Tôi Chào Đời
Tôi sanh bên bờ sông Hậu, tỉnh lỵ Cần
Thơ, năm 1917, đến nay tṛn 80 năm. Thuở
ấy, ít người biết chữ, cả chánh lục
bộ hay xă trưởng, có khi cũng không rành chữ
nghĩa phải thuê một thơ kư có tên chung là biện mà
vốn liếng quốc ngữ cũng rất khiêm
nhường. Biện đây là biện làng, không nên hiểu
lầm với Bang Biện; Bang Biện là một chức
sắc chỉ đứng sau Cai Tổng. Một tổng
gồm nhiều làng xă, Cai Tổng là vị đầu
tổng. Cái thời ấy viết nhầm tên họ là
thường. Thí dụ Thị Ḥe viết thành Thị Hèo,
Ngọc Thúy thành Ngọc Thúi là phổ biến. Trong
trạng huống đó, tôi là một biệt lệ. Khai
sanh tôi được trịnh trọng đăng lên công
báo, bằng tiếng Lang Sa, và nghe đâu có đăng
cả trên công báo của nước Lang Sa nữa. Cũng
nên ghi rằng dầu chẳng đẻ bọc điều,
tôi vẫn được cấp tiền chi dụng, và
số tiền này được dự trù tăng theo
mức độ trưởng thành của tôi. Tôi chào
đời dưới một ngôi sao rất sáng, ngày
giờ hội đủ thiên thời, địa lợi,
nhân ḥa: tôi là trung tâm văn hóa cao nhứt vùng. Có mặt
gần đủ các nhân vật quan trọng trong chánh
quyền, từ trung ương đến địa
phương, quân, dân, chính, thân hào nhân sĩ, đến chào
đón tôi ra đời. Có nổ champagne, tiệc tùng,
nhạc vũ. Nói chung mọi người đều
hể hả.
Tên tôi: Collège de Cần Thơ.
Tôi bằng ḷng với cái tên này. Thật ra,
từ viên gạch, hạt cát, đến công sức xây
dựng nên tôi đều là của người Cần
Thơ và vùng lân cận. Tôi mang tên Cần Thơ là phải
lắm. Cần Thơ lúc bấy giờ cũng chuyển
ḿnh trở thành Kinh Đô miền Tây Nam Bộ. Cả
miền Nam sông Tiền đều phải đổ về
đây v́ tôi. Khiêm nhường mà nói, nhất thời tôi là
“đỉnh cao trí tuệ” của vùng rộng lớn và giàu
tiềm năng này.
Cả vùng chấp nhận tôi một cách
trọn vẹn. Cần Thơ là đất mẹ của
tôi.
Về phía người Lang Sa,
tôi cũng có một thế đứng vững vàng.
Điều này không v́ cái tên Collège gắn liền cho tôi.
Mọi chế độ, từ minh quân đến bạo
chúa, dân chủ hay độc tài hà khắc nhất,
đều tự cho ḿnh một sứ mạng cao cả,
thế thiên hành đạo, giải phóng con người, an
cư lạc nghiệp. Chính phủ Lang Sa không là một
biệt lệ. Nếu họ có đô hộ người
bản xứ, sưu cao thuế nặng, thuê nhân công
rẻ, với điều kiện an sinh tồi tệ,
nhất là ở các đồn điền, hầm mỏ...
th́ họ cũng có mở mang đường xá, cầu
cống, kinh rạch... Nếu ở mỗi tỉnh lÿ
họ đều xây một khám đường th́ họ
cũng mở trường tiểu học ở các
quận lÿ và có khi ngay trong thôn xă. Nếu họ đến
với tàu chiến, súng đạn và những tên lính
trận, th́ cũng có bác sĩ Yersin, linh mục Alexandre De
Rhodes. Những điều tốt mà họ đă thực
hiện không hẳn với hậu ư tốt. Mở mang
đường xá, cầu cống, kinh rạch có nhằm
cho những mục tiêu chính trị và quân sự, xây
trường cũng nhằm đào tạo những công
bộc cho họ...
Có thể, người Lang Sa
hiểu rằng người địa phương có
một ư thức dân tộc cao, một nền văn hóa lâu
đời; theo đó, họ không thể cai trị bằng
súng đạn và bàn tay sắt. Họ cần chiêu dụ.
Vả lại, lúc bấy giờ, họ lại đang lâm
chiến với Đức Quốc: Thế Chiến
thứ I, 1914-1918. Trong quân đội Lang Sa có người
bản xứ ở các cấp. Trong giới thợ
thuyền cũng có người bản xứ. Chánh
quyền Lang Sa cần một sự hợp tác của
người bản xứ và cần hơn nữa là
một sự yên ổn ở các xứ đô hộ
để rảnh tay đuổi giặc nhà. Thế nên, tôi
ra đời là cả một sự tính toán thiệt hơn
và chi ly của chính quyền thuộc địa, nhất
thời đang suy yếu.
Vậy, tôi phải là một
niềm tự hào của người Lang Sa trong sứ
mạng gieo ánh sáng của họ. Trong thực tế,
như tất cả các đồng nghiệp khác thời
bấy giờ—trường Khải Định,
Đồng Khánh, Pétrus Kư, Nữ Học Đường,
Mỹ Tho..—tôi là một
đầu tư thanh thế cho người Lang Sa. Thế
nên, dầu “mẫu quốc” có thọ thương trầm
trọng, có kiệt quệ bởi chiến tranh, tôi vẫn
được dự trù trong tầm vóc lớn. Tôi nguy nga
đồ sộ giữa bốn con đường:
Đường Cái Khế phía trước, Saintenoy phía sau,
Pasteur bên mặt và bên trái là một con đường
nhỏ trầm lặng, có lẽ v́ tôi mà hiện hữu.
Trong bối cảnh đó, tôi là Tây Thi, Trịnh Đán của
phía Nam sông Tiền.
Lúc Thiếu Thời
Tôi là người đẹp của Cần
Thơ, của cả vùng sông Tiền, sông Hậu, tận Cà
Mau, Rạch Giá. Tôi cũng hiểu ḿnh không thể chỉ là
cái đẹp phô trương, biện minh cho kẻ
mạnh là người Lang Sa. Sứ mạng lịch sử
của tôi, cuộc sống của tôi chỉ thực
sự có ư nghĩa khi đem về được cho
đất mẹ, miền châu thổ này, một
đời sống mới an lạc và ánh sáng của năm
châu. Tôi hănh diện về sứ mạng này và về ḷng
muốn dâng hiến cái hay, đẹp, để làm phong phú
cho quê tôi.
Tôi có nhiều tham vọng. Tôi phải
mang một cái ǵ đặc thù cho miền này. Ít nhất tôi phải có một
chương tŕnh ngắn hạn 4 năm Cours Complémentaires,
một chương tŕnh dài hạn 6 năm tú tài và cũng
có đủ 3 ban triết-toán, triết-khoa học,
triết-văn chương, và một chương tŕnh
ngắn hạn dạy nghề, thí dụ nông nghiệp,
cần thiết cho vùng.
Thế nhưng người ta
gói chặt tôi trong cái hạn hẹp của Cours
Conplémentaires, mà người ta bao trong mỹ từ Cao
Đẳng Tiểu Học và chỉ cho phép thu nhận tối
đa 400 môn sinh.
Có thể người Lang Sa
nghĩ rằng dân địa phương chưa có nhu
cầu và phương tiện học cao hơn. Cũng có
thể họ chỉ muốn đào tạo những
thầy thông, thầy phán, thông ngôn, thư kư, nói chung là cấp
thừa hành trong các cơ quan công quyền. Cũng có thể
họ muốn tôi là một trong những ḷ cung cấp thí
sinh cho các trường Cao Đẳng ở Hà Nội, mà
nhiệm vụ lúc bấy giờ là đào tạo y sĩ,
giáo sư, cán sự,... , nói cách khác là cấp trung cao của
chính quyền đương thời.
Chính quyền nào cũng
thế, đều muốn có một sự ổn
định chính trị, xă hội và kinh tế. Trong
chiều hướng đó, họ muốn đào tạo
một số công bộc trung thành với những giá
trị và trật tự đương thời. Cái đám
công chức người Lang Sa lười biếng và
thiếu sáng kiến thời bấy giờ đă đem
trọn chương tŕnh Cours Complémentaires, sao y bản chánh,
với một vài thay đổi nhỏ, gán cho tôi.
Những năm đầu, tôi
cũng lắm khó khăn trong việc tuyển chọn môn
sinh. Đồng bào trong vùng v́ chưa biết nên ít ai
chịu gởi con ḿnh đến nhờ tôi nuôi dạy.
Hệ thống giao thông c̣n lắm nhiêu khê. Đối
với Sóc Trăng, Cà Mau, Long Xuyên, Rạch Giá th́ Cần Thơ
xa vời vợi. Ở thời ấy, quan niệm “phụ
mẫu tồn bất khả viễn du” (cha mẹ c̣n
sống th́ không thể đi xa được) c̣n phổ
biến. Vả lại, họ thấy ở tôi là cả
một cuộc phiêu lưu: cái mới là cái chưa biết,
và cái chưa biết nào cũng có những nguy cơ bất
ngờ, đáng ngại. Người phụ huynh ngại
gởi con đi xa, ngại cái chưa biết. Lai rai
thưa thớt môn sinh trong nhiều năm đầu
cũng tạo lắm khó khăn cho tôi. Nói chung, tôi có
thất vọng v́ những mục tiêu và những hoạt
động hạn hẹp gán cho ḿnh.
Trong thực tế, tôi là
người dạy bách môn: văn, sử, toán, lư, hóa,
vạn vật, thể dục, thể thao,... Theo đó tôi
phải tuân theo những qui điều của Nha Học
Chánh: tổ chức, kỷ luật, chương tŕnh,
sư phạm,... mà Nha Học Chánh th́ trong tay người
Lang Sa. Tôi làm việc trong sự chi phối của chính
quyền thuộc địa.
Tôi phải dạy con em tôi yêu
“mẫu quốc”. Chuyển ngữ là tiếng Pháp. Tiếng
Việt Nam, được gọi là langue annamite, và là môn
phụ. Chào cờ “Đại Pháp” và hát “La Marseillaise”[i]
là việc hàng ngày. Trong Thế Chiến thứ II, các môn sinh
c̣n phải ca thêm “Maréchal, Nous voilà!”[ii].
Môn sinh tôi lúc bấy giờ viết tiếng Pháp rành hơn
tiếng mẹ đẻ. Đă có gia đ́nh bắt
đầu theo lối “trưởng giả học làm sang”,
xem nếp sống Pháp, xem việc nói được vài câu
tiếng Pháp là sang trọng, và coi nếp sống b́nh dị
dân gian là quê mùa, dốt nát.
Tuổi Vị Thành Niên
Tuổi vị thành niên là giao
thời giữa tuổi thơ và người lớn.
Đó là giai đoạn những chuyển biến, xáo
trộn lớn nhất trong đời người. Tôi có
khác người, nhưng cũng không khỏi bị
những ốm đau “nóng lớn” của tuổi vị thành
niên.
Như nêu trên, tôi lớn lên
trong cái khung của chính quyền thuộc địa,
với những thuận lợi, khó khăn và bất
như ư. Thế Chiến II, nước Pháp và Đông Dương
bị chiếm đóng. Chánh quyền thuộc địa
suy yếu hẳn. Họ phải ḥa hoăn, nhân nhượng,
mua ḷng người.
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo
chánh. Một chính phủ Việt Nam đầu tiên ra
đời, chấm dứt giai đoạn lệ thuộc.
Tuổi vị thành niên của tôi khởi đầu từ
đấy. Khởi đầu cùng với sự bừng
dậy của các tổ chức tôn giáo, lực
lượng chính trị, nhằm giành lại độc
lập, chủ quyền, và trải dài trong hào khí sôi
động phức tạp ấy. Thật khó nói là nó
chấm dứt năm nào, tuy nhiên có thể khẳng
định là trong những năm đầu của
Đệ Nhất Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam.
Có 3 điểm đáng ghi trong
giai đoạn này:
1. Tôi phải đóng cửa
một thời gian ngắn sau ngày 9-3-1945.
Tôi thay tên đổi họ và
được mang tên một vị Đại Thần
đă tử tiết v́ dân của cả vùng này: Phan Thanh
Giản. Tôi nghĩ đă đến thời độc
lập, đến lúc phải trở về quê mẹ, trút
bỏ mọi mặc cảm, đem cái tâm trong lành của
ḿnh để hiến dâng. Tôi rộn ràng hớn hở, hào
khí dâng cao. Với tên mới, một cuộc đời
mới mở rộng ra trước mắt. Tôi như con
én sổ lồng. Tôi cảm thấy được cất
nhẹ những buộc ràng của chính quyền thuộc
địa. Tôi bị thôi thúc v́ nhu cầu độc
lập, sớm đem lại an sinh của đất
nước. Cái mộng ban đầu - ước vọng
t́m về dân tộc, đào luyện những con
người thực sự cho vùng này, dân tộc này - đă
có tính khả thi. Tuy nhiên, một số giáo sư và môn sinh
của tôi đă xếp bút nghiên theo tiếng gọi kháng
chiến. Số c̣n lại trở về với tôi, ḷng ít
nhiều xao xuyến. Tôi phải mời thêm giáo sư,
tuyển thêm học sinh ở các trường tư
thục và ở những nơi khác. Sự tuyển
chọn, giáo sư và học sinh, dễ dăi hơn; dầu
vậy, có khi tôi phải nhờ quí vị giám thị
dạy thế và sĩ số mỗi lớp, trước
đây là 45-50, giờ chưa đến 40.
2. Đây cũng là giai
đoạn nhiễu nhương nhất trong đời
tôi. Có chính quyền quốc gia, nhưng người Pháp c̣n
đó. Quân đội trong tay người Pháp hoặc
người Nhật. Bên cạnh công an quốc gia có công an
liên bang[iii]
mà người Pháp nắm giữ. Ḷng người dao
động: kháng chiến, Hội Nghị Fontainebleau, Đà
Lạt, Nam Kỳ Tự Trị, Quốc Trưởng
Bảo Đại, các giáo phái và quân đội bán chính qui
của họ cùng tạo một bối cảnh rối ren,
bất ổn, lo âu, sợ hăi, và hi vọng; thôn quê phải
tản cư về các đô thị, nghĩ rằng
tạm, nhưng, kể theo người xưa, th́ cũng
tṛn hết một đời người[iv].
Từ những năm
đầu của thập niên 40, trước tất
cả mọi người, tôi buộc phải di cư,
tạm trú ở trường Nam Tiểu Học Pháp, phía sau
hè. Cơ ngơi chánh của tôi phải nhường cho quân
đội Pháp (RTA[v])
Chiến tranh kéo dài. Nhân lực và bao nhiêu tài
nguyên quốc gia khác phải dành ưu tiên cho các nhu cầu
quân lực. Tôi trở thành ḷ cung ứng cho các trường
sĩ quan Thủ Đức và Đà Lạt. Kháng chiến chống
Pháp từ từ chuyển thành cuộc chiến sống mái
giữa hai anh em.
3. Đây cũng là giai
đoạn bùng nổ giáo dục.
Chiến tranh du kích buộc dân
quê phải tản cư về thành thị. Theo đó,
số dân cư tiếp cận với các trường
học nhanh chóng gia tăng, nhu cầu giáo dục cũng gia
tăng. Các phong trào truyền bá quốc ngữ, chống
nạn mù chữ có góp một phần quan trọng trong
việc nâng cao ư thức quần chúng về sự lợi
ích của giáo dục. Sau cùng là thực tiễn của
cuộc sống thị thành cho thấy sức học càng
cao, con người càng dễ sống.
Hơn một thập niên
sống trong khuôn viên nhỏ hẹp của Trường Nam
Tiểu Học Pháp là thời gian phát triển mạnh và
nhanh nhất của tôi.
1949-1950: mở các lớp
Seconde[vi],
rồi Première Moderne[vii],
chương tŕnh Pháp. Môn sinh tôi cũng như trường
Nguyễn Đ́nh Chiểu Mỹ Tho, phải thi Tú Tài I
ở Sài G̣n, và sau đó, phải học thi Tú Tài II ở
nơi khác[viii].
Sĩ số mỗi năm mỗi gia tăng.
Hè 1951, tuyển 4 lớp
Đệ Thất cho chương tŕnh Việt Nam thuần
túy. Chấm dứt việc tuyển vào chương tŕnh
Cours Complémentaires, và lớp Secondaire. Mỗi năm, các
lớp chương tŕnh Việt lần lượt thay
thế các lớp chương tŕnh Pháp. Tuy nhiên học sinh
tôi vẫn phải lên Sài G̣n thi Tú Tài I và tiếp tục
học nơi khác để thi Tú Tài II. Phải măi đến niên học
1960-1961, tôi mới được phép mở các lớp
Đệ Nhất đầu tiên. Sở dĩ có sự
chậm trễ đó là v́ thiếu giáo sư Trung Học
Đệ Nhị Cấp, gần như ở mọi
bộ môn.
Trong chương tŕnh, langue
annamite đổi thành langue locale, rồi thành langue
viêtnamienne. Dần dần, tiếng Việt Nam từ vị
trí phụ trở thành chuyển
ngữ; học mọi thứ bằng tiếng
Việt, tiếng Pháp trở thành một sinh ngữ như
các sinh ngữ khác. Đó là bước đầu,
nhưng là một bước lớn trong việc khởi
dựng một nền giáo dục quốc gia nhằm cho
đại chúng.
Đổi thay như thế
đ̣i hỏi thời gian. Đổi tên th́ dễ, nhưng
đổi thay nội dung, tư tưởng, t́nh cảm,
thái độ, hành vi không phải là việc một sớm
một chiều.
Thật sự, chương
tŕnh Việt là chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn với một
ít đổi thay. Ngoại trừ các môn Văn, Sử,
Địa, nội dung là bổn sao chương tŕnh trung
học Pháp. Chúng ta thiếu người, cũng chẳng
có thời gian; nhu cầu học của quần chúng
mỗi lúc mỗi bức thiết, vay mượn của
người là việc thường t́nh. Vả lại, khoa
học tự nhiên, hay triết học không là của riêng
của bất cứ một quốc gia nào.
Về môn Quốc Văn, tôi
c̣n nhớ năm 1945, giờ langue locale, trong bài Đĩ
Đi Tu, có chữ “thanh lâu”; một học sinh năm
Thứ Hai, tương đương với Đệ
Lục hay Lớp 7 ngày nay, nhanh nhẩu giải thích
trước lớp học rằng “đó là nơi thầy
chùa tu”. Anh đă ngây thơ suy luận: “đi tu tất
phải vô chùa”. Tŕnh độ học sinh là như thế.
C̣n đây là tŕnh độ của quí thầy cô. Kỳ thi
Thành Chung[ix]
năm 1947(?), câu “hữu xạ tự nhiên hương”,
được một thầy giám thị chép lại trên
bảng là “hữu xa tự nhiên hương” (thiếu
dấu nặng ở chữ xạ), cho nên cả một
pḥng thi đều b́nh luận trong nghĩa “có xe th́
đương nhiên về được quê nhà”.
Đến thời kỳ vàng son của Đệ Nhất
Cộng Ḥa, câu “học như chèo nước ngược,
không tiến th́ lùi”, vẫn có nhiều pḥng thi ghi là “không
tiền th́ lui”. Cái lỗi là v́ không phải tất cả
quí thầy cô đều dạy quốc văn, và
được đào luyện trong chương tŕnh
Việt. Thời bấy giờ bàn đánh máy chưa có
dấu Việt Nam, c̣n bỏ dấu tay.
Ghi lại chi tiết này, tôi
muốn nhấn mạnh ở điểm: i/ vốn
liếng quốc ngữ của con em và thầy cô giáo
của ta quá khiêm nhường; ii/ khi đuổi chính quyền
thuộc địa, th́ có thiếu trước, hụt sau,
thiếu từ những trang bị đơn sơ
đến nhân lực chuyên môn, quan trọng hơn.
Cho nên, khó khăn tưởng chừng
như không vượt nổi. Vấn đề không
chỉ là thay tiếng Pháp bằng tiếng Việt,
để rồi không biết ǵ ngoài cái Việt Nam chúng ta,
gọi như thế là về với nguồn gốc,
tổ tiên, gọi như thế là biết tự hào dân
tộc. Vấn đề vẫn là xây dựng một
nền giáo dục Việt Nam, đào tạo
được những thế hệ giàu mạnh, biết
làm phong phú nền văn hóa cha ông, biết tiếp thu
những tinh hoa của loài người.
Một mặt, chúng ta bị
thúc hối bởi nhu cầu của từng lớp dân
chúng, mặt khác, các lực lượng thù địch (Việt
Cộng) không ngừng chỉ trích, phá hoại, gieo rắc
bất an. Cho nên lúc nào cũng phải cân nhắc thiệt
hơn, lúc nào cũng tưởng như đang chèo
nước ngược.
Hơn một thập niên
ở nhờ, ở đậu, phải ngược xuôi vá
víu, bằng ḷng với những vay mượn để
đáp ứng các nhu cầu giáo dục của con em, tôi
được cái vui thấy ḿnh không c̣n là người
đẹp duy nhất của vùng. Tôi mạnh hơn,
rắn chắc hơn và một lứa đàn em đă
sớm có mặt ở Long Xuyên, Sóc Trăng, Rạch Giá,
Vĩnh Long, Sa Đéc, Vĩnh B́nh,... chí đến các
thị trấn, quận lÿ, đă một ḷng một dạ
cùng tôi chia xớt những vui buồn của cuộc
sống học đường.
Tuổi vị thành niên, tuy khó
khăn, quấy quắc, hiểm nguy, nhưng rồi
cũng qua. Tôi vui bước vào một giai đoạn
mới.
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa
Nhân Bản - Dân Tộc - Khai Phóng
Đệ Nhất Cộng Ḥa
đánh dấu giai đoạn thành niên của tôi:
Có lắm điều đáng
ghi:
1. Đệ Nhất Cộng
Ḥa là một bước tiến vượt bực quan
trọng cho miền Nam Việt Nam. Thế giới bị
phân thành hai cực, tư bản, cộng sản: Miền
Nam trong ảnh hưởng Âu Mỹ, Miền Bắc
dưới sự đỡ đầu của Nga-Tàu. Hai
Miền, hai thể chế. Miền Nam: Cộng Ḥa, dân
chủ, tự do, theo Âu Mỹ, đa đảng, chính
quyền của đa số, nhưng tôn trọng tiếng
nói của thiểu số, thượng tôn pháp luật.
Miền Bắc: Cộng Ḥa Nhân Dân, cộng sản,
độc đảng, chuyên chế, không tư hữu, dân
chủ tập trung (thường hiểu là thiểu số
phải phục tùng đa số), sùng bái lănh tụ, không có
luật, cai trị bằng nghị quyết.
Miền Nam, quân đội
viễn chinh Pháp phải rút về nước. Các lực
lượng vũ trang chống đối chính phủ
bị dẹp tan, kết thúc cái loạn sứ quân -- quân
đội B́nh Xuyên, Le Roy, Hoà Hảo, Cao Đài. Đồng
thời h́nh thành một chính quyền cộng ḥa, một
quân đội có kỷ cương, cả hai không ngừng
lớn mạnh. Các
vùng b́nh định được nới rộng, và
đến cuối thập niên 50, các cơ quan công quyền
có mặt ở hầu hết tận các xă ấp. Một
trật tự xă hội, một nề nếp mới h́nh
thành. Nhà cửa tươm tất, ghe xuồng tấp
nập. Máy đuôi tôm đa dụng đă trở thành
phổ biến ở nông thôn. Dọc theo sông Hậu và trên
những nơi giao lưu sông ng̣i, có những trạm
xăng nổi, những xưởng nổi sửa máy
đuôi tôm, sạt điện để đáp ứng
những nhu cầu mới do ḥa b́nh văn hồi. Những
radio nhỏ chạy pin thông dụng ở mọi nơi, cho
mọi lứa tuổi. Nói chung, ḷng người ổn
định. Miền Nam dần dần bắt lại
nhịp sống và trở nên trù phú hơn xưa. Một
nền dân chủ pháp trị đang h́nh thành và không
ngừng ăn sâu vào quần chúng.
Tuy nhiên, c̣n vay mượn
của Tây Phương lắm điều, nói riêng, luật
pháp, chương tŕnh dạy ở các trường. C̣n
nhiều điều chưa hoàn bị. Người ta có
trách nhà Ngô độc tài, gia đ́nh trị. Có tiếng th́
thầm rằng phải là công giáo, người Trung và trong
đảng phái của nhà nước mới
được trọng dụng,... Tôi có khó chịu khi
phải buộc học sinh tôi ca: “Ngô Tổng Thống! Người
Về Đây!”. Tôi có khó chịu khi cảm thấy có
sức ép để các thầy cô giáo vào đảng chính
quyền. Sự chọn lựa một đảng phái chính
trị để thể hiện những hoài băo chính
trị của ḿnh là một điều hay, nhưng vào
một đảng v́ miếng đỉnh chung, hay e
ngại quyền lực, th́ thật không tốt, nhất là
ở môi trường giáo dục.
Trong những mâu thuẫn,
bất toàn, phức tạp ấy, Miền Nam vẫn xây
dựng được ư thức quốc gia, tôi có cơ
sở để dấn thân, tham gia, đóng góp. Có dị
đồng, có chống đối, có căi vả, có va
chạm, đôi khi cũng có xáo trộn nhỏ. Nhưng
người dân có tham gia, có sống được, và
thấy được cuộc sống mỗi lúc mỗi
cải thiện. Riêng tôi, sự vắng bóng của quân
đội viễn chinh và chính quyền ngoại quốc
cùng những hoạt động chính trị, văn hóa, xă
hội đă lôi tôi trọn vẹn vào guồng máy quốc
gia và đă thực sự giúp cho tôi trút bỏ mặc
cảm có một thời thân Pháp. Ư thức xây dựng
một thể chế cộng ḥa cho miền Nam -- mà có
khả năng đem lại cho đồng bào một
cuộc sống phong phú -- được h́nh thành và lớn
mạnh trong tôi.
Tôi dấn thân vào một
chế độ cộng ḥa, tin ở sự không ngừng
cải thiện, tin rằng đội ngũ quân, dân, chính
của ta có khả năng cùng đồng bào xây dựng
một cuộc
sống an lạc.
2. 1955-1966 tôi trở về
cơ ngơi cũ, tương đối có sớm hơn
đồng bào trong vùng trở lại thôn quê. Sự phát
triển của tôi cũng rất từ từ, do sự
quá nghiêm túc của chính quyền. Nếu các tư thục có
tự do tuyển thầy cô, đại để trên
cơ sở học sinh bằng ḷng đóng học phí, th́
các giáo sư của tôi, nhất là ở Đệ Nhất
Cấp, phải có ít nhất các chứng chỉ chính
của bằng Cử Nhân Giáo Khoa. Thế nên tôi đói giáo
sư dài dài, và măi đến niên khóa 1960-1961, tôi mới khai
trương được ba lớp Đệ Nhất
đầu tiên cho ba ban A, B, và C. Đến năm 1963-1964,
năm sung măn nhất, tôi có được khoảng 80
lớp, hơn 3.500 học sinh.
1964 phải thành lập
Trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm,
đưa toàn thẻ nữ sinh về nơi tôi tạm
cư trước đây.
3. Tôi trẻ, có sức, có
khả năng, và trên đà phát triển. Tôi sớm
khẳng định ḿnh là Trung Tâm Văn Hóa chính yếu
của vùng. Trong các đại hội văn hóa thể
dục thể thao, các cuộc thi đua, học sinh nam
nữ Phan Thanh Giản lúc nào cũng giữ một vai tṛ
chính yếu, nhất là trong sinh hoạt thành phố Cần Thơ.
Hội Phụ Huynh Học Sinh, Hội Cựu Học Sinh
cho tôi cảm giác có một tiềm năng vô tận. Giáo
sư các cấp, chuyên viên, học giả, kỹ thuật
gia lần lượt đến trong khuôn viên tôi với
những đề tài khác biệt: kinh tế, xă hội,
văn chương, nghệ thuật, nông nghiệp, kỹ
thuật,... để quảng bá kiến thức cho
quần chúng hiếu học. Tôi cũng là nơi gặp
gỡ, hội họp, liên lạc, kiến nghị, lập
phái đoàn đại diện nhằm yểm trợ, thôi
thúc thành lập Viện Đại Học Cần Thơ.
Báo Tiếng Gọi Miền Tây, mà trọng tâm lúc bấy
giờ là xây dựng Viện Đại Học Cần
Thơ, trong nhất thời đă dùng tôi làm ṭa soạn;
hiệu trưởng, giám học, giáo sư và nhân viên
trường Phan Thanh Giản bỗng trở thành những
cây bút sắc bén đối thoại phong phú với chính
quyền. Đó là mặt mạnh của tôi. Tôi cũng
muốn giải quyết mọi vấn đề một
cách rốt ráo và ngay cùng một lúc. Đây lại là một
điều không may cho tôi. Ngoại cảnh lại
đặt tôi trong giới hạn khá khắt khe; sự
hiểu biết của tôi cũng giới hạn,
điều mà tôi chỉ thấy được sau này.
4. 1958: Đại Hội Giáo
Dục Lần I tại Sài G̣n gồm phụ huynh, thân hào,
nhân sĩ, học giả, quân dân chính, các ngành văn hóa giáo
dục các cấp (Tiểu Học, Trung Học, Đại
Học, Kỹ Thuật, Ty, Sở văn hóa giáo dục,...).
Hội Nghị Giáo Dục này chính thức hoá phương
châm: Nhân Bản - Dân Tộc -Khai Phóng cho mọi ngành giáo
dục quốc gia kỹ thuật, mỹ thuật, phổ
thông, b́nh dân, đại học, v.v...
Vẫn biết, không có cái
dạy của học đường, đứa nhỏ
vẫn thành người, v́ sống với đồng
loại; và lớn lên trong miền châu thổ này chúng
vẫn tiếp thu được những phong tục
tập quán của nơi đây. Như vậy, không có chúng
tôi, cái tính ngưới, tính dân tộc đương nhiên
hiện hữu trong mọi đứa bé sinh và
trưởng thành ở nơi đây.
Nhưng nghĩ cho cùng, bất
luận thời nào đều có những con người
vong thân, đánh mất chính ḿnh mà không hay biết. Xưa
đă có những con người, “không biết thương
thân, mà chỉ biết khóc và chết cho một tên hôn quân vô
đạo”[x]. Nay,
cũng đă có người vong thân trong một chủ
nghĩa, trong một tổ chức, hay v́ một
đức tin mù quáng. Ở thời đại khoa học
quản lư, con người càng dễ trở thành rô bô hay
bộ phận của một guồng máy cung cấp
dịch vụ hay sản xuất của cải, dễ
bị mất ḿnh trong định chế chính trị, kinh
tế, tài chánh, thương măi, xă hội do chính con
người tạo ra.
Nhân bản là khẳng
định khả năng mà cá nhân thức ngộ
được những qui định của môi
trường, theo đó, điều ḥa được các
quan hệ, tự xây dựng được cho ḿnh một
cuộc sống phong phú. Nhân bản cũng nhắc nhở
người làm giáo dục phải biết trân trọng nhân
cách đang h́nh thành trong đứa trẻ; phải tránh
những bạo hành tâm lư, như chế giễu, lăng
mạ, sỉ nhục, tránh làm bất cứ cái chi có
khả năng để lại thương tích trong ḷng
người học.
Có người nước
Tống, sau khi cấy thửa ruộng, mỗi ngày thăm
đồng, kéo cây mạ lên một tí; sau ba ngày th́ đám
ruộng chết toi. Người làm giáo dục, v́ nóng
vội, v́ thiện chí, vẫn có thể như người
nước Tống bạo hành trên lúa mạ, làm chết cái
nhân cách chớm nở của trẻ thơ.
Lycurgue nói: “Giáo dục là
đào tạo công dân. Chế độ nào công dân đó: giáo
dục quân chủ cho chế độ quân chủ, dân
chủ cho chế độ dân chủ”. Về sau các nhà cầm
quyền, nhất là trong các thể chế độc tài,
lấy đó làm cơ sở xây dựng các chính sách giáo
dục. Cho nên, có lạm dụng trẻ thơ, có dạy
trung thành với mẫu quốc, có Maréchal! Nous Voilà!, trăm
ngàn bài thơ nhạc suy tôn Staline, Mao, và Hồ. Nhấn
mạnh yếu tố nhân bản cũng là nhằm tránh cho
con em một sự tẩy năo có hệ thống của
giới cầm quyền.
Nói chung, của cải vật
chất, lư tưởng, định chế là cần
thiết cho cuộc sống con người, nhưng không là
nhu cầu duy nhất. Phải làm sao cho con em ta thấy
hiểu được cái đa dạng, sức hấp
dẫn và cuốn lôi của các cám dỗ, để vui
sống với người, với thế giới chung
quanh mà không bị tha hóa, không bị nô lệ ở cái
ăn, cái mặc, ở một hoài băo không tưởng,
ở một chủ nghĩa, một tổ chức, không
bị qui định tận cùng trong xương tủy,
để không đánh mất cái bản sắc đặc
thù của tự thân. Cho nên, phải khẳng định
tính người trong mỗi môn học, trong mọi quan
hệ ở học đường, nói riêng quan hệ
thầy tṛ.
Nhà trường không lúc nào có
thể là cái khuôn sản xuất hàng loạt những con
người quên mất bản thân cho một thể
chế, một xí nghiệp. Nhà trường đào tạo
những con người có tính người, t́nh
người, ư người, thông hiểu được
những cảm xúc, ư, t́nh của con người nói chung.
Con người ấy
đương nhiên phải là những con người
cụ thể của vùng này, đất nước này trong
khoảng thời gian lịch sử này.
Thiết tưởng, vừa
giành lại được độc lập, hướng
về dân tộc đương nhiên phải là chính
yếu.
Nếu có những con
người tha hóa, vong thân, th́ cũng có những con
người mất gốc, không biết ḿnh là ǵ, là ai,
từ đâu, của cộng đồng nào, bơ vơ,
lạc loài, không một trách nhiệm nào, không một
gắn bó nào với gia đ́nh, làng nước.
Mất gốc cũng là
một hiện tượng vong thân.
Trong giới có học lúc
bấy giờ, có không ít những gia đ́nh loại
sống theo Tây, nghĩ rằng “cả con mèo Tây cũng thông
minh hơn con mèo ta”. Họ sống trong ḷng đất mẹ,
nhưng tâm và trí của họ mộng du ở Pháp.
Điều đáng mừng là một số đông đă
t́m về với đất nước.
Cũng nên ghi là trong một
thời lúc mà ta c̣n vay mượn rất nhiều của
ngoại quốc, khẳng định yếu tính dân
tộc là cảnh giác về sự nông nổi chạy theo
những giá trị ngoại lai.
Nói chung, với tính dân tộc,
nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là cột các
môn sinh vào một mảnh đất, Miền Nam Sông
Tiền, Sông Hậu, và rộng hơn là đất
nước Việt Nam, trong một khoảng thời gian
nhất định.
Thế nên, phải có nhu
cầu cởi trói.
Vấn đề không là gói
trẻ thơ trong một thang giá trị, một số
nguyên tắc luân lư, một số kiến thức từ
chương. Cuộc sống vốn là phát triển. Con
người phải phát triển. Gói nhốt con
người vào bất cứ cái ǵ, dầu đó là lâu
đài chân thiện mỹ, vẫn là ngăn trở sự
phát triển. Cho nên phải khai mở, sao cho trẻ ư
thức được những lợi ích, và tính áp
đặt của giáo dục, phải tạo cho chúng cơ
may tự giải phóng ra những buộc ràng, ra khỏi
tháp ngà của những kiến thức vô hồn của
sách vở, hay rộng hơn là của những sở
đắc của tự thân. Phải tập cho trẻ
thấm nhuần tinh thần khoa học, đem sở
học tiếp cận với thực tiễn cuộc
đời, để thấy được những
ưu khuyết điểm mà không ngừng tự cải
thiện. Phải làm sao cho con em ta biết không khép kín trong
tự kiêu, tự măn, để thấy, nghe, hiểu
được xa hơn hàng dậu quanh nhà hay lũy tre làng
của chúng, làm sao cho chúng mở rộng được tâm
trí đón gió bốn phương, mà không trúng độc.
Gọi như thế là khai phóng. Đă có lần cha ông ta
bị Thầy Mạnh giam hăm mà mất nước. Cũng
có thể giờ đây một số người đă
bị chủ nghĩa Mác-Xít Lê-Nin-Nít cầm tù mà làm nhân dân
đồ thán.
Tóm lại, lúc bấy giờ,
Nhân Bản - Dân Tộc - Khai Phóng là phương châm cho
một đạo mới: Đạo của những
người làm giáo dục. Suy rộng ra đó là Đạo
Làm Người, trọn vẹn tin ở khả năng
cải thiện của con người, trân trọng nhân
cách của cá thể; có nói văn chương, có dạy
thánh hiền, có nêu những nền tảng luân
thường đạo lư, nhưng tất cả trong
một tiến tŕnh h́nh thành, trong những cấu trúc không
ngừng biến dịch; cho nên, gọi đó là Đạo
mà không là đạo.
Khoảng 1964, một Hội
Đồng Quốc Gia Giáo Dục được triệu
tập và “Khai Phóng” được thay bằng “Khoa
Học”. Những Hội Đồng Quốc Gia Giáo Dục
kế tiếp xác nhận lại phương châm là: Nhân
Bản - Dân Tộc - Khai Phóng.
Các phương châm nầy là
một hiến chương giáo dục rút gọn. Chúng nói
lên sự quan tâm giáo dục của tầng lớp dân chúng.
Chúng nói lên tính dân chủ của nền giáo dục. Chúng
gọn nhẹ, và theo đó dành cho chúng tôi nhiều tự do
để bàn thảo nội dung đường
hướng, chiến thuật, kế hoạch,
phương sách khai triển và thi hành thực tế.
Nói riêng, chúng giúp tôi củng
cố tham vọng tạo một môi trường trong sáng
cho các thầy cô và con em tôi học hỏi. Tôi dấn thân vào
chiều hướng ấy, mượn chính quyền làm
công cụ. Nghĩ cho cùng, chính quyền nào cũng phải
là một công cụ cho sự phát triển tốt của
người dân. Nhưng làm thế nào được
trước ḷng tham muốn quyền lực của con
người, nhất là ở một thời buổi mà ai
có chút khả năng cũng cảm thấy ḿnh có tài lănh
đạo.
Ḷng tham quyền lực này rơ
nét trong tập đoàn cộng sản thống trị.
Thời Chủ Nghĩa “Anh Hùng Cách Mạng”
Người cộng sản lư
luận rằng phải có quyền lực mới đem
lại được kỷ cương, phải có chính
quyền mới cải tạo được xă hội
như ư họ hằng mong: họ có lư, và cũng có lư khi bám
lấy quyền bính.
Cái vô lư là họ chẳng đo
lường được cái giá phải trả. Họ
chẳng nghĩ được rằng quyền lực
trong tay một tập đoàn dốt nát và tham lam quỷ
quyệt sẽ tạo nên bạo quyền và tội ác.
Bạo quyền càng xảo quyệt, tội ác càng vi
tế. Họ quên rằng gươm báu trao vào tay thất
phu thường biến thành dao đồ tể. Họ
cũng quên mất rằng từ quyền lực
đến bạo quyền, khoảng cách rất nhỏ,
nhất là khi chưa có luật pháp nghiêm minh, và khi cả ba
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều trong tay
của tập đoàn thống trị.
Quyền lực, nói riêng chính
quyền, khi chưa có trong tay, đương nhiên là
mục tiêu chính trị. Nhưng có được trong tay
rồi, nó chỉ có thể là một công cụ. Họ
đă quên hẳn điều này, v́ trên suốt ba
mươi năm ở tột đỉnh quyền
lực, họ đă dùng hết thế hệ này
đến thế hệ khác làm con thiêu thân cho một
cuộc chiến dai dẳng.
Khi đă chiếm
được Miền Nam, họ xem Miền Nam là lănh
thổ chiếm đóng. Họ đưa nhiều tầng
lớp nhân dân Miền Nam đi cải tạo, gây cảnh tù
đày không bản án, không hạn định thời gian.
Trong nhiều năm liền, con em người tù cải
tạo không được học quá lớp 8, có nơi
chỉ đến lớp 5. Họ tổ chức
vượt biên, rồi vượt biên bán chánh thức,
tạo cơ hội để tiêu diệt các lực
lượng chống đối, đưa đối
lập làm mồi cho biển cả, cho giặc
cướp, hoặc buộc họ phải an phận
với cuộc sống tha hương. Đảng Cộng
Sản đă thực hiện một kế hoạch
hủy diệt toàn bộ những sinh lực năng
động nhất của Miền Nam, nhằm vô hiệu
hóa và triệt tiêu các lực lượng đối nghịch.
Họ không h́nh dung được rằng chưa kể
công và của đầu tư, muốn đào tạo
một kỷ sư hay “giáo viên cấp 3”[xi]
phải ít nhất 16 niên học, và sau đó vài năm
vọc phá trong nghề mới gọi là hiểu biết
chút ít về nghề. Nói về cán sự và thợ lành
nghề th́ việc đào tạo càng khó hơn nữa.
Chỉ có một học
thuyết: Mác-Xít Lê-Nin-Nít. Chỉ có một đảng:
Đảng Cộng Sản. Đảng và luật pháp là
một. Đảng và đảng viên đứng trên pháp
luật, đảng chẳng bao giờ sai, lúc nào cũng
“bách chiến bách thắng”. Không có tiếng nói nào khác hơn
tiếng nói của đảng.
Trong bối cảnh đó,
người cộng sản thẳng thừng khẳng
định học đường và giáo chức là công
cụ tuyên huấn của Đảng và Nhà Nước.
Một số đông giáo chức bị đi tù, một
số bị sa thải, một số cải tạo
tại chỗ. Đảng đi vào học
đường khắp đất nước, và tận
gốc rễ. Lao công, tùy phái, thơ kư, hội kế viên,
giáo chức, giám học, hiệu trưởng, thanh tra,...
đa số được thay bởi đảng viên mà
“hồng” th́ đậm đặc, và “chuyên” th́... có khi
chẳng có chi đáng kể. Sách là pháp lệnh, cả
những điều sai của sách cũng là pháp lệnh.
Người ta dạy những khái niệm như là
“bắn xuyên táo”[xii].
Khẩu hiệu là: “Dám nghĩ, dám làm”, và v́ không có tiếng
nói khác, nên làm bậy trở nên phổ biến. Học tṛ
được đoàn ngũ hóa thành đội, thành
đoàn, in hệt như ở các chế độ
độc tài phát xít, mà đặc thù là độc
đảng, nhà nước chuyên chế, đoàn ngũ hóa
mọi giai tầng nhân dân.
Tôi bị thay tên đổi
họ: Châu Văn Liêm, có lẽ là tên của một
người tử v́ Đảng.
Với tên mới, tôi không c̣n
là một thầy cô giáo theo cái nghĩa thông thường
của người Miền Nam Việt Nam. Tôi trở thành
ông cố đạo của đạo Mác-Xít Lê-Nin-Nít. Cái
không may của tôi là các sư, các cha, khi giảng đạo
hẹn ước được với việc trên
Trời; c̣n tôi; v́ là xă hội chủ nghĩa khoa học,
nên phải hứa hẹn một tương lai “xán
lạn” nơi trần thế. Hứa hẹn trên Trời
th́ nào ai kiểm soát được, nhưng hứa hẹn
dưới thế, người ta kiểm soát
được. Cho nên, bọn trẻ sớm nhận
thấy chúng tôi là một loại quán ăn “ngày mai không
phải trả tiền” nhưng hôm nay th́ một xu không
được thiếu, và có khi c̣n phải trả bằng
xương, máu và nước mắt. May mà tên tôi là Châu
Văn Liêm, bằng không, tôi sẽ bị gán là treo
đầu heo bán thịt chó.
Giáo chức các cấp
được phong cho tước vị mới “kỹ
sư tâm hồn”. Trường Sư Phạm là cái “máy
chánh”... Được phong kỹ sư là một vinh
dự lớn cho người giáo viên cộng sản.
Nhớ lại thời Đệ Nhất Cộng Ḥa
Miền Nam Việt Nam, vừa tốt nghiệp,
lương hàng tháng của một giáo sư Trung Học
Đệ Nhị Cấp ở chỉ số 470, trong khi
đó lương của một kỹ sư tốt
nghiệp Phú Thọ ở chỉ số 430, thấp hơn.
Thật ra, chúng tôi chẳng bao
giờ có mặc cảm hơn thiệt, thấp cao.
Mỗi ngành nghề đều có những mặt thuận
nghịch của nó. Để cho cái dạy của chúng tôi
thích hợp, chúng tôi có lắng nghe, t́m hiểu môn sinh, trong
sự mến thương và nễ trọng. Cho nên,
chẳng bao giờ dám tự ví ḿnh là một kỹ sư,
chẳng bao giờ dám xem môn sinh là một sản phẩm,
có thể tùy tiện đổi thay, và sản xuất hàng
loạt.
Người cộng sản
xem con người là một cái đinh, con vít, mắc xích
trong guồng máy xă hội chủ nghĩa. Nhân cách
thường trực được gói trong hai tiêu
chuẩn: “Trung với Đảng” và là “đơn vị
sản xuất xă hội chủ nghĩa”.
Biến những tâm hồn
trong sáng, ngây thơ, thành những thứ radio-cassette, y chang
như nhau, để tŕ tụng những lời
đảng dạy là một việc làm đáng tội.
Hiện nay tôi đang đi trên con đường tội
lỗi ấy: cái tội đồng lơa, tội lạm
dụng ḷng tin trẻ thơ, tội can phá gia phong giáo
chức.
Đó là cái giá phải trả
cho cái “áo thanh cao”[xiii]
của “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.
Trong những năm gần
đây, có những đổi thay lớn trong lănh vực
kinh tế nông nghiệp. Tổng sản lượng
quốc gia trên đầu người có gia tăng đáng
kể. Có một sự ổn định tương
đối về giá đồng bạc, vật giá có gia
tăng, nhưng trong mức kiểm soát được.
Cuộc sống vật chất có tốt hơn, rơ nét là
ở các đô thị lớn. Điều này là một
bước tiến đáng kể và có những tác
động cụ thể trên các lănh vực khác. Đă có
những trường dân lập. Dầu rằng hầu
hết các trường dân lập đều do đảng
viên điều hành và dành riêng cho những con em có khả
năng tài chánh, sự tham gia của phụ huynh có tích
cực và thực tiễn hơn, v́ thiếu sự đóng
góp của họ, trường không có phương tiện
hoạt động. Hơn nữa, trên lư thuyết, có
thể hiểu rằng chính quyền đă bắt
đầu chịu lui vào vị thế kiểm soát và
thấy được rằng một tổ chức
học đường có tính ban bố không thể thích
hợp trong một thời gian dài. Cũng có thể hy
vọng nhà cầm quyền “ngộ” được
rằng: i/ dân Việt Nam vốn đa nguyên: ngoài
người Kinh, c̣n có người Mường, Mán, Lô Lô, Ra
Đê, Thái, Tày,... ii/ bản chất của văn hóa
vốn đa dạng v́ tính thẩm thấu cố hữu
của những môi trường văn hóa. Và theo đó, có
thể hi vọng những thay đổi căn để.
Tuy nhiên, cũng có thể nghĩ rằng thói quen rất khó
đổi. Nhà cầm quyền đă quá lâu đời có
thói quen chuyên chế, đàn áp, bạo lực. Dân chúng
Miền Bắc th́ quá quen với thụ động, và
đă có một thời gian dài giao gởi thân phận ḿnh
cho Đảng in như các tín đồ mà mọi việc
đều tin ở các cha, các chức sắc. Miền Nam
th́ c̣n trong ác mộng của tù đày và cải tạo.
Cho nên, phải chừng nào
nhân dân ư thức và có tự tin rằng ḿnh phải quyết
định thân phận của ḿnh, không chờ bất
cứ một tổ chức tôn giáo, chính quyền,
đảng phái nào ban bố cho sự sống, chừng
ấy, bất cứ nhà nước nào, cũng phải
chấp nhận những cuộc đối thoại trung
thực với người dân, cũng phải nghe
được tiếng nói khác, và chừng ấy, mới
hi vọng một cuộc sống an b́nh ổn định.
Tôi mới có cơ may trở lại với vai tṛ giáo
dục cố hữu của ḿnh.
Trang Nghiêm Cửa Khổng
Giáo dục nhằm chuẩn
bị cho con trẻ hay thanh thiếu niên thích ứng
được với môi trường sống. Ngựa
phải thuần rồi mới dùng được,
phải cắt lông đóng móng. Cây phải được
uốn nắn, cắt tỉa mới thành kiểng
đẹp. Rừng hoang vu phải được xẻ
đường, khai hoang, xây nhà, trồng cỏ, trồng
hoa quả mới có bóng người. Người xưa thường
ví công việc giáo dục với những việc làm này, và
cũng thường nhắc nhở: khai phá núi rừng
bừa băi, núi sẽ trọc; uốn nắn quá đà, cây
sẽ găy; cắt tỉa phạm, cây sẽ c̣i; và ngay
việc hớt lông ngựa, đóng móng ngựa cũng
đă làm mất hơn phân nửa cái chất tự nhiên
của ngựa rồi.
Thế nên, phải hết
sức cẩn trọng. Không khéo chúng tôi biến trẻ con
thành thánh hiền non, đánh mất cái hồn nhiên trong sáng
của chúng, để thay vào đó bằng những
kiến thức chết, chết v́ quá cổ xưa,
chết v́ lỗi thời, hoặc v́ đă biến thành tiên
kiến cứng ngắt không phát triển được.
Trong diễn tiến tốt đẹp
nhất, tôi vẫn mong là một ông thầy lỗi lạc,
một loại cố đạo xuất chúng, có cái máu
thầy giáo trong huyết quản để những giá
trị truyền đạt nhờ đó mà đến
tận trong sâu xa nhất ḷng người. Học sinh
sẽ trọn vẹn tin tôi, như tin các bậc cao
tăng, giáo chủ. Họ sẽ ôm những lời vàng
thước ngọc của tôi, trụ vào đó, cho đó
là “đỉnh cao của trí tuệ”, là “lương tri
của thời đại”. Và như vậy, họ có
thể chẳng bao giờ có ư rời cái lâu đài giá
trị “vĩ đại” mà tôi cùng họ xây dựng trong
người họ. Trong cái h́nh ảnh thành công “vô vàn”
tốt đẹp ấy, vô t́nh tôi đă làm cái việc
của một tên chủ ngục, áp đặt và giam
trẻ trong một hệ thống giá trị sẵn có.
Người tù trong khám c̣n nghĩ, mong đợi ngày ra.
Người tù trong đền vàng điện ngọc ít có
cơ may nghĩ ngày giải thoát. Càng hănh diện về
những sở đắc hay thành công của ḿnh, càng
bị giữ chặt trong ao tù sở đắc ấy.
Thế nên, trong viễn ảnh của sự thành công
tốt đẹp nhất, tôi có nhiều khả năng
đưa môn sinh tôi chung thân vào tù. Tây Thi có thẹo là như
vậy đó; vẫn man mán có điều chưa trọn.
Rất may tôi không là con
người hoàn bị, tuyệt hảo, tài ba. Nhữn
điều tôi cung ứng cũng bất toàn. Nhờ đó
tôi nghe được những tiếng nói khác để
không ngừng cải thiện. Nhờ đó, môn sinh tôi,
nếu có một thời lúc nào đó tin nơi lời “vàng
ngọc” của tôi, chúng có nghĩ suy tự vấn,
để tôi luyện suy tư, hành động độc
lập, xây dựng tự tin, xây dựng một bản
sắc riêng cho tự thân.
Nghĩ cho cùng, lẽ sống
và giá trị của tôi nằm ở các môn sinh. Môn sinh tôi là
những con người đang h́nh thành. Đổ thành
chung? tú tài? hay chi chi khác, chỉ là khởi đầu
một giai đoạn mới. Vậy, tôi cũng phải
là một học đường đang h́nh thành. Cuộc
sống tôi chỉ có thể là một chuỗi dài cải
thiện. Thế nên, tôi không gói ḿnh và nhất là không t́m gói
học tṛ ḿnh vào bất cứ một đạo giáo nào hay
lư tưởng nào.
Miền Sông Hậu có nhiều
đạo giáo: Ḥa Hảo, Cao Đài, Bửu Sơn Kỳ
Hương, Phật Giáo, Công Giáo... và cũng có lắm
đảng phái chính trị. Tôi phải trung lập
đối với các đạo. Nói rơ hơn, tôi nhận
mọi con em thuộc bất cứ đạo nào, tôi không
bài bác bất cứ đạo nào, cũng không thiên lệch
theo một đạo nào. Tôi cũng không là phương
tiện truyền giáo cho bất cứ đạo nào.
Cũng tương tự, tôi trung lập đối
với mọi đảng phái, chủ nghĩa, lập
trường chính trị. Và phải như thế tôi
mới có cơ may cung cấp một bầu không khí trong
lành thích hợp cho sự phát triển của mọi
học sinh. Học sinh của tôi thuộc nhiều nhóm
văn hóa nhỏ khác biệt nhau.
Trong thực tế, tôi
phải tạo một lănh địa thích hợp cho
đối thoại.
Đối thoại phải có
đôi bên, và các bên phải biết nghe, hiểu nhau.
Người có quyền
lực thường chỉ nghe tiếng nói của chính ḿnh
và khó hiểu được người khác. Tổng quát
hơn, người mà lúc nào cũng phải thành công,
phải đúng, thường thường là điếc và
mù đối với người nói khác, làm khác, v́ rằng
dầu có nghe âm thanh, có thấy cử chỉ, nhưng không
hiểu.
Trong thực tế, tôi gặp
lắm khó khăn với chính quyền, người có
quyền lực trên tôi. Tôi c̣n gặp khó khăn với các
chức sắc đạo giáo. Quí vị này thường
quen độc thoại trên bục giảng, quen được
“cung nghinh” mỗi khi “giá lâm” để “ban pháp”, và cơ
sở của quí vị là kinh kệ, và kinh th́ chỉ có
đúng mà thôi(!)
Nói riêng, không thể
đối thoại với chính quyền cộng sản, v́
dân chủ tập trung buộc thiểu số phải câm
mồm làm theo đa số, v́ chính quyền chỉ nghe
được lời dạy của Đảng mà thôi, v́
không thể đối thoại khi ḿnh bị gươm
kề bên cổ. Càng không thể đối thoại
được với các nhà truyền giáo Mác-Xít Lê-Nin-Nít, v́
những điều họ nói, nghĩ, đều ở
trên một căn bản tiên quyết Đảng là
“lương tri của nhân loại”, “hướng đi
tất yếu của lịch sử”.
Với phụ huynh, không
phải lúc nào tôi cũng dễ dàng nói chuyện. Trong
một chừng mực nào đó, tôi là kẻ sĩ trong
vùng. Dầu thứ bực -- sĩ, nông, công, thương --
đă đổi thay, nhưng ḷng người vẫn c̣n
mến trọng người có học. Hơn nữa, tôn
sư trọng đạo vẫn c̣n một giá trị hàng
đầu trong vùng này. Gởi con cho tôi, phụ huynh đă
sẵn một ḷng kính nể và tin cậy.
Ngỡ rằng như thế
là thuận lợi. Nhưng không, thông thường, trong
những buổi gặp gỡ chung, th́ lời nói xoay quanh
năm ba nhân vật chính mà có tài ăn nói của hội
phụ huynh. Khi được mời riêng, người
phụ huynh lại nghĩ có việc ǵ rắc rối, không
may đă xảy ra. Tiên kiến, h́nh ảnh đẹp
về tôi, bỡ ngỡ của người phụ huynh
trước người lạ... là những trở
ngại chính trong giao tiếp của chúng tôi.
Khó khăn cũng lắm
với một số giáo chức. Có người quen
độc thoại, nhất là các cụ dạy khoa học
tự nhiên, mà cái ǵ cũng có vẻ đâu ra đó rơ ràng,
súc tích, chính xác. Độc thoại th́ dễ cho thầy cô,
cũng dễ cho tṛ. Thầy cứ say sưa, thao thao
bất tuyệt; tṛ khoẻ ru, giả vờ chăm chú nghe
nhưng hồn vân du nơi khác cũng chả sao. Nhưng
hậu quả rất tai hại: tṛ không vấn hỏi,
không hành tŕ, trí năo quen nghỉ ngơi có thể thu hẹp
lại, thầy quen độc thoại cũng dễ lăng
tai hay ḷa mắt, không bắt gặp được
những thanh sắc khác lạ.
Trọng tâm vẫn là
đối thoại với môn sinh. Có nhiều lư do:
Không môn sinh, tôi phải đóng
cửa.
Đối thoại là một
phương tiện để các môn sinh tham gia và theo đó
cảm nhận ḿnh là một phần mật thiết
với trường. Phải có tham gia, có sống, cùng chia
xớt những thăng trầm, mới có gắn bó, có
để cho nhau những kư ức sâu đậm.
Mặt khác, dạy là cho
người học, v́ người học. Người
học là chính mà tôi là phụ. Cái học là chính, cái dạy
là phụ. Có áp đặt trên người học, v́
những điều dạy được người
lớn chọn trước, ghi trước trong
chương tŕnh, soạn trước trong “giáo án”. Nội
dung dạy, có xưa, có nay, nhưng phải cổ
điển, nghĩa là đă qua thử thách và
được công nhận là những giá trị vững
chắc và thích hợp. Cho nên, thường rất cổ,
có khi xa thực tế, nếu không nói là lỗi thời. Nói
cách khác, đó là kiến thức chết, v́ chúng đă
cũ mục, thuộc các thế hệ đi trước.
Mục tiêu của việc dạy là làm cho chúng sống
lại trong người học. Vấn
đề không là tŕnh bày cho con em một cái ǵ hoàn bị,
để chiêm ngưỡng, mà là một cái ǵ đang h́nh
thành trong tầm hiểu biết và thực hành của chúng.
Đối thoại có thể giúp chúng tôi thực hiện
điều này, để cái học lúc nào cũng sống
động.
Đối thoại cũng
nhằm giúp cho người học biểu lộ những
cảm nghĩ của ḿnh, khi tiếp thu lời dạy. V́ cái học thực sự
nằm trong người học, người dạy
phải cảm nhận được những diễn
biến bên trong ấy, không nhiều th́ ít.
Trong
cái thành tâm thiện ư nhất của thầy cô, cái dạy
tự thân đă mang tính áp đặt, giam người vào
những khuôn thước của xă hội. Cho nên,
người dạy không lúc nào quên rằng cái dạy
của ḿnh phải khai mở, phát triển, và giải phóng
con người. Giải phóng ra khỏi các tiên
kiến, các thủ đắc, ra khỏi cái tâm lư đă
đến mức, đă hoàn tất, đă thành tài.
Thế nên, cái học phải
gắn liền với hỏi, nghe, suy tư, biện
bạch và thực hành. Học là đối thoại.
Giữa tri và hành thường có khoảng cách khá xa. Tri mà
không hành là biết chưa tới.
Các thanh thiếu niên học
nghề trong vùng, học ngay ở xưởng. Như
họ, tôi học dạy ngay ở lớp học, học
với học tṛ tôi. Đương nhiên, tôi có đọc thêm
sách, học những kinh nghiệm, lư thuyết của
năm châu, của người xưa, của thời nay.
Học, vấn, tư, biện, hành vừa nêu trên, tôi vay
mượn của Khổng Mạnh; tri dị hành nan, tri
nan hành dị, hay tri hành hợp nhất cũng vay
mượn của người xưa. Nhưng không
phải đọc vài mươi quyển sách trước
trẻ con rồi gơ đầu trẻ được. Môn sinh ḿnh là người thầy
bậc nhất dạy cho ḿnh nghề dạy học. Vậy nếu họ biết tôn
sư trọng đạo, th́ tôi, học tṛ của họ
trong nghề dạy, cũng phải biết tôn sự
trọng đạo. Là thầy của nhau, thầy tṛ
b́nh đẳng, chẳng ai hơn ai. Cho nên trọng môn sinh
nhằm tạo những điều kiện thích hợp cho
đối thoại là lẽ thường.
Đối thoại không là
rập khuôn. Nó hàm chứa sự dị biệt. Đôi bên
thường khác nhau, có trao đổi qua lại, nên
gọi là đối thoại. Vậy muốn đối
thoại phải chấp nhận dị biệt, lắng
nghe được những lời nói khác lạ.
Làm người ắt bất
toàn. Vậy, phải tránh cho cả đôi bên mặc cảm
sợ sai quấy mà không dám nói, không dám làm. Mặc cảm
bất toàn, ngại bị chế giễu tạo một
tâm lư không thuận tiện cho đối thoại.
Chúng tôi thường đùa
nhau: Cái nghề của ḿnh không khác việc “nhuộm mây
nẩy trăng”[xiv]
của Kim Thánh Thán. Nghệ sĩ muốn vẽ trăng,
nhưng trăng khó vẽ quá. Phải vẽ mây. Nhưng
vẽ mây không v́ mây, mà v́ trăng. Khi xong bức tranh,
người xem khen rằng trăng đẹp quá, nghệ
sĩ thành công. Nếu trái lại được khen là mây
đẹp quá, th́ là một thất bại.
Chúng tôi muốn tôi luyện môn
sinh thành người. Con người mà chúng tôi muốn
đạt đến quả thật khó tả. Phải
chăng “nó phải có danh ǵ với núi sông?”. Hoặc “không
thành danh cũng thành nhân?” Con người ấy phải theo
Lăo? Nho? Phật? hay Ky Tô Giáo? hay chi chi khác nữa? Hội
Đồng Quốc Gia Giáo Dục vạch cho tôi tôn chỉ:
Nhân Bản, Dân Tộc, Khai Phóng. Vậy trăng của chúng
tôi phải là những con người phát triển trong ḷng
dân tộc, có t́nh, có lư; cái t́nh lư này là của con
người của vùng này, lúc này, hôm nay để gắn
liền với quê hương đất tổ (Dân
Tộc), đồng thời cũng là cái t́nh lư của
người đời của muôn nơi, muôn thuở (Nhân
Bản).
“Vi nhân nan, vi nhân nan”,
người xưa bảo thế. Con người mà chúng
tôi kiến tạo, đa dạng, muôn sắc muôn màu,
đổi thay từng vùng, từng thời điểm. Khó
lắm thay. Cho nên, phải nhuộm mây, dùng kiến thức
mà tôi luyện con người. Nếu sau cùng, người
đời bảo rằng chúng tôi chỉ đào tạo
những cấp bằng, học vị, những chức
tước, sống trên một mớ kiến thức
cũ, xưa như trái đất, hoặc đục khoét
dân chúng, ăn hại và làm nghèo đất nước th́
công tŕnh của chúng tôi phá sản, v́ đă vẽ mây cho mây.
Trái lại, nếu người đời nhận rằng
chúng tôi đào tạo những con người tốt, có
khả năng, có nhiều đức tính, có t́nh nghĩa,
biết sống một cuộc sống phong phú cho ḿnh và cho
tha nhân, chúng tôi gọi đó là thành công, đă vẽ mây v́
trăng.
Cho nên, chúng tôi dạy kiến
thức mà không v́ kiến thức. Kiến thức là
phương tiện để tôi luyện khả năng
và tính t́nh: can đảm, kiên nhẫn, tŕ chí, ḷng tự tin,
tinh thần trách nhiệm, óc sáng tạo... những
đức tính cần thiết cho một xă hội không
ngừng chuyển biến, và chuyển biến mỗi lúc
một nhanh.
Suy nghĩ về lễ nghi,
kỷ luật, nội dung cái dạy và cái học,
phương pháp, mục tiêu, về những quan hệ
với chính quyền, đoàn thể, tổ chức tôn
giáo,... trong chiều hướng cải thiện học
đường, chúng tôi gọi đó là TRANG NGHIÊM CỬA
KHỔNG, cái tu học của các sư, sư ở đây
không là ở chùa hay các thiền viện, mà là của làng
giáo.
Đục Trong
Khuất Nguyên đến
bờ sông Mịch La th́ than rằng: “Đời đục
ta trong, nên ta không chỗ dung thân.” Lăo thuyền chài nghe
được, ngâm vang một bài tứ tuyệt, ư
rằng: “Đời có đục, sao không quậy thêm lên,
uống cho đă, sống cho hả, sao lại chẳng có
nơi dung thân?”[xv]
Khuất Nguyên trầm ḿnh trong
sông Mịch La mà chết.
Tôi không là Khuất Nguyên. Không
làm được như Khuất Nguyên, và cũng không có
quyền làm như Khuất Nguyên. Đục hay trong tôi
vẫn phải sống.
Đục trong là tùy tiêu
chuẩn. Tiêu chuẩn tùy xă hội, thể chế, nền
văn hóa đương thời. Cho nên, trong một
thời gian nào đó, đức tin và dị đoan chỉ
khác nhau ở chỗ được người
đời chấp nhận hay phủ nhận. Bán bằng
xá tội (Indulgence trong Công Giáo thời xưa), cúng sao
hạn ở các chùa, ấn tống để
được công đức phước báo là tṛ phù
thủy hay việc tốt lành tùy các giá trị mà ta đang
sống. Cụ Phan Thanh Giản, Cụ Pétrus Kư, ta kính
trọng mến yêu, người cộng sản th́ cho là
bất xứng.
Như con người, tôi
học làm lành, lánh dữ. Tôi phải biết thế nào là
lành, là dữ, tôi phải phân biệt đục trong. Gieo
ánh sáng, đẩy lùi bóng tối của sự dốt nát,
tôi gạn đục lấy trong. Trong thực tế,
như nói trên, tôi là một nhà truyền giáo, giáo lư làm
người.
Dạy làm người, tôi
phải biết tiếng người, lư người, t́nh
người, môi trường sống của người.
Bên cái đục trong của
tôi, có cái đục trong của các môn sinh, của
người phụ huynh, của chánh quyền, của
quần chúng, của môi sinh. Tôi xây dựng cuộc sống
của tôi trên đó. Tôi cũng ư thức những giới
hạn của tôi về sự hiểu biết về tôi,
tha nhân và môi trường. Nhờ đó mà học hỏi,
mở rộng thêm cuộc đời.
Năm nay, niên kỷ đă 80,
thế thường người đời là xế bóng.
Như với một học đường như tôi,
thiết nghĩ chưa quá ngọ, nhưng cũng
đủ để tri thiên mạng. Nh́n lại những
thăng trầm, từ Collége de Cần Thơ, Trung Học
Phan Thanh Giản, đến Phổ Thông Châu Văn Liêm, bao
nhiêu giáo chức nhân viên khác biệt, bao nhiêu khoá môn sinh
đă cùng chia xớt ngọt bùi cay đắng với tôi,
bao nhiêu tư tưởng dị đồng. Có
người đă về Thiên Đàng hay Cực Lạc
Quốc, có người tha hương khắp năm châu,
có người c̣n ở đây cùng tôi gắn bó.
Nghĩ cho cùng chẳng ai
muốn về chốn vĩnh hằng, cũng chẳng ai
mong cuộc đời viễn khách.
Riêng tôi, vẫn tồn tại
ở đây, thiết nghĩ là một may mắn lớn. Quê
mẹ cần tôi hơn bất cứ nơi nào. Sanh và
trưởng thành nơi đây, tôi thấu hiểu con người
và môi trường này hơn bất cứ ai, theo đó tôi
ích lợi cho ở đây hơn bất cứ nơi nào
khác.
Tôi biết cái nghèo cái đói
dai dẳng, v́ chiến tranh cũng có, v́ chủ nghĩa anh
hùng cách mạng cũng có. Tôi hiểu cái bất hạnh
của dân tộc tôi. Tôi,
một ngôi trường, món ăn chính của tôi là tư
tưởng, những trào lưu văn hóa, trong đó có
Khổng Mạnh, Phật Giáo, Lăo Giáo, Lang Sa, Mác, Lê Nin, Mao,
nhưng hẳn không chỉ là bao nhiêu đó. Hiện tôi
đang đói và có thể đói dài dài, v́ sách báo
nước ngoài quá đắt đỏ đối với
khả năng tài chánh của tôi, và cũng v́ chính quyền
không cho phép nghe khác, nghĩ khác. Thế nên, nếu
đồng bào tôi đói dai dẳng, “đói đến
chết”, th́ số phận của tôi không hơn. Tôi
cảm như ḿnh bị đẩy lùi dần vào bóng
tối. Tôi vẫn là Tây Thi, nhưng mà là Tây Thi bị sao
Kế Đô, La Hầu, Thái Bạch án ngay ở mọi cung.
Như đa số trong vùng, tôi đang sống thu hẹp
lại, hạn chế nhu cầu, hạn chế nghĩ
suy, gọi như thế là anh hùng, là biết chia xớt
với đồng bào trong cái khó. Đảng dạy:
“Đất nước ta c̣n nghèo.” “Phải biết hy sinh”;
nói rộng ra phải nướng thêm vài thế hệ.
Một lần nữa, tôi đồng lơa với chính
quyền.
Sau cùng, thiết nghĩ
phải nói một lời với các môn sinh cộng sản
của tôi. Các anh chị có theo tiếng gọi của non
sông, có muốn giành độc lập, đem lại ấm
no và hạnh phúc cho dân ta. Các anh chị có lư tưởng.
Đáng khen thay những con người có lư tưởng cao
cả, v́ nước, v́ dân. Cũng đáng khen là anh chị
đă chịu ghép ḿnh trong một kỷ luật khắt
khe, đă có quên ḿnh v́ đại cuộc.
Tuy nhiên, cuộc sống không
chỉ là lư tưởng, hay ư thức hệ. Nó c̣n là
những nhu cầu thiết yếu, thí dụ như nhu
cầu được ấm no, được an cư
lạc nghiệp. Nó vốn đa dạng, muôn màu. Cho nên,
không thể nhốt người trong một chủ
nghĩa, trong một lư tưởng, và càng không thể ḱm
hăm dân tộc trong đó. Mác-xít là một hệ tư
tưởng có một ảnh hưởng rộng lớn
nhất định trong bối cảnh lịch sử
của cuối thế kỷ thứ 19 và đầu
thế kỷ thứ 20; nhưng nó không là duy nhất.
Đối với Việt Nam,
nó xa lạ. Lấy cái áo ngoại lai của một xă
hội kỹ nghệ của thế kỷ trước,
tṛng vào cho xứ nông nghiệp ta sau 30 năm chiến tranh
th́ quả là cưỡng ép. Đó là “kéo chân vịt cho dài ra
bằng chân hạc, và làm cho chân hạc phải ngắn
lại như chân vịt”. Cho nên, ḥa b́nh đến,
đất nước thống nhất, ngỡ là an cư
lạc nghiệp, nhưng vẫn đói khổ dài dài. Anh
chị hẳn có nghe tiếng rên siết, có thấy
những hành động nổi dậy của những
người dân mà tâm nguyện là được làm việc
và được sống trong sự bảo vệ của
luật pháp. Nhưng lắm khi các anh chị phải
ngoảnh mặt làm ngơ, v́ phải trung với
Đảng, nên đành bỏ chữ hiếu với dân, quên
t́nh nghĩa đồng bào, đánh mất cái mục tiêu ban
đầu của các anh chị.
Vấn đề không là thay
tập đoàn cai trị da trắng bằng một tập
đoàn người trong nước, sắt máu hơn,
độc tài hơn. Vấn đề cốt lơi vẫn là
làm sao có một chính quyền mà nhân dân có thể tích cực
tham gia; một chính quyền có khả năng giúp cho
người Việt Nam biết sống, biết đem
lại sự an lạc cho nhau. Bất cứ ai gieo rắc
thương đau, đói rách cho đồng bào, dầu
trước đây có là đồng chí của các anh
chị, giờ chỉ có thể là những tên phản
động, thù địch của nhân dân, và của chính anh
chị.
C̣n lắm điều chẳng trọn...
Đục trong giúp xây dựng
bản sắc của tôi. Đó là cơ sở cho nhân cách
của tôi. Nó giúp tôi đối thoại hữu hiệu
với nhhững cái mới lạ, với đồng bào
tôi, môn sinh tôi, chánh quyền các cấp, đảng phái và
đạo giáo. Hiểu được và biết
nhường nhịn để gặp nhau trong ḥa khí,
đó là cái may lớn.
Tuy nhiên, hiểu
được, và biết được rơ có một
giới hạn mà ḿnh chẳng thể bước qua
được, nhưng ḿnh phải bước qua, cho nên
gọi đó là đồng lơa, gọi như thế là có
một cái ǵ chẳng trọn.
Tôi đă nh́n các đội
ngũ đă lo cho sự an sinh của tôi, xây dựng nên tôi,
lần lượt vào tù, nh́n nhân lực và tài nguyên
đất nước phí phạm vô tội vạ, tôi không
dửng dưng, nhưng vẫn để cuộc sống
như thế trôi. Thật có một cái ǵ chẳng trọn.
Tôi lớn tiếng thuyết
về đối thoại. Tôi hằng nói phải biết
lắng nghe, nghe mà tâm yên lặng b́nh an, không oán hờn,
cũng không để bị phỉnh nịnh, nghe mà trí
không bận v́ những sở đắc của ḿnh, v́
những h́nh ảnh về ḿnh hay về người khác làm
dao động. Tôi hănh diện trong kinh nghiệm học
lắng nghe và đối thoại. Nhưng hôm nay, tôi
cảm nhận ít khi tôi lắng nghe được hết
môn sinh tôi, nghe được hết những người
đối nghịch. Lại một điều chẳng
trọn.
Tôi nghĩ phải thật thà.
Tôi thương, kính mến cái mộc mạc của dân quê.
Tôi muốn trung thực với trẻ con tôi, với chính
tôi, với đồng bào tôi. Nhưng tôi cũng đă có
lần không thực với trẻ, với đồng bào,
với chính ḿnh. Lại một điều chẳng
trọn.
Tôi không bi quan. Các bạn
cũng đừng nghĩ rằng tôi tự ḿnh hài tội,
và chờ đợi phần phân biện, hay một lời
sám hối, ăn năn, xin tội. Cuộc sống vốn
bất toàn, con người vốn bất toàn. Cho nên,
dở dang là đương nhiên. 80 năm một chuỗi
dài dang dở, xem đó là may, v́ nhờ đó mới thèm
một cái ǵ cho trọn, c̣n bước tới, c̣n t́m ṭi,
c̣n vui với những cải thiện, hi vọng măi,
tiến măi đến cái tṛn đầy, nhưng vẫn c̣n
lắm điều chẳng trọn.
Tri Ơn: Chúng tôi chân thành
cảm ơn hai vị Giáo Sư Hiệu Trưởng
Lưu Khôn và Nguyễn Trung Quân đă cung cấp cho chúng tôi
những số liệu quí báu cùng với năm tháng về
sự phát triển của trường Phan Thanh Giản.
Houston, tháng 4-1997