Về
Nguồn
Hồ Đắc A-Trang
Nguyễn văn Trường
Lời tâm sự của
một sinh viên người Pháp gốc Việt Nam: “Tôi sinh và trưởng thành tại
Pháp. Bên ngoài của tôi là da vàng, mủi tẹt, rặt
người Châu Á, trong huyết quản tôi là gịng máu
Việt Nam. Tuy nhiên, từ cách ăn mặc, cho đến
những suy nghĩ hay xúc
cảm sâu xa nhất của tôi, tôi là Pháp. Một ông bạn
tôi bảo đó là hiện tượng trái chuối: ngoài
vàng, trong trắng. Có lần, tôi phải ghi tên vào học
một Đại Học Hoa Kỳ, đến lượt
tôi, người ta bảo tôi sang bên quầy ghi danh
người thiểu số. Tôi ngẩn ngơ v́ cứ
nghĩ ḿnh là Pháp, nên đă sắp hàng cùng với
người da trắng. Vậy tôi là ai? Việt Nam hay Pháp?
Thoạt tiên, tôi nghĩ phải trở về cái gốc
của ḿnh, cái nôi của cha ông. Nhưng Thầy Mạnh
lại dạy:"Hăy trở về với chính ḿnh." “ Cái chính ḿnh đó là cái ǵ? Phải làm sao đây?
Đó là nội dung của bài
này.
Vạn vật giai bị ư ngă
Phản thân nhi thành
Lạc mạc đại yên
Mạnh Tử
1.
Trái chuối. Để
mở đầu , tôi xin mượn câu chuyện sau
đây:
"Một
cháu gái người Mỹ
gốc Hoa, học sinh lớp 10, có tâm sự như sau:
Thật
tôi không biết tôi là ai. Là con gái ngoan của một gia
đ́nh Trung Quốc? Hay là một người Mỹ trong
lứa tuổi đôi tám? Tôi có cảm giác như bỏ
rơi cha mẹ tôi, khi tôi vui cùng bạn bè, v́ những lúc
ấy, tôi hành động rất Mỹ. Tuy nhiên, tôi cũng
có cảm giác rằng tôi chẳng bao giờ là người
Mỹ cả. Tôi chẳng c̣n thấy thật sự dễ
chịu với chính tôi."
Cách
đây hơn mười năm, tôi có dịp dự một
buổi nói chuyện ở Saigon, của một sinh viên
Việt Nam về Luận Án Tiến Sĩ của anh
tại Đại Học Nice (Pháp), trên một đề
tài về thanh thiếu niên người Pháp gốc Việt,
những con em người Việt Nam đa số sinh
trưởng ở Pháp. Các em này nói tiếng Pháp như
người Pháp, nhưng với tiếng Việt th́ ôi thôi,
chẳng biết ǵ hoặc chỉ bặp bẹ
được năm ba tiếng, dùng trong chào hỏi.
Hầu hết đều mù chữ quốc ngữ.
Những em giỏi tiếng Việt có thể nói và hiểu
con ngựa đen , con chó đen , con chó trắng; nhưng
lần đầu mà nghe con ngựa ô, con chó mực, chó c̣,
th́ sẽ chẳng hiểu mô tê ǵ cả .
Một trong những công tŕnh của
luận án là những câu hỏi thăm ḍ ư kiến và
những cảm xúc của các em. Tôi c̣n nhớ một trong
những câu hỏi là: Tôi là ai?
Và một trong những kết luận của
thuyết tŕnh viên hôm đó là một số đông các em cho
thấy có những cảm giác như cháu gái người
Trung Hoa nêu trên, không rơ ḿnh là người Việt Nam hay người
Pháp.
Một em tâm sự:
“Tôi nói tiếng Pháp như
người Pháp, xă hội Pháp với tôi gần như
chẳng có một cái ǵ ngăn cách, tôi đă mang trong
người tôi cả những phong tục tập quán của
người Pháp. Tôi làu thông lịch sử, địa lư,
tác phẩm của các văn hào, triết gia Pháp,và Tây
Phương ..., và nhờ thế mà một số đông
chúng tôi chiếm những học vị cao, và có những
vị thế rất dễ chịu trong xă hội Pháp.
Thế mà, vẫn có khi tôi có cảm giác có một cái ǵ
đó nói rằng tôi không là người Pháp. Phải
chăng v́ màu da của tôi, phải chăng v́ tôi c̣n biết
ăn nước mắm, biết ăn phở, canh
chua,...Không. Chắc chắn
không chỉ có như vậy. Không phải chỉ là cái
bên ngoài đơn giản, cái bề nổi phớt ở
trên. Có một cái ǵ đó xâu thẩm trong tôi, trong nội tâm
của tôi với tất cả cái vô cùng phức tạp
của nó.
Cha mẹ, ông bà tôi là
người Việt Nam, và không phải chỉ Việt Nam
trong những nét đặt thù chủng tộc – màu da,
tiếng nói, v. v.. Cuộc sống nhiều năm ở Pháp,
có làm thay đổi cách sống, cách suy nghĩ của cha
mẹ tôi theo những qui định của xă hội Pháp.
Nhưng trong câu chuyện, trong cử chỉ, trong thái
độ, trong cách xử thế, nhất là khi ông bà
tiếp những bạn cũ, tôi nhận thấy có
những nét, rất-không-Tây-Phương tí nào cả, mà tôi
nghĩ là rất-Việt Nam.
Vậy, cái gốc của tôi, từ cha ông
tôi, chỉ có thể là Việt Nam. Tôi là người
Việt Nam tận trong huyết quản, và từ lúc chào
đời, được dưỡng nuôi trong một gia
đ́nh Việt Nam. Nhưng tôi đă sớm đi vào các
trường học Pháp, thụ lănh nền văn hóa Pháp.
Tôi biết tiếng Pháp rành hơn tiếng Việt. Khi
hầu chuyện với cha mẹ tôi, tôi cũng có sử
dụng tiếng Việt, nhưng nếu có ǵ không hiểu,
tôi thường nói ông bà chuyển ra tiếng Pháp, hoặc
giảng cho bằng tiếng Pháp.
Như vậy, từ ngôn ngữ, t́nh
cảm, cách suy nghĩ, đến những tập quán, tôi
rất Pháp, mà cái gốc thực sự của tôi lại là
Việt Nam.
Trái chuối là như thế đấy, là
cái vỏ vàng óng, nhưng bên trong th́ trắng bạch. Bên
ngoài là rặt giống Việt Nam, da vàng mũi tẹt. Bên trong, ruột trắng một
trăm phần trăm; cho nên, như Trang Chu mộng
hồ điệp, tỉnh cơn mơ, không biết ḿnh là
bướm hay là Trang Chu, tôi
không biết ḿnh thuộc về đâu, gốc ở
đâu.
Tôi là ai? là Việt Nam? hay Pháp? hay một
thứ lai căng, một phụ phẩm Việt Pháp?
Hay một cái ǵ khác nữa?
2. Ước mong.
Khủng khoảng này có
thể xảy ra cho con em chúng ta, bất cứ ở
đâu, ở Hoa Kỳ, Gia nả Đại, Đức,
v.v., hay ngay cả trong ḷng đất nước. Sau chính biến tháng 4, 1975, đông
đảo người Miền Nam đă mang "tâm
thức của một kẻ lưu đày" hoặc thấy "ḿnh là một
người khách ngoại
quốc giữa ḷng dân tộc."
Đó là cái tâm trạng hoang mang, bất
ổn – trong một thời khắc đặc thù, trong
một bối cảnh cụ thể – của những con
người đang mất hay thiếu niềm tin ở cái
cá tính, ở cái căn cước của ḿnh, ở chính con
người của ḿnh; do đó có nhu cầu t́m lại gốc nguồn của chính ḿnh.
Gần như ai ai cũng đều gặp phải
cảnh này ở một thời
điểm nào đó trong cuộc sống, nhất
là ở tuổi vị thành niên, ở cái thời khoảng,
đang t́m xác nhận cái tôi, cái nhân cách của ḿnh.
Là một người Việt Nam sống
ở nước ngoài, là một nhà giáo, tôi thiết tha
muốn nói với đồng bào tôi những điều
sau đây. Đó là:
1. Văn hóa là một nguồn phong phú
vô tận, nhất là để hiểu biết cái tôi trong
những bước tiến không ngừng của nó.
2. Nói riêng, văn hóa Việt Nam,
hơn bất cứ một nền văn hóa nào, là một
nguồn nhu phẩm trọng yếu cho sự lớn
mạnh của con em của chúng ta, giúp chúng khẳng
định chính ḿnh trong cộng đồng, giúp chúng tránh
được những ngẩn ngơ, những cảm
giác lạc loài của cô bé Trung Hoa nêu trên đây.
3. Con em chúng ta trước hết
phải là người Việt Nam. Thế nên, phải
lưu loát tiếng Việt. Nói, đọc, viết.
Nếu các em chưa nói được, đọc
được, viết được tiếng Việt,
th́ ngay bây giờ, hăy chuẫn bị hành trang đi vào
nền văn hóa Việt Nam.
4. Thế hệ chúng ta c̣n mang tận
bên trong sâu xa nền văn hóa Việt, chúng ta muốn
mất gốc rể cũng chẳng được, giá
trị Việt Nam đă
nằm sẵn trong huyết quản. Nhưng với con em
chúng ta, mà đông đảo sanh trưởng ở
ngoại quốc, chúng ta có trách nhiệm hướng
dẫn tốt các em trong việc trở về nguồn.
Chúng ta là những người Việt Nam, duy nhất và sau
cùng gần gũi con em ḿnh, và là nơi mà văn hóa Việt
Nam giao lưu với nhiều nền văn hóa khác. Trách
nhiệm truyền lại cái di sản ngàn đời
của tiền nhân trong bối cảnh lịch sử này,
nặng hơn bất cứ lúc nào từ trước
đến nay.
5. Học văn hóa nước nhà,
qua các sách báo, nghiên cứu ở các thư viện Hoa Kỳ
là một điều tốt. Nhưng đó vẫn là cái
hiểu biết trừu tượng, qua kinh nghiệm hay
sự học hỏi của các tác giả. Hơn nữa
cái ghi lại trong sách vở đă thuộc về dĩ
văng. Bản chất của văn hóa lại là sống, là
cái bước tiến đương thời của
một dân tộc, một cộng đồng.
Cho
nên, dưỡng nuôi con em ḿnh
với văn hóa Việt Nam, không phải đưa chúng vào
cái nhăn quan của ông Mỹ này hay ông Tây nọ, mà phải có
dịp cho chúng thở cái văn hóa Việt Nam, sống
thật với nó. Phải sống thật th́ mới có
đâm chồi nẩy lộc, chồi lộc mới
lớn mạnh. Có như thế mới thấu hiểu
được những mạnh yếu thăng trầm
của dân tộc ở mỗi thời lúc.
Ở
Houston, có một cộng đồng non 200 ngàn người
Việt Nam, trong ấy có mọi giai tầng, giàu nghèo, sang
hèn, từ mù chữ đến đỗ đạt cao,
từ lao động chân tay đến chủ hăng
xưởng.
Mong sao cho
con em chúng ta, trong giới hạn khả năng của
chúng, ít nhất phải
dấn thân và trọn vẹn với cộng
đồng người Việt của ḿnh. Có như
thế, các cháu mới nghe thấy được hết
những âm vang, thổn thức, những vui buồn
của những con người Việt Nam cụ
thể. Có như thế, các
cháu mới sống thật với ḿnh, với môi trường
văn hóa Việt nam, khẳng định chính ḿnh trong
cộng đồng ḿnh. Và từ đó, không c̣n cái tôi
mờ mịt, ngẩn ngơ, không biết ḿnh là ai. Về
nguồn, con người có cơ sở để
đối thoại, để đón gió bốn
phương, thấu hiểu cái hay, cái đẹp của
người, và mạnh chân dấn bước. Đó là mở rộng mà không
mất gốc. Đó là thọ lănh và phát huy cái di sản
ngàn đời của cha ông Lạc Việt.
3. Thân phận. Nhưng đó chỉ là
mong ước của một người Việt Nam
buộc phải nương thân nơi đất khách,
của một phụ huynh và của một ông giáo già c̣n
vọng nhớ cố hương.
Vấn đề thật sự không
đơn giản.
Một số đông phụ huynh sẽ
phản đối. Cộng
đồng Việt Nam phức tạp, có người
tốt kẻ xấu. Trọn vẹn với họ thế
nào được? Trong mọi cái tốt đă sẵn
một cái xấu, huống chi là những con người
đă xấu. Gần mực th́ đen, gần đèn th́
sáng. Đừng xúi dại. Chắc chắn chúng tôi không
nhẹ dạ để con em chúng tôi đi bất cứ
nơi đâu.
Tuổi trẻ cũng dẫy nẩy. Chúng tôi sanh trưởng ở đây,
hoặc đến đây vào lúc c̣n thơ. Thức ăn Việt Nam, ngon
thật, và chúng tôi cũng quen lắm. Nhưng hamburger, fast
food, rất tiện, và chúng tôi cũng rất quen với
chúng. Mọi việc, từ những thói quen, đến
cách suy nghĩ, chúng tôi không nghĩ rằng chúng tôi khác
người Mỹ. Vả lại,
chúng tôi dùng Anh ngữ đă quá quen rồi, nó là
quốc ngữ của chúng tôi rồi, và nó cũng sẽ là
ngôn ngữ thế giới ngay vào những thập niên
đầu của thế kỷ thứ 21. Tại sao chúng tôi phải lăng
mạn đi vào một ngôn ngữ mà chỉ có khoảng 70
triệu người xử dụng, mà gặp nhau,
thường có một thái độ e ngại, pḥng vệ
thật khó chịu.
Tôi
cũng nghĩ rằng không thể gói bất cứ con
người nào chỉ trong một nền văn hóa; và càng
không thể gói con em Việt Nam sinh trưởng và lớn
lên ở đây, trong nền văn hóa cố hữu của mẹ cha.
Tôi không nghĩ là phải tranh luận. Một sự tranh luận trong bối
cảnh này chỉ có thể là một cái ǵ khô khan, vô
bổ. Mỗi người
sẽ biện minh lập trường của ḿnh bằng mọi cách,
mọi lư. Theo đó, mỗi bên mỗi lúc càng thêm pḥng
vệ. Rồi chúng ta chẳng
ai nghe ai, đă xa nhau lại
càng xa nhau hơn.
Thiết nghĩ,
mỗi chúng ta, nên từ
bỏ thành kiến, những nghi thức, đạo lư, giá
trị, để thử
lắng nghe lẫn nhau. Hăy thật ḷng cùng nghe nhau và nói
chuyện với nhau, về những khủng khoảng mà
không biết xăy ra lúc nào cho mỗi con em chúng ta, hoặc cho
ngay chúng ta về câu hỏi: Tôi là ai? Nói về nguồn th́ cái nguồn
ấy là ǵ?
H́nh như mỗi người chúng ta
đều có gặp câu hỏi đó hơn một lần,
và không phải lúc nào chúng ta cũng có một lời
giải thỏa đáng.
Nó buộc ḿnh t́m lại chính ḿnh: ḿnh là ai,
nguồn gốc của ḿnh là đâu, bản chất
của ḿnh là ǵ. Và từ đó bao nhiêu vấn đề
lớn nhỏ, đa dạng và muôn đời của loài
người sẽ lần lượt hiện ra.
Tôi là một người chồng,
người vợ, một bác sĩ, y tá, kỹ sư,
thơ kư, thợ,.. Những
câu trả lời như vậy nói lên những nhiệm
vụ, quyền hạn, suy tư, vui buồn khác biệt.
Chúng cũng nói lên rằng mỗi con người chúng ta
đều, cùng một lúc, có giữ nhiều vai tṛ khác nhau
trong xă hội. Theo đó, cùng một lúc, chúng ta thuộc
nhiều cộng đồng khác nhau, cộng đồng
các bác sĩ, kỷ sư, công nhân,.., cộng đồng
gồm các láng giềng, các nhóm thân hữu không tên. Và mỗi
cộng đồng đều có những nghi cách của
nó. Những nghi cách đó là cái ăn, cái mặc, ngôn từ,
thái độ xử thế, hệ thống giá trị, phong
tục tập quán, luân lư, tư tưởng, đạo
giáo, kỹ thuật, .... Tất cả những cái ấy
được gọi là văn hóa. Cho nên, nếu có văn hóa Việt Nam, có văn hóa Mỹ, có văn hóa Đông Phương, Tây
Phương, th́ cũng có
những văn hóa đặc thù không tên của những
nhóm nhỏ biểu hiện qua những sinh hoạt của
chúng, thí dụ văn hóa
Cố Đô Huế, văn hóa Petrus Kư, văn hóa Vĩnh
Long-Vĩnh B́nh-Sa đec, vân vân.
Và từ những nhận thức giản
đơn và cụ thể ấy,
ta có đi đến những vấn đề
trừu tượng, khái quát hơn: Tổ quốc, dân
tộc, quê hương, t́nh quê, t́nh thôn xóm, t́nh người, hoặc những
khái niệm về nhân bản, nhân tính,... Có những cái tính chung cho cả
loài người, có cái con người nói chung của muôn
nơi muôn thuở, cũng có con người cụ thể
của một bối cảnh lịch sử cụ
thể.
Nói con người cụ thể trong
một bối cảnh lịch sử cụ thể th́
đă nghĩ rằng con người chẳng bao giờ
thoát khỏi cái môi trường sống của ḿnh. Như
kỳ nhông, rắn lục ở nơi cây xanh th́ lấy màu
xanh, ẩn trốn dưới lớp lá khô th́ lấy màu
xám của la cành khô—nói chung là nơi nó sinh sống màu ǵ th́
da dẻ nó mang màu đó—con người ở đâu th́ nói
tiếng nói chỗ đó, sống cách sống chỗ
đó, nói cách khác là mang nền văn hóa của chỗ đó.
Cho nên, thân phận làm người là bị
qui định. Bị qui định ngay từ trong
bụng mẹ. Ḿnh chỉ sinh ra, lớn lên và tồn tại được
trong một môi trường mà lúc nào ḿnh cũng phải
thích nghi, và như thế măi. Ḿnh như bị cột,
gắn vào những nền văn hóa khác nhau. Thế
rồi, một lần nữa, câu hỏi được
trở lại: Tôi là ai? Phải chăng tôi chỉ là
một chế phẫm của những cộng đồng
dị biệt? Và tôi hoàn toàn lệ thuộc vào những cái
khuôn đúc ra tôi, tánh t́nh, những suy nghĩ, những t́nh
cảm, nói là của tôi, thật ra phải chăng
đều do xă hội? Không
hẳn là thế, v́ thật sự, lúc nào tôi cũng có
khả năng tác động lại trên môi trường,
và làm cho nó chuyển biến.
Và do đó, có một cái tôi đặc thù, khác biệt,
chẳng giống ai, mà mọi người phải tôn
trọng, trong cái qui ước làm người?
Hay là đă có một cái nghiệp ngàn
đời trước, do ông tổ của loài
người truyền lại, hay chính tôi tự tạo. Tôi
có thoát nghiệp được chăng, tôi có thoát khỏi
cái tội tổ tông được chăng? Và bao nhiêu
vấn đề khác.
Câu hỏi đơn giản, ngắn
gọn, rơ ràng: "Tôi là ai?" đă bao lần trở
đi trở lại với mỗi chúng ta, và mỗi
lần, những nghĩ suy, những t́nh cảm, những
giá trị của mỗi chúng ta mỗi khác. Có khi chúng ta vui
vẻ an lành như t́m được một giải
đáp hoàn hảo, nhưng bỗng chốc, cái hoàn hảo
ấy trở thành một biện pháp tối ưu, đáp
ứng cho một thời điểm nào đó của
cuộc sống; rồi có thêm những dữ kiện
mới, cái tối ưu thuở nào không c̣n hợp thời
nữa. Chúng ta như trở lại lúc đầu. Tuy nhiên
mỗi khi câu hỏi trở lại là một thử thách
mới, và theo đó đ̣i hỏi
một bước đi tới của ta. Ta không theo
một ṿng tṛn lẩn quẩn, mà đi trên một
đường xoắn ốc mỗi lúc mỗi cao. Thiết
nghĩ:
·
Cái tôi
có thể là một yếu tố chủng tộc, yếu
tố di truyền.
·
Không
có cái tôi cô lập. Tôi thuộc nhiều cộng đồng
khác biệt. Mỗi cộng
đồng có một nền văn hóa đặc thù
của nó. Tôi là nơi giao
lưu của các nền văn hóa đó. Thế nên, tôi thọ lănh
nhiều hệ thống giá trị và văn hóa khác nhau:
Việt Nam, Pháp, Mỹ, Phật Giáo, Lăo giáo, Công Giáo,... Tôi lớn mạnh và sinh tồn
cũng nhờ đó, bị trói buộc, che mờ cũng
do đó. Chúng ảnh
hưởng trên tôi và tôi cũng có khả năng tác
động trên chúng.
·
Tự
thân, tôi đă mang một nền văn hóa gốc. Thí
dụ, nền văn hóa Việt Nam đă dưỡng nuôi
tôi từ thuở chào đời. Nó là một nguồn tài
nguyên vô tận. Chẳng bao giờ tôi biết hết
được nó một cách trọn vẹn, cũng như
chẳng bao giờ tôi biết hết cái tôi. Thế
nên, có cái vui mỗi ngày thêm khám phá thêm cái mới, về tôi,
cũng như về nền văn hóa gốc của tôi,
hoặc những nền văn hóa khác.
·
Tôi
cũng giữ nhiều vai tṛ trong xă hội, và lắm khi
những vai tṛ này mâu thuẫn nhau, và đặt tôi vào
những bối cảnh có thể làm tôi phấn khởi,
nhưng cũng có thể làm tôi đau đầu, mang
nặng những lo âu hay ray rứt.
·
Cái tôi
là một quá tŕnh diễn biến, không ngừng đổi
thay. Cuộc sống vốn là phát triển, tôi là một quá
tŕnh phát triển. Cái tôi hôm nay khác với hôm qua, ở
thời điểm này, có khác với một giây
trước đây.
·
Tôi
thấy tôi trong những nhu cầu: nhu cầu sinh tồn,
từ cái ăn mặc, an ninh, sự cần thiết
thuộc về một gia đ́nh, một cộng
đồng, được công nhận và có một t́nh
người trong đó tôi học cái hay cái đẹp, trong
đó tôi thể hiện đưọc cái tôi một cách
trọn vẹn.
·
Và c̣n
có nhiều tham số nữa, mà tôi chưa thấy
được.
·
Về
nguồn tức là trở về cái tôi đa dạng
ấy, mà sự qui định của xă hội đă làm
cho tôi quên mất. Về nguồn là từ bỏ sự hôn
mê trong vong thân, để trở về với cái tôi chân
thật. Về nguồn cũng là sự tỉnh thức
về những tham số mà đă qui định mọi
hành vi, tư tưởng của tôi. Tôi là ai? Tôi vẫn là
tôi, nhưng không là một cái tôi mê muội trong tài sắc
danh lợi, mà là cái tôi tỉnh giác trong cái thân phận làm
người. Bản lai diện mục là thế
đấy, là trực diện với cái bản chất
ngàn đời của con người, từ những tham số di truyền
đến ngôn ngữ, tập
tục, cách sinh sống, từ cái phân biệt phải
trái đến cái không chấp của nhà Phật, từ cái
tôi vị kỷ đến cái hạnh nhẫn nhục
của người công giáo.
·
Về
nguồn, tức là trở về với chính ḿnh, một
cách tuyệt đối trung thực. Theo đó, ḿnh mỗi
ngày sẽ khám phá một nét mới về chính ḿnh. Và v́ không
có con người cô lập, khám phá ḿnh, tức là cũng
khám phá cuộc đời, không trong những công thức,
những qui ước, giáo điều, mà trong cái thật
sống của nó.
4. Tôi vẫn là tôi.
Chúng tôi mở đầu
bằng một trích dẫn lời Thầy Mạnh:
"vạn vật trong trời đất vốn
đầy đủ nơi ta. Trở lại chính ḿnh mà thấy
đúng như vậy, th́ chẳng có cái vui nào
bằng." Rồi từ
thân phận trái chuối, chúng tôi nêu lên những ước
mong: mong sao con em ḿnh quay về cái gốc Việt Nam, mà
thể thường ai cũng nghĩ rằng như
vậy là về nguồn . Thế
vẫn không ỗn, có một cái nguồn khác rộng
hơn, sâu hơn, cho mọi người của muôn
nơi, muôn thuở. Thức ngộ được
sự qui định của môi trường trong tất
cả các tham số của nó, là một cơ may "hé
mở cửa giải thoát",
giải thoát khỏi mọi qui định, giải thoát mà
không giải thoát, trở về với cái tôi chân thật,
cái nguồn thật của chính ḿnh. Và như thế,
nếu lời của Thầy Mạnh có đúng, th́
thật sự vạn vật đồng nhất thể.
Vậy có lẽ nên kết luận bằng bài thơ sau đây:
Lô
Sơn yên tỏa Triết Giang triều
Vị đáo sinh b́nh hận
bất tiêu
Đáo đắc hoàn lai vô
biệt sự
Lô Sơn yên toả Triết
Giang triềusáu
Tô Đông Pha
Khói từ Lô Sơn tỏa trên nước
sông Triết Giang có tiếng là
đẹp.
Khi
chưa đến được th́ ḷng ấm ức,
hận rằng chưa biết.
Khi
đến rồi, trở về chẳng thấy chi
đặc biệt.
Khói
Lô Sơn vẫn tỏa trên gịng nước Triết Giang
như lúc nào.
Khởi đầu, bơ vơ chẳng
biết ḿnh là ai. Chưa trở về được
với chính ḿnh, th́ ḷng vẫn c̣n ân hận. Về
được với chính ḿnh rồi, th́ ḿnh vẫn là
ḿnh, tuy nhiên giờ đây là cái tôi trung thực, vẫn trong
gịng đời, mà không bị bụi đời che lấp.
Chúng tôi mong được quí đọc
giả, bạn hữu chỉ giáo
Xuân
Ất Hợi, 1995