QUA RI MÙA CẤY


Phùng Nhân

 

Trời vừa múm qua đầu tháng 6 âm lịch, khi những đám mạ non bắt đầu đóng vóc, thì khắp trong làng Lộc Thuận, Tân Định, Thới Lai, Giồng Kiến thuộc huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre, công cấy họ lo sửa soạn lại cây nọc của mình. Bởi sau một mùa cấy, những cây nọc nầy đã bị vắt vào nẹp vách nghỉ ngơi. Ngày hôm nay được người ta lấy xuống lau chùi trở lại, rồi lấy giấy nhám đánh thêm cho lên nước màu cây láng bóng. Có người thì mặt hớt ha hớt hải, vì đã nhìn thấy sứt một cái tay. Hay lỗ mọng bị sụt sịt vì cây khô bị nhót, nên lẹ làng xách cây nọc đi đến nhà ông thợ Phó để nhờ thay tay khác, hay nêm lại cho nó được chắc chắn vì sắp vào mùa.

 

Đó là những công chuyện phải lo lắng suốt đời đâu được nghỉ ngơi, bởi người làm ruộng mà thiếu cây cuốc, cây nọc, con dao, bồ cào thì có khác nào người lính mà thiếu cây súng hay viên đạn bên mình. Tới nước đó thì còn đánh đấm với ai, chính vì những điều quan trọng đó mà người nông dân họ lo tẩn mẩn mấy cái việc đó suốt ngày, còn hơn lo cho cái ăn cái mặc đang chuẩn bị vào mùa nầy nữa...

 

Còn những người thợ mộc trong làng, họ cũng nhờ dịp đó mà bán thêm được một mớ nọc mới cho bà con. Thông thường nọc cấy thì phải đẽo bằng cây căm xe, hay cây cà chất mới bền. Còn người nào mà hà tiện, đẽo nọc bằng cây mù u, hay cây  quao, cây tạp thì chỉ cấy được mùa đầu, tới mùa sau thì cây bị nhót, hoặc nhẹ đi nên khi cấy xuống đất gò thường bị dội. Cũng chính nhờ bao lẽ đó, mà năm nay ông thợ Phó trúng mánh quá trời. Mỗi cây nọc của ông bào chuốc đẽo ra, bán với giá gấp hai mà người ta cũng đi tới nhà chầu chực để mua cho bằng được chớ không có ế.

 

Mặc dầu ông thợ Phó đã có chuẩn bị cây căm xe trước đó rồi, vậy mà khi vô mùa nó có đủ đâu. Báo hại ông ta phải lặn lội ra tới trại cây ngoài vàm Lộc Thuận, để hỏi mua thêm mấy khúc nữa, rồi kêu xe bò ông Bảy Hanh chở về hì hục rã suốt ngày. Ông bà mình có nói thợ mộc ăn cây, thợ hồ ăn cát không biết có đúng hôn. Chớ vợ con ông thợ Phó nhờ có dịp nầy, mà có thêm dâm bào nhúm lửa. Đó là chưa nói tới việc bán nọc nó đắc tợ tôm tươi, chớ còn hồi mấy năm trước, bào chuốc ra cả đống vậy mà bán đâu có hết. Cho nên hễ có người nào tới mua, thì bà vợ đon đả mời trầu, mời nước mời thuốc rất tận tâm. Còn bây giờ bà ta chỉ chào hỏi bâng quơ, chớ không cần vồn vã.

 

Thì ra làm cái nghề gì cũng vậy, phải gặp thời mới khá giả được nghen. Chớ còn gặp lúc quỷ ám, cho dù có tài giỏi tới đâu thì kiếm miếng ăn cũng khó. Nhờ vậy mà năm nay gia đình ông thợ Phó phất lên mấy hồi, còn mấy năm trước thì vào tháng nầy mưa gió triền miên, đâu có ai mướn cất nhà cất cửa hay đóng bàn đóng ghế củi chén gì. Thấy cảnh đó dễ ăn, cũng có vài người mon men đi lại hỏi han, để gởi gấm con mình học nghề thợ mộc.

 

Nhưng thợ mộc cũng như mấy ông thầy nghề võ chớ có khác gì, đã có mấy đứa đi lại học cả năm mà có làm được cái giống gì đâu. Tối ngày chỉ có chẻ củi, nấu nước trà cho sự phụ uống. Hoặc khi có lãnh làm nhà ở đâu thì quảy gánh toòng teng mấy cái đục, cái bào, lưỡi búa, và lưỡi rìu để mà đẽo cột.

 

Có bữa nó mệt muốn bứt gân, bởi cột căm xe có khi bự bề vòng bằng đít thúng, vậy mà phải đẽo nó trở thành vỏ mướp. Sau đó mới đẽo nước nhỏ thành khối lục lăng, rồi mới bào tròn đánh bóng. Cho nên một cây cột nhà khi đã dựng lên, thì mồ hôi của người thợ mộc đã dính vào từng thớ gỗ.              

 

Nếu may phước bữa nào hên sư phụ cũng chỉ cho vài thế đục họng cột, họng kèo, với bào chuốc đòn tay. Hay mài đục, mài bào, rửa lưỡi cưa khi bị lục. Còn chuốc cây nọc cấy, và tra tay nắm thì không khi nào sư phụ chỉ cho. Vì đó là những món đồ nhỏ dấu lại để kiếm ăn, chớ còn chỉ cho đệ tử biết rồi thì sau đó hai thầy trò cạnh tranh cũng rất là khó xử. Bởi ông thợ mộc cũng như ông thầy nghề võ chớ có khác gì, lúc nào cũng để lại mấy miếng vỏ ruột phòng thân, lỡ khi gặp thằng đệ tử cà chớn còn lấy ra để trị.

 

Rồi con nước rong mùa cấy chợt tới. Từ ngày 14 tháng bảy hằng năm nước bắt đầu máy lớn bò lên những ruộng gò, thì công nhổ mạ được mấy người chủ đất họ réo nhau. Có khi họ phải tranh thủ bày tiệc nhậu để lấy cảm tình, bởi con nước rong chỉ thuận tiện cấy được có mấy ngày, nếu nhổ mạ trễ thì cây mạ kể như nằm phơi nắng.

 

Từng hồi mạ được họ được họ đo ra một tầm tính theo bề ngang, bề dài là mười tầm thì tính nó là một hồi. Rồi dựng đầu tầm làm trung tâm điểm chạy tới, để phân ranh làm hồi mà nhổ. Cũng có ông chạy hồi mạ bỏ giò không ngay, vì vậy khi nhổ cự nự rùm trời, có khi lại sanh ra ấu đả. Bởi mấy người chủ ruộng khi gieo mạ thì họ tính nguyên một công mười, cứ mười hồi mạ là vô công đất. Đến khi nhổ rồi chừa lại một thèo, thì nói với ai. Nếu gặp cái đám nhổ mạ nào mà tử tế đàng hoàng, khi nhổ xong còn lại bao nhiêu thì họ xúm lại nhổ gọi là trả quả...

 

Cái nghề nhổ mạ tuy cực mà vui, thế nào cũng được người chủ ruộng cho ăn xôi, hoặc ăn bắp nấu hay bánh bò lót dạ. Còn tới cử cơm thì mười bữa như một, phải có một nồi thịt gà kho xả có ướp bột cà ri, khi kho sắc nước xuống rồi mới đổ một tô nước cốt dừa khô vô, nên ăn cơm thật là bắt miệng.

 

Có người chủ đất còn điệu nghệ, họ cho độn thêm rau rác như: rau chốc, rau mác, rau súng đang mọc dưới ruộng nước đầu mùa. Có người thì xắt chuối cây, rồi pha thêm giấm đường, rau thơm vô thì ăn thêm nhức nhối. Người nông dân thường khi họ sống rất cơ cực nghèo nàn, nên họ rất nhớ tới miếng ăn. Hễ gặp ông chủ đất nào cho ăn ngon, thì sang năm tới kêu nhổ mạ họ rất là vui vẻ.

 

Vì vùng đất xã Lộc Thuận, thuộc đất trủng hoằng sâu, nên mạ gieo thường khi phải từ 1 tháng 20 ngày trở lên mới cấy. Cũng chính vì vậy mà cây mạ đã già, cái rể của nó đã khắc dưới bùn sâu. Muốn nhổ nó lên thì cũng không phải dễ. Khi nhổ lên rồi còn phải đập vô ống quyển đùng đùng, đập chừng nào cho sạch đất mới thôi, Lúc đập phải lừa thế đá bùn non văng ra cho cây mạ không bị gãy. Đập sạch đất xong, thì ôm mạ lại sắp trên cái ghế nhổ mạ xuôi chiều, khi đầy một bó thì họ rút dây lạc dừa đang giắt ở lưng quần ra cột lại.

 

Công việc tuy khó nhọc, chớ mấy người thợ nhổ mạ nầy họ làm lẹ vo vo. Ngoài cái tiếng rào rào của hai bàn tay bắt vào cây mạ, thì còn nghe cái tiếng đập của cái giò, làm cho bùn non nó chạy te te trên mặt nước. Thiệt là một cảnh nhộn nhịp đổ máu con người, vì chưn cẳng nào còn khi tới mùa nhổ mạ đập suốt tháng nầy đâu, nên có người hai ống chưn bị sưng nứt nẻ như trái dưa gan đang chín rục. Còn hai bàn tay thì tươm máu tối ngày, nhưng họ cũng ráng bậm gan, mà vác ghế đi cho hết một mùa nhổ mạ...

 

Rồi cuộc sống đang réo gọi hằng ngày, lớp vợ đẻ con đau làm sao mà ở không tịnh dưỡng. Nhưng con người lao động da thịt của họ rất hiền, khi chiều về họ chỉ cần hái một nắm cỏ mực giả nhỏ bỏ chút muối bọt rồi vắt nước lấy đem thoa. Ngủ một giấc tới sáng, thì mấy vết nẻ lại liền da tức khắc. Nhưng khi tới đám mạ, sau khi phóng tầm đo đạc chạy hồi xong, thì mấy vết nẻ nầy lại hả miệng hứng bùn non, bởi những cái đập mạnh của đôi tay giáng xuống. Vậy mà hai ống quyển cũng chịu đựng trơ trơ, có lẽ nhờ làm lụng cực khổ mưa nắng suốt ngày, mà tôi luyện cho hai cái ống chưn trở thành sắt thép.

 

Trong số những người công mạ nầy lại có cha tôi, một người nông dân lam lũ cả đời, chưa biết được ánh đèn đường nơi đô thị. Theo lẽ thường khi  vào mùa nhổ mạ, thì cũng tới tháng tám lễ hội Trung Thu, nên con nít bắt đầu làm lồng đèn ngôi sao treo trước cửa.

 

Tội cho cha tôi ngoài việc vần công nhổ mạ cấy ruộng nhà, ông còn vác ghế đi lên miệt Giồng Sầm, Thới Lai, Vang Quới, Châu Hưng để mà nhổ mướn. Vì ở trên đó là miệt ruộng đồng, nên họ cấy sau miệt đất Cả Muồng, nhờ vậy mà công nhổ mạ ở dưới nầy mới vác ghế đi lên miệt đó để kiếm miếng ăn. Mà mỗi miếng ăn, phải đổi ra từng giọt máu!

 

Không biết cha tôi đã có phép mầu gì, mà hai ống quyển của ông nó cứ trơ trơ, chớ không bị nứt nẻ như bao nhiêu người khác. Có lẽ nhờ ổng có kinh nghiệm quá trời, từ việc cuốc đất tới việc cấy cày. Mà công việc nào hễ vào tới tay ông, thì nó phải chạy te te theo ý muốn. Chắc có lẽ nhờ khéo tay như vậy, mới nuôi nổi một đàn con. Nhờ vậy mà mấy đứa con, cũng học được ít chữ để mà bỏ túi phòng khi hữu sự...

 

Rồi một hôm tôi đang ở nhà lo chăm chú học bài, cha tối vác ghế về vừa tới đầu ngõ thì lại kêu lên:

 

- Thằng Tụi của Cha đâu rồi, ra đây có bánh Trung Thu nè con. Nhớ ăn no rồi ngồi học bài cũng được...

Quả thật dưới nách của ông có một gói tòng teng, tôi chưa kip nhận ra gói gì. Thì ông nhìn tôi âu yếm, nói:

 

- Bánh Trung Thu cho mầy đây Tụi. Ăn đi con cho nó biết mùi. Bởi mùa Trung Thu là tuổi của tụi con, còn thân cha má thì đâu có quản!

 

Ôi một cái bánh Trung Thu nhỏ xíu, bây giờ nhớ lại tôi không biết diễn tả ra sao. Mà tôi chỉ nhớ mang máng là, bự cỡ bằng cái khu chén là cùng. Nhưng nó đã đổi biết bao nhiêu giọt máu ở dưới ống quyển ông già mới có. Vậy mà hồi đó tôi nào có biết gì đâu, chỉ có nghe cái mùi bánh thơm phức với cái khuôn bánh có khía lạ lùng, mà lại quên đi bao cái mùi lao khổ của ông!

 

Rồi tôi từ tốn cắn từng miếng nhỏ, dường như ở trong đó chỉ có khoai môn, chớ không nhưn nhụy thịt thà hay trứng vịt muối. Bởi cái bánh đó chỉ có đâu chừng 1 đồng bạc, nhưng nó ngon thiệt là ngon, mà tuổi thơ của tôi thèm khát tối ngày, đâu có được ăn  no như mấy gia đình giàu có...

 

Còn má tôi khi gà vừa gáy canh tư đã thức dậy rồi. Việc đầu tiên là lo đánh răng súc miệng, rồi nhúm lửa nấu cơm. Bữa cơm khuya thường khi là cá kèo kho khô, hoặc dừa cứng cại kho quẹt. Nhiều bữa ăn ngán quá, hai ông bà lại thở ra, rồi nhìn nhau ráng nuốt trong cảnh âm thầm. Còn tôi lúc đó thì cũng thức dậy học bài, có lẽ nhờ giác khuya thanh tịnh mà tôi học rất nhập tâm. Tuy rằng trong những năm học tiểu học, bữa đực bữa cái vậy mà mỗi năm đều lên lớp.

 

 Vừa lúc đó thì tiếng tù và bên nhà bà Hai Mậu cũng rút lên nghe lanh lảnh đến lạnh người, từng ánh đuốc bập bùng của vạn cấy tụ hợp lại rất mau. Ngoài đường đất tiếng người nói lao xao rất là vui vẻ. Thỉnh thoảng có tiếng xe bò của ông Bảy Hanh, Mười Kỳ chở mạ lăn bánh sắt cắt cụp nghiến trên đường. Từng ánh đuốc lá dừa rơi rớt lại phía sau, ánh lên vài cái rồi tắt nghẽn trong bóng tối.

 

Phía xa xa dưới xóm Giồng Đùi, vạn cấy của bà Ba Sàn cũng đông đúc đâu có kém thua, nên tiếng tù và cũng thổi vang lên từng chập. Rồi họ tập họp lại hai hàng dọc, để trình diện với bà như người lính trước trại binh. Mà người chỉ huy chính là bà vạn trưởng, trông cũng rất oai phong như là nữ tướng...

 

Sau một hồi kiểm điểm thì lại xuất binh, đi dưới ánh đuốc bập bùng rất là vui vẻ. Từng tiếng hỏi thăm mấy việc tủng mủng hằng ngày, dường như là họ sắp sửa đi ăn giỗ ở đâu, chớ không phải là đi ra ruộng cấy suốt ngày cực khổ.

 

Ở ngay thắt lưng họ có cột sợi dây lưng, rồi giắt cây nọc vào đó giống y cây súng lục rất gọn gàng. Trên cổ thì có quấn một cái khăn rằn, và cái nón lá thì máng hờ hững trên vai, còn chưn thì cứ bước theo người đi trước. Bàn chưn của họ sẽ đi khắp các ruộng đồng, để cấy cây mạ lên xanh mà không cần người đời biết ơn nhắc nhỡ.

 

Tiếng cười nói, tiếng phân trần cãi vã chí chóe hằng đêm. Nhờ vậy mà mấy thửa ruộng ở vùng nầy mới mong cấy sạch, để tới tháng 11-12 âm lịch thì lúa chín đỏ đồng. Công của người nông phu làm ruộng vất vả như vầy, mà nào ai có biết. Họ chỉ biết có chê khen hạt gạo thơm ngon, hoặc rẻ rúng nhúng trề, cho rằng gạo gì mà ăn khô khốc. Chớ họ có biết đâu, mỗi hột gạo là tẩm vào một giọt mồ hôi, có khi bằng máu ở ống chưn của người thợ nhổ mạ.

 

Hôm nay vạn cấy của bà Hai Mậu đi vào cấy trên ruộng của ông Chánh Xên, còn vạn cấy của bà Ba Sàn thì cấy đất của ông Bộ Tám. Thế là hai con gà nó giết nhau bằng tiếng gáy, còn con người ganh ghét với nhau bằng tánh vị kỷ mà thôi.

 

Khi hai bên cấy xổ xuống cặp bờ ranh, thì dây đất của ông Bộ Tám gặp đất gò cuốc bờ khoai ban ra không kỹ, cấy tay không được phải xuống nọc cho cây mạ được vững vàng. Bà Hai Mậu vừa nhìn thấy như vậy, liền cất tiếng hò chọc tức chơi:

 

- Hò ơ ... hỡi cô thợ cấy dưới đồng, sao cô cắm mạ đi rồi nó lại nổi lên. Cấy nọc thì phải nọc sâu. Chớ còn nọc cạn thì còn gì cây lúa của ... tôi.

 

Bà Hai Mậu vừa hò xong một câu móc họng như vậy, thì cả vạn cấy lại cười lên cái rần. Khiến cho bên vạn cấy của bà Sàn bắt đầu thấy tức, thì có một bà ứng tiếng đáp liền:

 

- Đôi khi gặp phải đất gò, nên em giương cây nọc lên chậm chạp. Tuy vậy mà khi mổ xuống cái nào cũng sâu. Nếu nhà chị ở bên đó không tin, cho em cấy thử thì sướng thấy bà đó chị ơi...

 

Nhờ hò đối đáp vậy mà họ làm không biết mệt, nên dây đất dài mút mắt mà chỉ trong một buổi đã cấy muốn xong. Nhưng còn hai vuông gần mé xẽo, thì cấy chắc là không dứt kịp. Thế là ông Chánh Xên bèn thả rề lại bà Hai Mậu, để thương lượng cho thêm ăn thằng Cuội (là giao khoán thêm mấy công cấy nữa). Không biết hai bên đã nói những gì, mà chút sau bà Hai Mậu đi lại tém cục thuốc xỉa qua bên mép, rồi nhìn đám công cấy nói:

 

- Ráng cấy lẹ lên nghen tụi bây. Ông Chánh cho thêm ba thằng Cuội nữa, ngày mai lấy số tiền đó, tao mua bắp, khoai lang, xôi, bánh bò đem theo ăn một bữa no nê...

 

Lời nói của bà ta vừa dứt, thì cái đám thợ cấy trở bộ liền. Khi cái đít sàn qua sàn lại một hồi, thì cái đám ruộng bắt đầu có mạ bỏ khắp nơi. Từng cây mạ được cấy xuống ruộng ào ào như một trận mưa sa, nhưng thật là ngay hàng thẳng lối. Cũng có bà cấy chậm, bị nhốt vào trong. Vì họ bị mạ bỏ vướng chân, nên không thể nào có đường ra cho được. Mấy khi đó thì bà Hai Mậu lại nói:

 

- Cái con nhỏ đó, tao đã dạy mầy gần mãn mùa cấy rồi mà cũng chưa xong. May mầy cấy ở đây với tao, phải mầy cấy cho bà Sàn, thì có nước xách nọc lên bờ ngồi khóc...

 

Lời của bà trưởng vạn cấy, nó nghiêm khắc như một vị chỉ huy. Nhờ vậy mà suốt mùa cấy đã có thêm nhiều thợ cấy giỏi. Trong số nầy đã có má tôi, sau nầy nghe bà nói lại là mỗi ngày phải khum lưng như vậy suốt ngày, nên cái lưng lúc nào cũng nghe nhức mỏi. Nhưng nếu qua được vài mùa cấy thì nó sẽ quen, và tay nọc sẽ vững vàng, đến chừng đó đi cấy ở đâu cũng chẳng sợ.

 

Bởi thông thường nếu là ruộng gò, thì phải cấy bốn cây thật thẳng hàng. Còn ruộng trũng thì cấy ba cây dang rộng thẳng tay, nhưng không được bẻ gãy gốc mạ, hay nhận sâu xuống bùn làm mạ bị đén đỏ đọt không phát được. Đó là bài học nhập môn, mà má tôi phải học trong mấy năm đầu, để rồi sau đó mỗi năm tới mùa má tôi da diết nhớ đồng sâu, mỗi khi trong nhà có chuyện gì làm cho má không ra ruộng được. Mấy ngày đó thì bà bứt rứt không yên, dường như đang bị cuồng giò, rồi đi ra đi vô nhìn bóng mặt trời để chực nấu cơm, còn cha tôi thì đang cong lưng nhổ từng hồi mạ khó...

 

Rồi kiếp sống nghèo nàn nơi đồng ruộng vẫn tiếp tục cho hết kiếp người.  Cha tôi ngoài việc cấy cày ra, còn phải lo đăng cá, đặt lọp, đặt nò để lo kiếm miếng ăn. Bởi ở nhà quê đâu có làm gì ra tiền mà đi chợ. Rồi tới mùa khô, cha tôi phải đi làm cá nhảy hầm, tát đìa, tháo đập để bắt thêm. Cho nên ngoài miếng ăn hằng bữa, má tôi còn phải lo làm mắm để dành ăn trong những ngày tháng tới. Nhờ vậy mà trong nhà lúc nào cũng có vài khạp mắm bổi để dành ăn, có lẽ nhờ đó mà mấy anh em chúng tôi mau lớn. Cái mùi mắm nó thơm phức không thể dùng chữ nghĩa để diễn tả được đâu, vì nó không thể trùng hợp với bất cứ mùi gì, nên khi nhắc tới mùi mắm, thì mỗi người hình dung ra mỗi vẻ... 

 

Cấy lúa xong thì tới mùa cắt cỏ, hai bàn tay của má tôi cứ ngâm nước tối ngày. Nếu cắt cỏ trễ thì lúa sẽ bị hư, nên cha má tôi ngày nào cũng vậy. Khuya gà gáy canh ba thì đã thức dậy nấu cơm rồi, trời vừa hừng đông sáng thì quảy cơm đi ra ruộng. Những bước chân trần bấm xuống ruộng sâu, làm cho mấy cái móng chưn bị cùn không mọc được, mà nó chỉ quắn vô rồi làm mũ thúi lần. Có khi má tôi phải lấy vỏ cau tươi, rồi rót dầu dừa vào kê lên ngọn đèn để đốt. Đợi khi dầu sôi, đổ vào mấy chỗ khóe móng bị hư. Vậy mà tôi chỉ thấy bà hít hà vài cái, sau đó lại cười. Có lẽ chỉ cần làm gan một chút, thì trị được nó chớ có gì đâu...

 

Khi gió chướng thổi về lồng lộng, thì cha tôi lo sửa soạn lại cây cù nèo, với giũa lại mấy lưỡi hái cho thật bén, để chuẩn bị mùa gặt sắp đến nơi. Vì đi tới đâu; cũng nghe người ta hỏi thăm với nhau, là lúa của anh năm nay có khá không vậy anh Bảy?

Thế là cây cuốc cùn lên nửa lưỡi, cái đay hơi đơ một chút được cha tôi o bế lại rất nhà nghề. Chỉ cần gỏ một lát thì mấy chỗ rỉ sét được đập ra xong, cha tôi bèn giũa lưỡi thêm cho bén rồi tra mộng vào cho chắc chắn. Cây cuốc dùng để gặt, cán của nó dài chừng bảy tấc tây thôi. Nếu tra cán dài, thì làm sao máng lên cần cổ. Bởi có những con nước rong, tràn bờ nhận ruộng lúa bị chìm. Mấy khi đó thì chỉ có gặt mò, rồi xốc cây làm vá tréo để mà gác lúa. Hoặc chịu đựng cực khổ để đắp mô, nhưng là một việc rất sơn trường. Nếu không có kinh nghiệm độn gốc rạ, thì cái mô sau đó thế nào cũng bị xẹp. Đứng nhìn ruộng lúa, cực khổ đúng một năm trời. Bây giờ sắp tới miệng mà chẳng đặng ăn, nhìn bông lúa chín rục thâm đen vì ngâm nước. Mấy khi đó thì cha má tôi chỉ biết cất tiếng thở dài, bởi mưu sự tai nhơn còn thành sự tại thiên thôi thì đành vậy...

 

Rồi tuổi thơ của tôi cũng lớn dần theo cây lúa. Tới mùa gặt tôi phải đành ở nhà đi mót. Trời mới vừa hừng đông sáng, cái lạnh như cắt vào da thịt mà tôi đã thức dậy sớm rồi. Sau đó ăn một bụng cơm no; rồi cắp cái thúng chừng 20 lít, với con dao cau mài bén để chuẩn bị lên đường. Nhờ siêng năng mà có ngày tôi mót mới cứng buổi trưa thì đầy thúng.

 

Có lẽ là nhờ lòng thương của cô bác trong vạn gặt, khi họ liếc nhìn thấy ông hay bà chủ ruộng ở xa, thì họ lấy cù ngoéo khều ra vài bụi lúa, để cho mấy công mót trẻ em như chúng tôi lặt lẹ bỏ vào thúng của mình. Bữa nào xui gặp người chủ khó, họ dòm chừng hoặc xô đuổi chúng tôi, thì ngày đó mót tối ngày mà chưa đầy thúng. Hôm nay ngồi nhớ lại viết những dòng nầy, mấy gương mặt của người vạn gặt năm xưa đã hiện rõ trong tôi, nhưng chắc không bao giờ tìm lại được.

 

Nhưng rồi với sức người lam lũ sẽ chiến thắng được thiên nhiên, khi nước kém cha tôi bắt trâu cộ về chất đầy sân, mùi lúa chín lại thơm lừng bay trong gió thoảng. Những cây lúa bó được chất lên cao phơi nắng, để đợi cái sân quét cứt trâu cho nó được khô, rồi chất lúa xây vòng để thành bã lúa. Một công việc nặng nhọc chỉ có một mình ông làm, bởi chất bã lúa coi vậy mà không dễ gì đâu. Nếu không có kinh nghiệm, thì khi trâu đạp thế nào cũng sống. Vì hạt lúa còn bị kẹt ở lại chỗ sợi dây, cho dù sau đó có lấy cây đòn xóc xảy ra cũng không bao giờ hết được. Bởi khi đánh trâu đạp lúa, thì cha tôi đã tiên liệu trước hết rồi, đánh chừng một ngày thì bã lúa sẽ thành rơm. Tới chừng đó chỉ cần trở một lần nữa, thì bã lúa đương nhiên phải chín.

 

Chính vì tiếng tăm của ông lừng lẫy, mà chòm xóm họ đi lại nhờ ông tiếp một tay, rốt cuộc lại không có ngày nào ông được nghĩ. Còn tuổi nhỏ của tụi tôi, mỗi khi nhìn thấy trăng nhô lên qua khỏi giàn mướp, giàn bầu. Thì chúng tôi hay tụ tập lại rồi chơi trò trốn kiếm, ở mấy đụng lúa bó thật là sung sướng làm sao. Vì dây lúa nầy nó nối với dây kia, chúng tôi chạy trốn như đi vào trong địa đạo. Rồi những bã lúa được cha tôi chất vào sân, phải chất đến hai từng rồi mới bắt trâu vào đạp.

 

Ngày đầu có lẻ cặp trâu chưa quen, nó cứ tưởng trên đồng. Nên cha tôi bịt mòm tụi nó lại, rồi lấy cái mê thúng để gần bên. Khi đánh trâu đi thấy cái đuôi của nó võng lên, là biết con trâu đang mắc ỉa. Thế là tiếng hô họ ... họ lại vang lên, để ra lịnh cho cặp trâu dừng lại. Má tôi phải xách mê thúng chạy vào, kê vào hứng với gương mặt vui tươi. Bữa nào hứng không kịp, thì nó ỉa ra cho một đống...

 

Mấy khi đó thì cha tôi lại mắng yêu, như rầy sắp nhỏ trong nhà. Bởi vì đôi trâu là cái bóng của ông, nếu thiếu nó thì chắc là khổ lắm. Rồi ông đứng nhìn bãi cứt còn bốc khói, dường như ông đã nghe được mùi cỏ mục trên đồng, mà thường vào khoảng tháng 5 khi mưa giông sa xuống. Ông đã vác phảng đi chém những công lác ngập lúc đầu. Sau đó bắt đôi trâu bừa cho giập để cấy hái kiếm hạt cơm. Một chén cơm; phải đánh đổi biết bao nhiêu gian nan cơ cực, mà một đời nông dân phải gắn chặt xuống ruộng cày. Nếu làm biếng, hay bịnh hoạn thì năm đó chắc phải nhịn đói nhăn răng. Nên mỗi chiều khi trời sẩm tối, ông lo làm một cái đống un, để un muỗi cho cặp trâu dễ ngủ. Có khi ông cũng cầm hầm, nhưng phải biết kinh nghiệm giữ trâu. Vì nếu nó không quen, sợ dãy dụa bị rủi ro quấn dây mũi buộc vàm rồi chết ngột...

 

Cặp trâu cổ của cha tôi hết sức nhọc nhằn, cày bừa cấy hái xong nghỉ ngơi vừa lại sức. Tới tháng nầy phải lao vào đạp lúa, tuy đạp lúa không nặng nhọc bằng cày. Nhưng nếu đánh trâu không kinh nghiệm, thì móng bị sút như chơi. Vì một mùa lúa của cha tôi, không trúng lắm thì cũng gần 170 giạ. Nên đạp cũng phải mất hết cả nửa tháng trời, rồi lấy bồ cào xốc lên để quét cho sạch bụi, và vé lúa khi trâu đạp nó bị gãy ra. Xong xuôi đâu đó, cha tôi biểu má tôi và mấy anh em tôi bưng lại đổ vào xa quạt. Để cho ông quạt ra giê sạch bụi vé và lúa lép bay ra ngoài. Thỉnh thoảng ông lại bốc nắm lúa lên coi, rồi lim dim đôi mắt tưởng chừng như mãn nguyện. Khi nghĩ tới nồi cơm gạo mới đầu mùa, nó sẽ thơm ngon và dẻo ngọt cho coi. Mà hôm năm rồi ông đã lặn lội lên tới Châu Hưng, để nài mua được mấy giạ đem về làm giống.

 

Đạp hết lúa nhà, thì cha tôi đánh trâu đi đạp mướn. Rồi những cây rơm thật lớn, vắt cao lên ở sau nhà. Để cho cặp trâu cổ nằm nhơi, và cũng là một nơi cho bầy gà tụ lại bươi kiếm thóc. Còn tôi thì cũng có khi, lén trốn đi ra chợ ngoài coi mấy gánh hát Sơn Đông Mãi Võ tới quá nửa đêm. Khi về khuya quá không dám kêu cửa, nên chui vào đống rơm ngủ một giấc thật ngon lành. Ở nhà quê; nếu nhà nào không có dí bồ lúa, hay vắt một cây rơm chắc là buồn thảm.

 

Bởi cây rơm và bồ lúa, là hai vật thể để nói lên sự sống trong xã hội hiện thời. Cho nên thông thường mấy người giàu có, thì có tới mấy cây rơm. Còn cha tôi suốt đời chỉ có một cây rơm vừa đủ, để cho ông cột đôi trâu vào đó nhơi cỏ trong những buổi trưa buồn. Hoặc thảng khi nào ở không, ông xách cuốc đi vô rẫy, đào rắn, đào chuột, đuổi chim chằn nghịch, óc cao, vỏ vẻ, gà nước bắt đem về nhổ sạch lông, thui thêm một bận nữa cho da của nó chảy mỡ thật vàng, rồi xào lăn hay là nấu cháo...

 

Những ngày thơ dại đó, đã cho tôi một kỷ niệm quý giá sau nầy. Khi lớn lên cho dù có sống ở đâu, tôi cũng luôn nhớ tới. Bây giờ đã qua bao nhiêu năm dâu bể thăng trầm, có ai còn để tâm nhớ lại chuyện ngày xưa. Như vạn cấy, vạn cày, vạn  gặt. Vạn vần công đổi công làm suốt mùa với sức lực đôi tay, để mang hạt lúa về tới nhà với biết bao nhiêu là mồ hôi nước mắt. Vậy mà có kẻ vong ân, không bao giờ biết quý trọng hát lúa của mình, khi ăn còn trề ra nhúng vô cho rằng gạo gì mà cơm không dẻo...

 

Ngày nay có lẽ không ai còn nhớ đến những chuyện khổ cực ở làng tôi. Bởi bây giờ con lộ đất đã được trải nhựa hết rồi, những chiếc xe Honda chạy ào ào trong nắng sớm. Chớ họ đâu còn thấy từng cỗ xe bò, bước đi nặng nhọc dưới đường làng, chất đầy một xe mạ nước nhểu ròng ròng theo từng bước chân đi. Bởi bây giờ họ đã sạ lúa Thần Nông, tuy mùa vụ có trúng thật, nhưng hạt cơm không còn thơm mùi châu thổ nữa.

 

Còn con rạch Cả Muồng nước đục phù sa, ngày hôm nay đã bị mấy ông Nông Nghiệp bắt dân đắp lại rồi. Không biết tới khi nào họ mới cải tạo được ruộng phèn. Chớ trước mắt thì chất phèn dội lại, làm chết cây quéo lớn đầu làng tan nát tuổi thơ, mà ngày xưa mỗi khi có mưa giông, thì chúng tôi hay tụ tập lại để chờ lượm trái.

 

Những trái quéo nó giống như trái xoài mủ hiện giờ, nhưng nó thiệt chua. Vậy mà tuổi nhỏ của tôi ăn ngon hết biết. Có lẽ nhờ vậy mà mấy đứa con nhà nghèo như tụi tui, mới có đủ Vitamine C nuôi dưỡng trong người. Để rồi mấy chục năm sau, tôi mới có dịp về lại quê nhà.

 

Khi hay tin, là cây quéo đã chết. Tôi đứng thừ người một lúc thật lâu, sau đó lặng lẽ xách cái máy chụp hình đi lại chụp vài pô, trước khi làng xã người ta bắt dân hạ xuống. Một cây cổ thụ có đến hằng mấy trăm tuổi, vậy mà người ta không chịu giữ gìn. Người ta hạ nó  như đốn một cây củi vậy thôi; chớ không có gì luyến tiếc!

 

Bây giờ thì điện đuốc họ đã giăng mắc tới ngoài đất Cả Muồng. Những ông già nhổ mạ, đập bồ cày bừa ngày xưa không còn nữa. Mà đã thay vào đó những ông già khác, với cuộc sống đua đòi một cách khốc liệt hơn. Khi họ ngồi uống trà, hay uống rượu mà họ đang mơ ước một chân trời viễn mộng xa xôi, gả đứa con gái cho tụi Đài Loan, hay Đại Hàn để cho con báo hiếu. Bằng vài lượng vàng, hoặc mấy trăm đô la để cho họ mua sắm chiếc xe Honda cỡi đi ăn giỗ, hay là xây lại một cái nhà tường mà trong xóm đang bắt đầu rục rịch từ mấy năm nay, khi họ thấy được vài đứa lấy chồng Đài Loan  rồi trở về đây với bề ngoài sang trọng. Chớ họ có biết đâu bên trong là một cuộc sống buồn, bởi làm sao cho bằng được sống ở quê hương, khi tới tháng chín âm lịch để hứng mùa gió chướng.

 

Bất giác con cu đất sau hè gáy giọng buồn, thì ra hôm nay là tháng bảy lễ Vu Lan. Ngày nầy hồi xưa tôi đang lội trong ruộng mạ, từng nắm mạ được tôi thảy xuống cho vạn cấy bắt công. Thế mà ngày hôm nay tôi nói ra tưởng chừng như cổ tích, không biết rồi đây con cháu hay những người trong làng, trong xã họ còn có nhớ tới chuyện nầy. Hay là họ đang nhớ tới chiếc Honda, hoặc những chiếc xe hơi 12 chỗ ngồi đang chạy lên sân bay Tân Sơn Nhứt Sài Gòn chờ rước Việt kiều. Chớ đâu có ai còn để ý coi con nước rằm nầy có lớn nhảy bờ hay không, để còn kêu công mạ, công cấy về cấy giống lúa Phụng lùn như cha ông thuở trước.

 

Chỉ có tôi đang thao thức với nỗi buồn xa vắng mênh mông, khi ngồi đây mà nhớ, mà thương những ống quyển của người nông dân khai phá đất, phá rừng. Trong đó có ông quyển của cha tôi, một ống quyển cứng như đồng, nhổ hết mùa mạ nầy tới mùa mạ khác mà chẳng hề than. Thỉnh thoảng ông lại nhắc tôi lên hạo thử coi mầy nặng được bao nhiêu, để rồi chừng vài năm nữa tao đi lo vợ. Hoặc lo đi bổ thang thuốc dầm, về ngâm rượu rồi phơi sương. Chớ còn không thì mầy cũng lỏng bánh chè, cũng như bao đứa thanh niên khác trong làng hả Tụi...

 

Ôi bổn phận làm cha làm má ngày xưa sao quá sức nặng nề. Ngoài việc thức khuya dậy sớm cho đàn con bú móm ra, còn phải chịu cảnh làm dâu thật là vất vả. Có lẽ nhờ lễ nghi trói buộc như vậy, mà tình nghĩa tào khang nó mới vẹn bền. Còn bây giờ giận một chút thì họ sẽ nghĩ tới ly thân. Chớ đâu còn nghĩ tới cảnh tay ắp mặn nồng, chồng giận thì lại khuyên lơn như ông bà của mình đã từng dạy dỗ./-

                                                                       

Phùng Nhân