, dân có đói cho đến chết, trẻ
con có c̣i, có mù v́ thiếu dinh dưỡng, cũng chẳng
sao; Đảng đă hy sinh mươi thế hệ th́
giờ hy sinh thêm năm bảy thế hệ có sao
đâu? Họ không muốn
trẻ con tiếp tục hy sinh, tiếp tục c̣i cọc.
Với họ, được vinh danh liệt sĩ, không có
ǵ là đáng hănh diện, chỉ là tang thương, là thiêu
đốt nhân lực tài nguyên của đất
nước. Nói chung, với họ, người cộng
sản bây giờ c̣n tệ hơn bọn thực dân
thuở trước, v́ học đường là nơi
tẩy năo có phương pháp, có hệ thống, và có
một chính sách kiên tŕ, “trước sau như một”
để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững
chắc lên xă hội chủ nghĩa (!).” Đó là chỉ nêu lên một vài lư
do mà tôi thường được nghe qua, từ bên này.
C̣n bên kia là phe chỉ tin ở một
đạo, đạo Cộng Sản, một chủ
nghĩa, chủ nghĩa giả h́nh cách mạng, một
triết thuyết, triết thuyết Mác-Lê nin. "Sông có
cạn, núi có ṃn, nhưng chân lư ấy không bao giờ thay
đổi." Phe này cho rằng phải tin như thế
mới có ư chí "không ǵ lay chuyển nổi"[iii],
mới có sức mạnh đuổi sạch quân thù[iv].
Bây giờ, ghi công "tử
v́ đạo" của Liêm bằng cái tên Châu Văn Liêm
gán cho tôi.
Thật khó cho tôi, đàng nào cũng là môn
sinh, người thân thuộc cả, thật khó bỏ bên
nào. Tuy nhiên, giọng điệu và ngôn từ trên đây cho
thấy ḷng tôi đă đứng về một phía.
Không phải tôi thờ ơ, không hănh
diện về một tuổi thơ dũng cảm, dám
liều ḿnh v́ đất nước, non sông. Nhưng,
điếc không sợ súng không phải là dũng cảm,
cuồng tín không phải là dũng cảm. Tôi không phủ
nhận trong khói lửa binh đao, trong những bối
cảnh đặc biệt, sự cuồng tín, ḷng
quyết tử có chỗ của nó, và có khi cũng có cái
đẹp riêng của nó. Nhưng tôi lại là một ngôi
trường. Nhiệm vụ
chính yếu là dạy môn sinh cho biết phải trái,
thiệt hơn, tập cho chúng "tư duy độc
lập", ư thức về cuộc sống, về môi
trường, về cái đa dạng bao la của cuộc
đời. Tôi cũng ư thức rằng việc làm của
tôi không khéo có thể giam nhốt tuổi trẻ vào một
hệ thống giá trị hay một nếp sống
cứng ngắc, vào một chủ nghĩa vong bản hay
một giáo lư vô hồn. Trong thực tế có khả
năng bạo hành nhân cách trẻ con, và thế th́ khó
chấp nhận được. Trong phần tự
truyện, tôi có nói: nhiệm vụ của tôi không là giam
người, dầu cái nhà giam ấy là lâu đài
điện ngọc; tôi đưa trẻ con tôi vào cái
trật tự trước mặt, nhưng đồng
thời phải tạo ở bên trong chúng nó khả năng
phát triển, khả năng biến cái hiện tại áp
đặt, thành một cái ǵ thích hợp hơn cho bản
thân chúng và cho xă hội của chúng; cái tốt hôm nay, có
thể lỗi thời ở ngày mai, mỗi thế hệ
sống theo những giá trị đặc thù của nó.
Thế nên, khi được biết rằng, với tên
mới Châu Văn Liêm, tôi phải làm công việc tẩy năo
và nhồi sọ trước đă, tôi phải kiềm hăm
tâm hồn của trẻ thơ trong giới hạn của
một chủ nghĩa, của một cách suy nghĩ,
một cách xử thế; tôi xót xa như đă đồng
lơa với tội ác, lường gạt phụ huynh,
bạo hành những tâm hồn thơ ngay. Khi chỉ có
một đảng, một chủ nghĩa, một
triết thuyết, một đạo, với cái nghĩa là
khai trừ tất cả cái khác, th́ con người dễ
đi vào con đường cuồng tín, và dễ thành
cuồng đồ. Thật tội nghiệp cho những
con người mà lúc nào cũng đúng, cũng phải,
cũng "bách chiến bách thắng", lúc nào cũng là
"lương tri của thời đại",
"đỉnh cao của trí tuệ", chỉ biết
nhại lại những khẩu hiệu mà người khác
ban cho; đó là những con người chung thân trong
ngục tù chủ nghĩa, trong mặc cảm bất
lực và tự ti. Tôi ngại cho môn sinh tôi đi vào con
đường đó, con đường cuồng tín
của ảo ảnh tự ti. Tôi không muốn Việt Nam
sống dưới một chế độ Hitler, Staline
hay Mao Trạch Đông.
Cuộc sống như tô canh chua Miền
Nam. Có đủ mùi vị cay
chua mặn ngọt. Cay th́ có tiêu, có ớt, mặn th́ có
muối, có nước mắm, ngọt th́ có cái ngọt
của thịt, của cá, đường, v. v. Giờ
người cộng sản bảo: “theo các đồng chí
lănh đạo, th́ tiêu, ớt, rau ôm,v.v. không cần
thiết cho dinh dưỡng". Thế th́ đâu c̣n là canh
chua nữa. Trong đời mỗi người mỗi
vẻ, và cùng một người, mỗi lúc mỗi khác.
Người cộng sản lại bảo:”Chỉ có
một cách suy nghĩ, biện chứng pháp duy vật;
chỉ có một hệ thống giá trị, chủ nghĩa
Mác Lênin; chỉ có một nhiệm vụ là phải trông lo
bảo vệ lănh tụ,.., đó là “hướng đi
tất yếu của lịch sử.” Thế th́ cuộc
sống bỗng nhiên trở nên nhạt nhẽo và buồn
tẻ. Đó là chưa nói việc thiêu đốt dễ
dàng một vài triệu người cho các lănh tụ
cộng sản đi t́m một thế giới đại
đồng, một hoà b́nh vĩnh cữu hay một
tương lai "xán lạn" "gấp mười
lần hơn".
Cuộc đời đâu phải lúc nào
cũng xuôi chèo, thuận gió. Từ khi trăm hoa buộc
phải chỉ nở một màu, một kiểu;
người người như một, triệu triệu
người như một ; “từ ấy[v]”,
th́ tôi thẳng thừng như thuyền đi ngược
gịng, chèo ngược gió. Nước chảy xiết, gió
mạnh mà lại không doi, không vịnh, để có
đoạn gió thổi một bên, để nhờ doi núp
gió, tránh bớt sức cuốn của nước, sức
quật của cuồng phong. Tôi như hoàn toàn bế
tắc, thấy ḿnh bỗng nhiên là người dưng
nước lă, lạc loài ngay trong ḷng đất mẹ. Tôi
vẫn tiếp tục đón nhận học sinh, phụ
huynh, giáo chức. H́nh thức như trước, nhưng
bên trong, hoang mang, lạc lơng, tôi và việc làm của tôi
như hoàn toàn cách biệt, tôi không c̣n biết ḿnh đang làm
cái ǵ. Có người gọi đó là hiện tượng
vong thân. Có lẽ v́ vậy mà tôi gần Cụ Phan hơn, dù
rằng mỗi người mỗi cảnh, Cụ theo cái
logic và những giá trị của Cụ, và chọn con
đường tuẩn tiết. Tôi th́ chịu điên
đảo trong những đảo điên nhất thế
gian.
"Chúa bể Nam là Thúc. Chúa bể Bắc
là Hốt. Chúa khu giữa là Hỗn Độn. Thúc cùng
Hốt thường gặp nhau trên đất của
Hỗn Độn. Hỗn Độn đăi họ rất
tử tế.
Thúc cùng Hốt mưu tră ân Hỗn
Độn, nói rằng:
- Người ta đều có bảy
khiếu để trông, nghe, ăn nghỉ. Riêng ông này không
có. Ta thử đục nó xem.
Ngày đục một khiếu, bảy ngày
mà Hỗn Độn chết."[vi]
Giáo dục không làm con người chết.
Giáo dục tôi luyện con người, nhằm trang bị
những hành trang (trong đó có thói quen) giúp con người
có một cuộc sống ḥa hợp với tha nhân và
vạn vật. Tuy nhiên nếu không khéo, th́ phụ huynh và các
nhà làm giáo dục, gia đ́nh, học đường công
lập hay của các giáo hội đều có khả
năng làm công việc mà Thúc và Hốt đă thực
hiện cho Hổn Độn. Có thiện tâm, thiện ư,
thiện chí, có nhiệt t́nh, nhưng lại giết
chết tâm hồn của trẻ con. Tẩy năo và nhồi
sọ là làm què quặt, là nô lệ hóa con người. Nô
lệ là chết. Tên Châu Văn Liêm, Lê Hồng Phong nhắc
nhở người đời việc tẩy năo và
nhồi sọ. Tên Phan Thanh Giản, Pétrus Kư làm cho
người ta nghĩ đến văn hóa giáo dục, và
việc giải phóng con người
Tôi với tôi
Người đời thường phân
biệt chánh tà, thị phi hai mặt. Tà là tối, dở,
xấu, quỉ, ma, vô giáo dục... Chánh là: sáng, giỏi,
đẹp, sang, quí, tiên, thánh, phật, có giáo dục.... Và
lánh tà qui chánh là lẽ thường. Mạnh mẫu dời
nhà v́ muốn con tránh xa cái tà khí của môi trường.
Cũng v́ muốn cho bằng
được cái chánh, người có chút thành công—mà
mấy ai lại không có lúc cảm thấy ḿnh thành công
tuyệt đỉnh—thường nói về ḿnh, gia tộc
ḿnh một cách rất là chánh; thậm chí có khi v́ đó mà
người nghe ngỡ ngàng tưởng như là ḿnh không
được mấy chánh.
Riêng tôi, tôi không có mặc cảm chánh tà.
Trời sanh tôi vốn là tà, v́ nhiều lẽ.
·
Môn
Sinh
Nhứt
quỉ, nh́ ma, thứ ba là học tṛ. Đám học tṛ, không
phân biệt lớn nhỏ, bị sắp loại chung
với quỉ ma: tà trong đám tà. Nhưng cái lũ ma gà
"trời đánh thánh đâm" ấy lại là lẽ
sống không chỉ của tôi mà c̣n của một số
đông đảo khác. Không có chúng, tôi phải đóng
cửa, thầy giáo, cô giáo, nhân viên, anh bán nước đá
vệ đường, chị bán xôi trước cổng
phải lúng túng t́m nơi khác, các tiệm sách trong thành
phố cũng vắng đi một số khách hàng đáng
kể. Thực chất là cái đám quỉ ma ấy
dưỡng nuôi tôi, tôi luyện tôi, thử thách tôi, và làm tôi
lớn mạnh trong cuộc sống học
đường. Nghĩ cho cùng, chúng là hơi thở,
niềm tin, ray rức, hi vọng hay thất vọng mà tôi
"trải nghiệm" suốt gịng đời.
Những tháng hè, hay thời gian đóng cửa v́ những
biến cố chính trị, sân trường lặng tanh,
đ́u hiu dễ sợ, tôi cảm nhận một sự
thiếu vắng mênh mong. Tà chất của chúng đă
trở thành sinh khí cho tôi không biết tự bao giờ.
Gần mực th́ đen, gần đèn th́
sáng. Sống với ma quỉ,
mật thiết hơn bóng với h́nh, sao lại không
bị ảnh hưởng cái tà ma, quỉ quái của chúng.
Càng mất dạy, chúng càng cần tôi hơn bất cứ
đứa học tṛ nào khác. Với những tên này, tôi càng
phải gần hơn, chu đáo hơn. Nói tam cùng—cùng
ăn, cùng ở, cùng làm—với chúng th́ quá đáng, nhưng
phải hết t́nh, hết lư trong giới hạn của
sự khả thi. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi lúc
nào cũng thích thú với bọn ma trơi. Có khi cũng muốn cho chúng
một trận đ̣n nên thân, hoặc đuổi một
vài đứa để làm răn đe.
Cuộc sống của tôi chánh yếu trong
tương giao tác động, "hỷ nộ ái
ố" đó với chúng nó.
Tóm lại, tôi sống với bọn tà, quen
với chúng, thích thú với tà chất của chúng. Chúng mà
"chánh" rồi th́ c̣n cần ǵ tôi. Ngày lại ngày tôi
nhiễm tà khí tự bao giờ chẳng biết.
Dầu vậy, như mọi người,
tôi vẫn muốn tôi là chánh. Tôi sử sự như
người chánh phái, nói chánh, làm chánh, nhất nhất
đều phải chánh. Phải như vậy, phụ huynh
mới tin giao con em cho tôi. Vă lại, nhiệm vụ của
tôi là biến cải cái tà khí trong môn sinh thành chánh khí. Tôi có
chê trách giáo lư của Thầy Mạnh, Thầy Tŕnh là vô
hồn, là cứng ngắc. Trong thực tế, tôi "tùy
duyên" mà sữ dụng, để có sinh khí cho các lớp
học của tôi. Nói chung, những kiến thức vô
hồn, lỗi thời, xưa như trái đất là duyên
cho đối thoại, cho những nghĩ suy, tác
động qua lại giữa thầy tṛ, và giữa
học tṛ với nhau. Trong cái chánh hết sức chánh này,
tôi cũng lắm gieo rắc lắm điều tà. Sau
đây là một thí dụ "điển h́nh" cho
thấy chất tà trong chánh đạo của tôi.
Cách tôi không xa bên Cầu Ông Cả Đài[vii],
là am cốc của Tà Lơn Đạo Sĩ. Tiếng
đồn rằng trước kia ông tu tiên ở núi Tà
Lơn, sau đó ông sang tu Phật, nhưng không chịu mang
họ Thích, v́ ông muốn giữ cái gốc Tà Lơn; mà
lấy Pháp Danh là Thích Tà Lơn th́ nghe không ổn. Thế
nên, dầu tu Phật, ông vẫn giữ tên Tà Lơn
Đạo Sĩ. Có
người gọi tặng là Tà Lơn Pháp Chủ. Nếu
lấy kiến "chiếu tiên"[viii]
mà soi nguồn gốc của ông, th́ ông xưa kia vốn là
một trong những môn sinh bất hảo nhất của
tôi. Ngoài giang hồ, Tà Lơn có thớ lắm, tuy chưa
bằng ông Sáu Thanh[ix],
nhưng nó là đại ca của một đàn em rất
hùng mạnh và có kỹ luật, nghe đâu đáng kể, và
đáng nể. Thế mà nó đă nhẹ dạ nghe tôi, theo
về chánh phái, đi theo nghề giáo. Rồi nó nghèo, nghèo
xơ nghèo xát, nhưng vẫn giữ kẽ. Đến ngày
"được giải phóng", tuy không phải đi
tù cải tạo, nhưng là giáo viên tỉnh nhỏ,
phải làm công tác tuyên truyền hơn là giáo dục. Nó bèn
bỏ công việc làm sư gơ
dầu trẻ, trôi nổi mất tâm biệt tích một
thời gian, rồi về đây, giờ là Tà Lơn Pháp
Chủ.
Một hôm, trong một thời kinh, Pháp
Chủ lâm râm tŕ tụng: "Bất cứ ai muốn
đạt tới an lạc, thường nên học
hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng
ngôn ngữ từ ái; những kẻ ấy biết sống
đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ ḥa,
điềm đạm, ít ham muốn, không đua đ̣i theo
đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất
cứ một điều ǵ mà các bậc thức giả có
thể chê cười...Ta hăy đem ḷng từ bi không
giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn
loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải,
ḷng từ bi không bị bất cứ một cái ǵ làm cho ta
bị ngăn cách, tâm ta không c̣n vương vấn một
chút oán hờn hoặc căm thù. Không lạc vào tà kiến,
loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh
và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn
đạt được an lạc và vượt khỏi
tử sinh." Đến đây, ông bỗng phá lên
cười ba tiếng, khóc ba tiếng. Người
đệ tử hầu cận sớm khuya bên ông, lo sợ
vội vấn an. Ông bảo:
"Ta chẳng sao cả. Ta vốn xuất thân từ cái
đám môn sinh tệ hại nhất của cái trường
Phan Thanh Giản bên kia đường. Giờ tu tâm
dưỡng tánh, nương nhờ cửa Phật.
Nhưng kinh kệ có lắm điều làm ta dỡ
cười dỡ khóc. Kinh dặn ḍ "đừng làm
bất cứ một điều ǵ mà các bậc thức
giả có thể chê cười." Nghĩ lại mà
bắt cười: thức giả mà c̣n nh́n vào cái lỗi,
sai, quấy, hay ngu dại của người khác
để cười chê, th́ có đáng cho ta để ư
đến hay không? Thức giả ấy là những ai, tiêu
chuẩn họ là những ǵ để khỏi bị chê
cười, hay là họ cũng chủ quan, đầy tiên
kiến, hay là cũng đổi thay như mây, như gió.
Vả lại, sống trong lo ngại th́ làm sao thân tâm an
lạc. Đến như cái trường Phan Thanh Giản
kia nếu ngại bị chê cười v́ thiết tha
chứa chấp những một gă chẳng ra chi và khổ
sở như ta thời ấy, th́ chưa hẳn ta đă có
những điều kiện hiện nay để học
hỏi kinh kệ và học hỏi tu hành. Ta không biết là
quí thầy cô của ta có "phải học và hành sự thẳng
thắn, khiêm cung”, có biết sử dụng ngôn ngữ
từ ái, ... đem ḷng từ bi không giới hạn,.., có
“lúc nào cũng duy tŕ chánh niệm..." hay là vào lớp
học, lúc soạn bài, tâm họ trọn vẹn với
bọn ma trơi chúng ta, mọi cái khác là thứ yếu
hoặc chỉ là phương tiện. Vả lại, những cái
phải, cái biết ấy, không phải đương
nhiên mà có, phải lắm công phu, dày công tôi luyện, tức
là tập tành trong những mâu thuẩn triền miên, như
vậy th́ đến bao giờ thân tâm an lạc. May mà
thầy cô của ta không chạy theo những ư niệm nêu
trong lời kinh, mới độ được lũ
chúng ta.
Nói riêng, độ được ta, đă
là tâm bồ tát. Cái tâm bồ tát đó cũng đầy sân
hận.
Cho nên, nghĩ lại mà mắc cười.
Mà cũng phải khóc, là v́ người đời sao quá
dễ tin. Nhất là những lời hứa hẹn an
lạc và vượt khỏi tử sinh, thật đáng
cười mà cũng đáng khóc. Phật nào có nói thế,
chẳng qua là người đời dịch lại kinh
theo những bản dịch hoặc theo những bản kiết
tập truyền khẩu, ít nhiều tam sao thất bổn,
rồi nghĩ theo cái chủ quan hiểu biết và
tưởng tượng của ḿnh, tưởng rằng
tâm bồ tát phải là một cái ǵ hoàn bị và thoát
tục. Rồi tin đó là "lẽ thật". Trường Phan Thanh Giản
của ta thẳng thắng, khiêm cung chăng ? Ta chỉ
nhớ rằng thuở ấy, có nặng, có nhẹ, có
từ ái nhưng cũng có rầy, có la, có mắng, có
phạt. Rầy la mắng chữi chẳng chết ai,
phạt mới là phiền toái. Cuộc sống với
Bồ Tát không phải lúc nào cũng thoải mái."
* * *
Lạy Bụt, con, Trường Phan Thanh
Giản Cần Thơ, thật tội lỗi, con đă hănh
diện về cái nghèo xơ xát của cuộc sống
thầy giáo của Tà Lơn, tự cho đó là một thành
công vĩ đại của con, nghĩ rằng đă giúp nó
đi ra khỏi nơi tăm tối. Vô t́nh con đẩy
nó vào cái nghèo, nghèo rớt mồng tơi. Nghèo sinh nạn, và
một trong những cái nạn lớn nhất của nó là
sự cao ngạo, nghĩ rằng ḿnh đă nắm bắt
được lẽ sống, đang ở trên
đỉnh cao của nhân loại. Nó nghĩ rằng
nghề ḿnh thanh liêm trong sáng, không ở chùa, không là khất
sĩ, không vào gịng kín, nhưng có khi c̣n khắc khổ
hơn, nghĩ rằng ḿnh là một ánh sáng của
địa phương và là người gieo ánh sáng, đem
lại nếp sống văn minh, sự an lạc tinh thần
cho trẻ con và thôn xóm. Cái chết của nó là ở đó,
là ở sự tự nhốt trong một ảo ảnh,
trong một "chánh niệm", trong một sự cao
ngạo ít nhiều thiếu cơ sở thực tế. Và
hôm nay, mặc áo tràng, tụng niệm kinh Phật, Pháp
Chủ Tà Lơn lại ngông cuồng cười
cười khóc khóc, phê phán hàng giao phẩm, chẳng tin vào
lời kinh. Chưa thành mà đă kiêu mạn. Con thật
đáng tội.
Cái tội cũng c̣n là: “làm cho những
tâm hồn thơ ngây trong sáng muốn—hoặc thích
thú—đi vào một nếp sống đă qui định
và không dễ đổi thay.”
Con dạy chúng phải
"thành công, thành công và đại thành công",
"phải có danh ǵ với núi sông", "không thành danh
cũng thành nhơn ", "bỏ tà qui chánh",
đại loại như thế. Mỗi ngày, gieo vào chúng
những ư niệm, in như là kinh nhật tụng, nhưng
với h́nh thức khác nhau, ít nhiều tinh vi, v́ có khoa tâm lư,
sư phạm trợ lực, v́ rất khoa học. Ngày qua
ngày đứa học tṛ của con thấm thấu
những lời hay ư đẹp, rồi tự giam ḿnh trong
thèm muốn thành đạt, trong danh phận, trong niềm
tin "không ǵ lay chuyển nổi" ở một hệ
thống giá trị trong một thế giới mà sự
đổi thay mỗi lúc mỗi nhanh. Nói về lịch
sử hai triều đại Lư Trần, một giáo sư
của con say sưa tô điểm như là thời Nghiêu Thuấn ở
Trung Quốc. Và gần đây, th́ nào là Việt nam
"lương tri của thời đại",
"đỉnh cao của trí tuệ" loài người.
Con có cảm tưởng các ông giáo, bà giáo của con, như
Ả Q[x], đă
dùng đại ngôn để diễn đạt mặc
cảm tự ti của ḿnh về dân tộc. Con đă
chứa chấp và phổ biến những điều méo
mó ấy. Đó là bản chất tà trong chánh niệm
của con.
Lạy Bụt giúp cho con một
hướng đi. Con độ học tṛ con ra khỏi
tối tăm hay đă cho mỗi đứa một bản
án chung thân –chạy theo những ảo ảnh của
sắc-tài-danh-lợi?
Để nó dốt, mà tâm nó trong lành, cuộc sống
nó giản đơn hay cày vào nó những ư niệm—biến
nó thành nô lệ—mà người đời cho là chánh? Lạy
Bụt, giúp con ngọn đuốc soi đường.
* * *
·
Giáo
Sư
Nếu học sinh là hơi thở, th́ giáo
chức là huyết quản, là nguồn sinh lực của
tôi. Phụ huynh, học sinh v́ họ mà đến với
tôi. Suy nghĩ, cảm xúc, hành động của tôi
đều phải qua họ. Họ có Phật tâm nhưng
chưa là Phật. Thế nên, tà khí trong họ c̣n nhiều,
nhất là khi họ có ảo ảnh vị tha, yêu trẻ,
thương nghề.
Về họ cũng có lắm chuyện.
Đâu đâu, cũng có những tên bán
đề thi, chạy "mánh" trong các mùa thi cử,
lấy cớ là quá nghèo, vợ con đau ốm, cha mẹ
già phải phụng dưỡng. Những con sâu làm sầu
nồi canh ấy, sớm muộn rồi cũng bị
gắp ra vứt bỏ, không đáng nói. Cũng có
người chọn lầm nghề, hoặc dùng tôi làm
chỗ tạm dung, lánh nạn, chờ bước lên
một nấc thang cao hơn trong xă hội; cũng không
đáng nói. Bên cạnh đó, có những ông giáo bà giáo
trời sanh đă có máu thầy giáo trong người:
mỗi lời nói, thái độ, cử chỉ, nghĩ suy, cảm xúc
của họ lúc nào cũng đúng nơi, đúng lúc.
Triết lư giáo dục, phương pháp sư phạm, tâm lư
học, tất cả những lư thuyết cần thiết
cho việc dạy và học như đă tiềm tàng
sẵn đâu đó trong ḷng họ. Không t́m t́nh thương
mà được thương, không cố khiêm cung mà
được kính. Đó là những con người
lỗi lạc. Không tu mà thành. Tôi chỉ biết cúi
đầu bái phục.
Cái đa số c̣n lại mới là đáng
nói, v́ chúng tôi mật thiết với nhau suốt chiều
dài của cuộc sống học đường. Ḷng
của họ cũng là của tôi. Nhưng quan trọng
nhất là v́ họ không phải là những người
thiên phú, họ cần phải học dạy, học
đứng lớp, học soạn sữa bài, học t́m
hiểu bắt gặp tha nhân, thấu hiểu học sinh
và phụ huynh. Không phải biết một số kiến
thức về Văn, Toán, Lư, Hóa, Vạn Vật, Sinh
Ngữ, v.v. mà dạy được. Dạy không chỉ là
truyền lại kiến thức, dạy là dùng kiến
thức làm duyên để tôi luyện con người, và
điều này mới là quan trọng hàng đầu. Có
học cái dạy trong sách vở, ở những thuyết
triết lư, sư phạm, phương pháp, nhưng chính
yếu học cái dạy là ngay trong lớp, trong những
tác động hỗ tương giữa thầy tṛ và
giữa học tṛ với nhau. Thầy và cô giáo chỉ
thật sự sống là với học sinh ḿnh, nói cách khác
là học nghề qua sự tương giao tác động
với chúng nó. Thế nhưng một số khá đông
chưa ư thức được điều này. Vậy rồi, ôm một mớ kiến
thức chết, xưa như trái đất, và lắm khi
lỗi thời mà nghĩ rằng ḿnh lúc nào cũng hay,
cũng giỏi, cũng đúng hơn người, rồi
cao ngạo, ngông cuồng. Lúc nào cũng than văn cái nghề
bạc bẽo như vôi, hoặc đời đục, ta
trong, học tṛ càng ngày càng dốt. (nghĩ cho cùng chúng có
dốt mới cần thầy, thầy mà có học tṛ
dốt không có ǵ phải nói).
Quen “gọi dạ bảo vâng” rồi nghĩ tự
cho ḿnh cái gương sáng hoặc cho rằng mọi
người đều cần ḿnh, đến đâu
cũng dạy đời, nói lư.
Cái bệnh ấy là thấy ḿnh lúc nào
cũng hay, cũng đúng, cũng là thước đo
của mọi thang giá trị; khi trở thành kinh niên th́
bất trị; khi nặng rồi th́ chưa già mà đă lăng
tai, mắt như có cườm, chỉ nghe thấy
được những ǵ ḿnh muốn nghe thấy.
Chừng ấy, ḿnh trở nên khuyết tật, khư
khư trong thành kiến, không c̣n đón được gió bốn
phương, không c̣n theo dơi được sự
đổi thay của thế sự, không c̣n cảm
nhận được sự chuyển biến bên trong
của người môn sinh. Ngay trong cái dạy b́nh
thường nhất của những ông giáo, bà giáo đă có
bạo hành, chỉ khác nhau là người ư thức,
người không. Giờ nửa mù, nửa điếc, th́
làm sao đây?
Tôi
có nói tôi không mặc cảm về tà chánh, v́ đă quá quen
thuộc với kẻ tà.
Thế
nhưng, cái tật nửa mù nửa điếc của các cô giáo
thầy giáo là vấn đề sinh tử của tôi v́ tôi
là một học đường cho trẻ con có thính giác và
thị giác b́nh thường.
Có lần, một ông giáo chán đời
về với Bụt. Ông tụng A Di Đà, Kim Cang, Bát Nhă,
Pháp Hoa, Viên Giác, Hoa Nghiêm,... Rồi ông ngộ ra rằng
từ trước đến giờ ông đúng quá, thế
mà ông vẫn khổ. Lại thêm một con người
khuyết tật vừa mù vừa điếc.
Lời Sám
Lạy Chúa,
Con là kẻ có tội, v́ con vốn là vô
đạo: con không rữa tội, không tên Thánh.
Lạy Bụt,
Con là người ngoại đạo: con
không qui y, không có pháp danh.
Thương và hiểu cho con.
Ngay
cả đạo cộng sản, mà hiện nay đang
ở vị thế độc tôn, con cũng không vào; cái bí
danh Châu Văn Liêm là bị gán ép, con nào có muốn. Tuy nhiên, cửa con vẫn mở
đón nhận tinh hoa xưa và nay của các đạo lư
khắp nơi. Thân phận buộc con không về
được với một đạo nào dầu lúc nào
ánh cáng của Đạo cũng hướng dẫn tâm con.
Lạy Bụt,
Con vốn là một loại ốc
mượn hồn. Hồn của con là những nhân viên lao
công tùy phái, thơ kư, hội kế, hiệu trưởng,
giám học, giám thị các cấp, nhưng chánh yếu
nằm trong thành phần giảng dạy, đó là trí năo, là
t́nh lư của con. Và trong một giới hạn nào đó
hồn của con cũng c̣n ở trong các môn sinh. Có
người c̣n đang ngồi ở lớp, ở thư
viện hay đang đùa giỡn trong sân. Có người
đang phiêu bạt tận chân trời gốc biển,
nhưng bóng h́nh họ như đang c̣n đâu đó, ghi kư
ức của ngày qua, nói lưu luyến, nói t́nh, nói
nghĩa. Lớp này qua, lớp kia đến, con không
ngừng đổi mới.
Con thật sự sống vô thường.
Con có muốn thường hằng cũng
không được, v́ hồn con vốn vay mượn, và
vay mượn của những tập thể không ngừng
đổi thay.
Mượn
hồn, con phải sống vô ngă. Cái ngă của con ở
nơi con vay mượn và nơi đó ở bất cứ
một thời điểm nào cái ngă ấy cũng là duyên
hợp mà thành, trước sau một sát na đă khác.
Tự thân con
vốn không có hồn, đó là không. Cái trống không bên trong
của con, thế mà diệu dụng, dung chứa bất
cứ cái ǵ cũng được. Có nên xem cái trống
không diệu dụng đó và cái hồn vay mượn kia là
chân không, chân không mà diệu hữu? Nếu được
vậy, con đă sống được cả ba: vô
thường, vô ngă và không. "Cửa giải
thoát" cho con không chỉ "hé mở"; nó đă
mở toát ra rồi.
Lạy Bụt,
Bụt
đă thấu hiểu con sẽ bạch cái chi rồi. Con
chưa muốn đi qua phía bên kia bờ, dù đ̣ sang sông
đă sẵn. Con hiểu bên kia là nước của
Bụt, là Niết Bàn, là Nước của cái vui cùng
tột[xi].
Nhưng đă sống vô thường, vô ngă, và không
th́ đây hay đó có khác chi nhau. "Tự lai, tự khứ". Tự
đến, tự đi, không dính mắc, h́nh như đó
là bản chất của con. Qua bờ bên kia, phải
để lại hồn con phía bên nây, th́ con lại “trơ
như gỗ đá”. Buồn! V́ ḷng người lúc nào
cũng có tà, có chính, v́ lúc nào cũng c̣n những ma
đầu "trời đánh thánh đâm", cần
được "cải tạo", v́ lúc nào cũng có
những gả ăn bám ở th́, dùng con là thuẩn che thân,
và cũng v́ số thiện tâm nửa đui, nửa
điếc không phải ít, lắm điều tà “tự
tại” nơi hồn con, nên buộc con phải ở
lại bên nầy. Con có than thân, có nói không vừa ḷng về
cái tên mới của ḿnh. Nhưng nghĩ cho cùng, dù mang tên
Châu văn Liêm, hay mang bất cứ một bí danh nào khác, con
vẫn là con. Có điều, con muốn ṣng phẳng,
thật thà với môn sinh, với phụ huynh của chúng.
Tạo tư duy độc lập ở người
học tức là phủ định việc giao mạng
ḿnh cho lănh đạo, phủ định việc
để cho hàng giáo phẩm hay cho bất cứ ai suy
nghĩ và hành động thay cho ḿnh. Tức là không để
cho trí năo lười biếng, không tập con người trở
thành thụ động—không dấn thân, không tham gia vào công
việc chung— không tạo sức ỳ, sức cản cho
tiến bộ. Giáo dục không là rập khuôn, không là
sản suất những con rối đồng loạt
vổ tay, khi được lănh đạo gợi ư vổ
tay, đồng loạt hô to "đả đảo"
hay "hoan nghinh", sau khi đă được dặn ḍ
học tập, không được làm trái lại. Giáo
dục đào tạo những con người có tính
người, t́nh người, lư người: Tính, T́nh, Lư
ấy là nội tâm, là cái bên trong đặc thù của
mỗi cá thể.
Lạy
Bụt! Lời lẻ của con như là của
người chánh phái, nhưng con không thể khử hết
những kẻ buôn đề bán chữ, không dẹp
được những tên "cơ hội" dùng con là
đất tạm dung, và con cũng không biết làm cách nào
để chữa trị cho các ông giáo, bà giáo khuyết
tật của con. Thói quen c̣n có thể sửa
được. Nhưng họ lại hănh diện với
cái thói quen đóng kín, kiêu mạn và cuồng ngạo, như
cái gả Tà Lơn Đạo Sĩ kia, th́ cái thói biến
thành cái tật. Tật nguyền th́ mang lấy suốt
đời. Trẻ con do đó
có thể là nạn nhân của những bạo hành đáng
tiếc[xii].
Nói riêng, về những nhà lănh đạo
Việt nam gần đây và hiện nay, họ là những
người đă từng đấu tranh giành quyền
lực để cải tạo xă hội, gọi đó là
làm cách mạng. Khi có quyền lực trong tay, đại
thành công, họ đă quên những năm tháng phải
đổi tên cải họ, trốn chui trốn nhủi,
nhờ dân hết t́nh che giấu, họ quên những năm
tháng tù đày, họ say sưa trong chiến thắng, trong quyền
lực; giờ đây, những tham vọng, những thèm
muốn quyền uy và thế
lực bị dồn ép và đè nén do phong tục tập quán,
do giáo dục; những h́nh ảnh huy hoàng của những
triều đại chuyên chính mà họ lượm lặt
đó đây, tất cả những thứ ấy bây
giờ bùng lên, và nếp suy nghĩ cũ học ở gia
đ́nh, ở học đường, cũng trở
lại uy mănh hơn bất cứ lúc nào. Thế rồi, in
như thuở xưa, họ phong quyền phong tước
cho nhau, chia nhau đất đai để trị, chuyên
chính vô sản biến thành chuyên chính của một số
vua chúa phong kiến. Họ là những người tiên phong
làm cách mạng, và họ cũng là những người
đầu tiên phản cách mạng, hay triệt tiêu nền
móng và năng lực cách mạng ngay trong những năm
tháng đầu của sự đại thành công. Thế
nên, công việc của họ ngừng lại ở chỗ
thay đổi cơ cấu và guồng máy chính trị cho
phù hợp với quyền lợi và vị thế của
chính họ, lấy lư tưởng cộng sản làm b́nh
phong, tạo nên một giáo hội mới độc tôn mà
họ là hàng giáo phẩm tối cao. Tự trói ḿnh trong
quyền lợi và quyền lực, trong một cấu trúc
mà lời của ḿnh phải là thánh kinh, họ trở thành
nửa đui, nửa điếc như các ông giáo bà giáo
khuyết tật của chúng con, họ đă tự đánh
mất khả năng thực hiện một sự
giải phóng chính trị cho toàn dân. Thế nên, nếu không
quá đói, không bị ép vào cảnh ngặt, th́ quần chúng
đứng ngoài, giữ thế, và như vậy c̣n lâu
lắm chúng con mới được bàn thảo về
việc giải phóng con người. Âu là nghiệp
chướng. Ác lai, ác báo. Học đường đă gieo
rắc bạo hành. Thành quả là như thế đấy.
Lạy Bụt!
Tà Lơn Đạo Sĩ lại
cười ba tiếng, khóc ba tiếng!
Houston, ngày 22 tháng Giêng, 1999