ÔNG CẢ CẦM CHẦU
Phùng Nhân
Mấy năm nay dân ở
trong xã Lộc Thuận nầy làm ăn khắm khá, cho nên
ông Hương Cả trong làng mới nghĩ tới
việc cúng đình. Trước là cầu cho quốc thái
dân an, sau nữa là cũng nở mặt nở mài cùng làng
nước.
Thế là vừa bước
qua tháng giêng, là mấy ổng gióng trống chầu lên
hội họp. Để còn sắp đặt dân chúng trong
làng, người nào phụ trách việc mần heo.
Người nào lo đi mượn ghế mượn bàn,
vì phải có rước gánh hát bội về hát cúng đình
ba ngày ba đêm còn phải bao ăn bao ở.
Sau hai kỳ bàn thảo, thì
trong ban hương chức hội tề đồng
nhứt quyết với nhau. Giao cái vụ đi đi
rước gánh hát cho ông Lý Thân lo liệu, thế là ông Lý
Thân phải tức tốc đi lên tận Sàigòn, để
liên lạc với gánh hát bội Thái Đồng Ban.
Nhưng vì lên trễ, nên gánh nầy đã ký hợp
đồng đầy hết chỗ.
Thế là ông Lý Thân lở
cổ, không biết phải làm sao. Thời may vừa lúc
đó, có kép Hoàng Núi đưa tay ra cứu vớt. Số là
kép Hoàng Núi ỉ ôi ngon ngọt, là hiện tại anh ta có
quen một số đào hát với kép hát cũng thuộc
diện gà nòi. Chỉ cần thoa son trét phấn lên thôi, thì
tổ nhập sẽ hát không thua bất cứ kép nào trên sân
khấu. Cho nên ông Lý Thân mặt mày hớn hở, rồi
rủ kép Hoàng Núi đi vô đình Minh Phụng kiếm cái gì
làm bậy lai rai. Chớ hỏng lẽ đi lên Sàigòn
rồi về tay không thì coi sao được. Cũng
bắt đầu từ bữa đó trở về sau, kép
hát Hoàng Núi với ông Lý Thân là hai người tri kỷ.
Từ trên Sàigòn về tới
xã, ông Lý Thân bèn xin phép ông Hương Cả, để
bắt dân trai tráng trong làng làm xâu. Lớp thì chèo ghe đi
cặp theo mé sông, thấy bụi dừa nước nào
bất luận của ai cũng đều chặt
xuống. Rồi họ xé ra làm hai, sau đó chở về
nơi sân đình phơi khô đặng mà dựng rạp.
Còn người nào già cả, thì ông bắt phụ chẻ
củi ra phơi, nên không khí cúng đình có mòi nhộn
nhịp...
Rồi ngày rằm tháng ba
cũng tới, tiếng trống chầu lại nôn nả
gióng lên. Một giàn học trò lễ mặc áo mão xênh xang,
đi rước sắc thần từ nhà ông Cả ra
đình rất là uy nghi long trọng. Bởi vì theo lệ
thường, sắc thần thì phải để ngoài
đình. Nhưng có lẽ ông Cả sợ có kẻ trộm
vào chôm, nên cứ ôm về nhá bỏ vào tủ cất cho nó
chắc...
Mặc dầu sắc đình
thần nầy, phần đông dân chúng cũng không biết
thờ ai. Bởi vì mấy ông Hương Cả, ông
Bồi, ông Bái trong làng họ lo giữ cái đó còn hơn là
đồ gia bảo. Cũng chính vì lẽ đó mà lâu lâu
trong xã lại rộ lên, có ông thì nói đó là thờ thần
Quan Công mặt đỏ. Có ông cãi lại, nói đó là
của tụi Tàu, mắc mớ gì lại thờ cúng ở
đây. Nhưng năm nay ngặt nỗi, có mấy ông
đang nhậu ở trong xóm đầu Giồng đem ra
bàn cãi.
Ban đầu thì có
người nhứt định, cho rằng sắc
thần đó là thờ quan kinh lược Phan Thanh Giản
đó chớ ai. Có người thì hả họng ra cãi
lại, cho là đang thờ tả quân Lê Văn Duyệt.
Rốt cuộc lại thì cũng huề, bởi gì nếu
có giở hộp ra coi, thì cũng chưa chắc gì có ông nào
nói trúng. Bởi sắc thần thường là của vua
phong, cho nên viết bằng chữ nho với mực tàu, thì
mấy ông nầy làm sao mà hiểu. Ngay như cái chữ
quốc ngữ mà còn đọc không ra, thì nói làm chi cho
tới chữ hán, chữ tàu thật là lộn xộn.
Nhưng nhậu mà không có chuyện gì để nói, thì nó
sẽ mất vui. Thành thử trong trong tiệc nhậu nào
cũng như chệt chìm tàu, lâu dần rồi nói cũng
quen. Có lẽ nhờ vậy, mà người ta mới có
dịp ôn cố truy tân. Chớ còn không thì thời gian trôi
qua, mọi thứ sẽ bị chìm vào trong quá khứ...
Cãi cho đã một hồi thì
mấy ổng cũng lăn quay, bởi vì rượu
đế ở xóm đầu giồng nầy từ
xưa tới nay nổi tiếng. Chưa có trận
nhậu nào mà nói không say, bởi nếp giống Phụng
Lùn, mà gặp cái lò nấu rượu của bà Bảy Biên,
thì bọt rượu sùi lên phải biết. Nhưng
được có một cái, là mấy ông thần nầy
dễ chịu, la ó cự cãi một hồi rồi cũng
thôi. Chớ không có cái cảnh giận lẫy giận
hờn, hay rầy lộn rồi sanh ra ấu đả...
Đang ngồi nhậu ngon
như vậy, mà có thằng Từ Quy là một thằng láu
cá từ trước tới giờ. Nó lại mở
miệng nói tỉnh bơ, là vài bữa nữa tới ngày
hát cúng đình. Nó sẽ cho mấy ông Bái, ông Bồi, ông
Cả nầy hửi cứt chơi một bữa. Chớ
không thì mấy ổng cứ tưởng mình ngon, có bao nhiêu
cô đào hát về đây mấy ổng cũng đều
giành hết...
Trước câu nói xanh dờn
của thằng Từ Quy quá ư hỗn xược, có
người thì vốn đã ghét mấy ông hương
chức hội tề nầy từ trước tới
nay, nên ngước lên hỏi móc:
- Bộ mầy muốn
chết hả? Mà định chọc ghẹo tới
mấy ổng đây. Chớ tao thấy cái bộ tịch
mầy mà dám bước lại gần, thì tao cũng rán
cõng mầy đi chơi chớ đừng nói gì mà cho
hữi cứt.
Nhưng thằng Từ Quy
nầy lại cười cục cục, rồi nói
chắc như đinh đóng cột:
- Ậy ... mấy ông
đừng có thách. Tới chừng đó sẽ coi. Tôi
đã nói mà không dám làm, thì sau nầy mấy ông gặp
mặt tôi cứ việc kêu tên cha của tui ra mà chửi.
Cuộc nhâu như vậy
cứ tiếp tục bày ra, mồi mỡ tuy chẳng có gì,
chỉ có mấy con cua luộc vậy mà họ nhậu hoài
không hết. Bởi dân nhậu, họ thường hay
giữ ý với nhau. Nếu thấy người nào gắp
mồi hao quá, thì họ bắt đầu nói xăm cho bõ
tật. Có lẽ nhờ vậy mà ở nhà quê mấy ông
thần rượu nầy, nhậu thì nhiều chớ
ăn chẳng có bao nhiêu, nên đến khi trở về già
bao tử của ông nào cũng đều bị lủng
hết.
Làm xây qua thêm vài quận
nữa, thì Sáu Nheo nói:
- Năm nay chắc ông Cả
cũng cầm chầu nữa chớ có ai được
lọt vô. Nếu cô đào thương mà ngó ổng
liếc mắt đưa tình, thì ổng quánh cho một dùi
trống thưởng. Còn làm mặt chảnh, thì ổng đánh
vào tang trống để tỏ dấu phạt đó
biết hông. Có lẽ nhờ cái oai phong của trống
chầu như vậy, mà mấy đào kép hát bội họ
đều sợ ông Cả vậy thôi một mực...
Cả bàn nhậu lại nhao
nhao lên, khi nghe Sáu Nheo nói lên một điều rất là
kỳ lạ. Bởi đang hát mà cô đào hay anh kép,
biết được là mình được thưởng
lúc nào. Nhưng lúc đó thì có ông bầu gánh, đang
đứng ở phía cánh gà để mà ghi chép. Bởi vì
theo tục lệ, nếu viên hát cúng đình nào mà
được đánh trống thưởng nhiều, thì
đến khi lui ghe ông Cả cũng có thưởng cho vài
chục giạ lúa công nho, cũng chính vì thế mà mấy
ông Bầu gánh mới siêng năng ghi chép. Chớ còn không thì
mắc mớ gì, bởi hát bội tuồng nào cũng hát
tới gà gáy canh ba, còn nếu nhận lớp vãng sớm thì
bị ông Cả kêu ra làng chữi mắng.
Còn mấy ông hương
chức hội tề trong làng, chỉ có ông Cả là
người nắm trọn quyền thế trong tay, cho nên
ông Cả muốn cái gì mà không được. Còn cái
chức ông Bái, ông Bồi chỉ dùng trong lúc cúng tế mà
thôi. Bới mấy cái chức đó, không có dính tới tráng
đinh, hay huê lợi công nho như điền thổ.
Cũng chính vì thế mới
có câu một miếng thịt làng,
bằng một xàng thịt chợ là vậy. Cho nên ông Cả nào cũng khoái cầm
chầu, phải có như vậy cái chức mới oai, còn
không thì dân chúng trong làng đâu có ai mà sợ. Hễ dân càng
sợ, thì cái chức càng cao. Vì thế mà cũng có ông,
cứ tranh giành cái chức nầy hoài, rốt cuộc
lại mấy trăm mẫu đất của cha ông
để lại, đều đem cầm thục cho
mấy thằng Chà Và (Java)ø hết trọi. Tới
chừng đó mới kịp sáng mắt ra, nhưng đã
trễ rồi. Bởi bài học ở đời nào,
gẫm ra cũng đều đắc giá...
Cuộc nhậu rồi
cũng tan hàng, thằng Từ Quy đi về lo kiếm
một cây roi tre dài chừng năm tấc. Rồi
đập giập cho nó tơi ra, rồi đem phơi nắng.
Sau đó nó lại nhún nước, rồi lại đem
phơi. Nó làm như vậy đến năm sáu lần, cho
đến độ ngọn roi tre mềm dịu quơ
vào đâu thì dính đó...
Trong lúc đó thì gánh hát
bội Thái Đồng Ban đã xuống tới rồi, ông
Cả phải thân hành đem gởi bớt ở nhà dân. Vì
nơi căn nhà Võ Ca của cái đình không đủ
sức chứa. Ở đó chỉ chứa toàn là mấy
đứa khiên rương, với mấy đứa
chạy cờ hiệu hay làm quân sĩ, với mấy ông
mấy bà đi theo đặng lắc bầu cua. Vì cái
nghiệp đi theo hát, chỉ có người nào
được tổ đãi mới bước lên sân
khấu. Còn không thì chỉ có phụ hợ để
kiếm cơm, hoặc lắc bầu cua hay làm một
thằng láu cá...
Trời tháng ba âm lịch, cánh
đồng nơi xã Lộc Thuận nát rạ chuột
đồng mập ú thiếu gì, chỉ cần chịu
cực xách cuốc lội vô bờ lức đào một
lát mặc sức mà mang, nên mấy đứa trong gánh hát
bội nầy ngày nào cũng mê đi đào chuột.
Có đứa lại đi
theo mấy đứa địa phương, đi ban mô
hoặc giở rạ nát lên bắt nhái. Có đứa
lại đi theo long dưới xẻo, hoặc
dưới con rạch Lộc Thuận bắt cá bóng sao, cá
thòi lòi. Nhờ vậy mà cũng đỡ đi tiền
chợ, phần bà con ở trong xã nầy từ
trước tới nay họ rất thương yêu đào
kép về hát bao giàn, nên họ rộng rãi bao ăn. Thành ra
việc ăn ở nơi đây không tốn kém. Có khi
lại kiếm được cha nuôi, tới khi gánh hát lui
ghe về xứ còn được ông già nuôi gởi theo quà
cáp. Thế mới biết người dân nhà quê, họ
rất rộng rãi với miếng ăn. Hễ dư
dả thì họ chia sớt với nhau, chớ không keo
kiệt như dân trên thành phố.
Rồi ngày rằm tháng ba
cũng tới, từng chiếc xe bò đi quảng cáo cho
đêm hát cúng đình từ ngoài chợ vô tới trong
lộ đá rần trời, đi tới đâu thì con nít
lại bu theo. Vì đâu có mấy khi mà tụi nó thấy
được một ngày vui như vậy. Còn mấy bà
mấy cô thì lo đi nạo dừa, để thắn
dầu mà xức lên đầu tóc cho nó mướt với
người ta. Vì cả tháng nay mắc đi thụt cá kèo,
thụt lịch, thụt lươn mà để cái
đầu mốc thít.
Trong khi đó thì tại nhà ông
Cả đã nhóm họp đủ mặt hương
chức hội tề, ông nào cũng được phân
công. Rồi mấy con heo đã mua sẵn trước
đó rồi, chỉ còn đợi tới ngày cúng đình
thì bắt chở ra mần thịt. Có lẽ nhờ lễ
lạt như vậy, mà truyền thống dân tộc
mới được giữ gìn, chớ còn không chỉ
chừng vài đời sau thì mọi văn hóa đình làng
nầy sẽ không còn nữa.
Cái trống chầu
được người ta khiêng xuống, rồi lo lau
bụi cho nó sạch trơn.
Nhưng ngặt nỗi nó đã bị lủng bể
một đầu mà chưa bịt lại. Nhưng ông
Cả lại nói không sao, để hát xướng xong, tao
sẽ xuất tiền công nho ra đi bịt lại.
Chớ còn ngộ bất cập như vầy, thì đem đi
bịt nó không kịp nữa đâu. Bởi miếng da trâu
ngoài việc đem thuộc cho nó mềm ra, đến khi
bịt trống người thợ còn phải căng ra,
rồi đem phơi nắng tớ nhiều lần thì
mới thẳng...
Không biết sao từ
trước tới giờ, mấy ông Cả trong làng
lại khoái cầm chầu, mà chỉ đánh trống thưởng
cho mấy cô đào không. Chớ còn mấy ông kép, cho dù có hát
la ứ ứ mỏi miệng múa mỏi tay, vậy mà ông
Cả không thèm đánh trống thưởng cho một tiếng.
Đó là một cái tật rất lớn của mấy ông
Cả từ trước tới giờ, cho nên mấy cô
đào hát bội nào cũng biết trước hết
trơn. Hễ mỗi lần bị rước đi hát
bao giàn như vầy, thì phải liếc mắt đưa
tình với ong Cả để sang năm sau còn hát tiếp
nữa.
Còn cái gánh nào mà đào kép không
biết nịnh bợ cầu thân, cho dầu có hết lòng
hát xướng bao nhiêu, thì cũng bị mấy ổng chê
rồi năm sau không thèm rước nữa. Bởi cái
đời hát bội thì sống nhờ mấy cái đám
cúng miễu cúng đình, chớ còn bình thường hát
ở rạp hát đâu có ai coi. Có bữa bị lỗ
vốn, ông bà bầu không chịu phát lương, mà cái
bản mặt còn dài ra cả khúc. Nhưng hát bội thì
đã có tổ nghiệp đàng hoàng, người nào đã
lở đi theo rồi thì không thể tháo lui. Nếu có
bỏ gánh trở về nhà làm nghề khác, thì tới
rằm tháng ba cũng phải trở lại nhập gánh hát
vài tuồng để gọi là trả ơn cho tổ
nghiệp.
Cả làng Lộc Thuận
năm nay lại xôn xao, vì nhờ mưa thuận gió hòa cho
nên ban hương chức họ tính cúng đình rất
lớn. Bao giàn gánh hát nầy hát tới ba đêm, đêm
đầu thì hát tuồng Phàn Lê Huê Giải Giá Thọ Châu, đêm
thứ hai thì hát tuồng Thần Nữ Dâng Ngũ Linh
Kỳ, đêm thứ ba thì hát tuồng La Thông Tảo
Bắc. Phải nói dân ghiền hát bội, chỉ cần
nghe nhắc tới tên tuồng thôi, thì cũng đủ
biết nó hây tới cỡ nào rồi. Bởi vì ba tuồng
hát nầy là dòng lịch sử chánh mạch lịch sử
của bên Trung Quốc. Có người rành truyện tàu,
họ tiếc rẻ phải chi ông Cả bắt họ hát
tuồng Tam Quốc Chí chắc là hây. Bởi chỉ có nghe
nói tới lớp Quan Công Phò Nhị Tẩu thôi cũng
đã. Vì khúc đó sẽ có Trương Phi, dựng
đứng hàm râu én hét lên tại cầu Trường
Bản...
Từng tiếng trống trên
chiếc xe bò của ông Bảy Hanh đi quảng cáo
rần rần, xe bò đi tới đâu thì con nít bu theo
tới đó. Bên cạnh đó còn có một người
đeo mặt ông địa đi theo, còn đứa quánh
trống thì nó cũng mặc bộ đồ võ ngó coi
rất ngộ. Khi chiếc xe bò đi hết một vòng vô
tới ngã tư, thì nó quẹo xuống xóm Giồng Đùi,
rồi bọc ra chỗ trường học sân banh trở
về đường cũ.
Phải nói quốc thới
dân an là những ngày nầy, chớ còn mấy ngày khác thì nói
làm chi. Bởi đâu có cái cảnh nào vui cho bằng cảnh
đi rao tuồng hát. Trong lúc làng xã họ lo sắp
đặt chỗ để dựng rạp hát ba ngày, còn
thằng Từ Quy nó lo đi bắt một mớ cua
lột ốp na. Bởi nó nghe mấy người lớn
nói lại, là loại cua nầy luộc vừa chính tới
để nguyên như vậy ăn chừng năm sáu con
thì bị xổ vậy thôi sạch ruột...
Dường như thằng
nầy quyết lòng muốn ỉa chảy hay sao, mà đi
tới đâu nó cũng làm bộ than hơi, nói rằng
cả tháng nay không biết ăn nhầm thứ gì mà bị
bón. Đến khi nó gặp ông Hai Thạnh đi nhóng
ếch mới về, ông nầy là loại dân chơi, nên
việc gì ông ta cũng đều biết hết. Từ
việc mấy món thuốc nam để giúp bà con trị
cảm cúm sơ sài, cho tới môn thuốc trị chứng
bịnh sản hậu cho mấy bà ghen, ông ta cũng
biết rành mạch như là thầy thuốc.
Sau một màn chào hỏi, móc
bì thuốc giồng ra vấn bập như một thói quen,
thì ông Hai Thạnh mới rủ thằng Từ Quy về
nhà nhậu chơi vài xị. Vì mới vừa nhóng
được cả chục con ếch bà chớ bộ ít
sau, thôi thì tao chịu mồi, còn mầy thì chịu
rượu. Thế là một già một trẻ, đi
riết về xóm cây da. Trong lúc ông Hai Thạnh giở hom
giỏ ra bắt ếch để làm, thì thằng Từ
Quy xách chai lít đi đổ đường lại nhà ông
Tám Bừng mua rượu đế.
Phải nói ếch tháng nầy
nó rọt xuống đìa, thịt mập lút mà lại
rất ngon, được ông Hai Thạnh ướp
sả ớt, muối đường cặp gắp
nướng lửa than đến khi chín vàng bay mùi thơm
phức. Thằng Từ Quy nó rất là điệu
nghệ, nó lấy con ếch chín vàng, rồi nó bẻ
lấy cái tay trên, rồi bỏ vô chén ông Hai Thạnh lễ
phép nói:
- Ăn trước một
miếng bổi, rồi hãy nhậu đi chú Hai. Chớ còn
chú mà nhậu khan, thì ruột gan sau nầy thế nào
cũng sanh ra chứng bịnh bèo bọt đó...
Ông Hai Thạnh nhìn nó, rồi
cười nói lớn:
- Thằng nầy coi vậy
mà chơi được. Biết kẻ lớn
người nhỏ đối với qua. Chớ còn có
đứa vô lễ lên ngồi, nó chỉ có biết ăn
chớ không cần biết tới người trên kẻ
dưới. Rồi ông ta nói tiếp:
- Như mầy đây cũng
là một đứa sành đời, biết cách ăn
uống nữa đây. Ăn thịt ếch, mà ham ăn cái
đùi thì coi như trật sách. Bởi cái đùi thịt
của nó xảm chớ ngon lành gì, chỉ có tay
trước của nó vừa thịt lại vừa gân,
răng cỏ còn đủ nhai giòn như tao thì mới đã...
Nói xong một câu đắc ý
như vậy, rồi ông ta lại hả miệng
cười vang. Bởi vì cả tuần nay mà chưa có
nhậu, nên ông ta với thằng Từ Quy làm vực
xuống nửa lít hồi nào mà cũng chẳng hay. Tới
chừng thằng Từ Quy lè nhè than bị táo bón, thì ông ta
cười khè khè nói lớn:
- Tưởng cái gì mầy lo.
Chớ việc táo bón là chuyện nhỏ. Một lát
nhậu xong, đi ra sau hè tao bứt cho mầy một
nắm đọt lá muồng trâu, đem về nhà mầy
bỏ vào nồi cơm hấp chín, ăn rồi tới
sáng mầy xách quần chạy ra bờ còn không kịp
nữa.
Nghe tới cái màn đi xổ
sạch ruột, thằng Từ Quy nó chíp trong lòng, nên
bưng ly rượu lên uống cạn để xuống
rồi hỏi:
- Mấy bữa rày họ bày
tui, đi bắt cua óp na về luộc ăn luôn cứt
đái của nó thì bị xổ. Như vậy có đúng
hôn, vậy chú Hai?
Ông Hai Thạnh cười om
sòm một hồi, rồi nói:
- Họ nói bá láp như
vậy mà mầy cũng tinh nữa hay sao, muốn cho
sạch ruột thì chỉ có đọt muồng trâu,
đây là món thuốc gia truyền của ông già tao
để lại. Chớ còn ăn luôn cái bọng đái
của con cua óp na, thì nó chỉ làm cho mình chột bụng
thì sôi ruột vậy thôi. Chớ còn muốn cho nó xổ,
thì phải là ăn đọt lá muồng mới
được.
Từ đó trở về sau
thằng Từ Quy nghe khoan khoái trong lòng. Bởi nó đã
dốc lòng muốn phá ông Cả, với mấy cô đào hát
nầy hửi cứt một bữa cười chơi,
nên nó cứ xem ông Hai Thạnh như là sư phụ.
Nhậu bứt một lít rượu rồi nó mới
lảo đảo về chòi, còn ông Hai Thạnh thì đi lên
võng làm một giấc mê mang, đó là một cái tật
của người nhậu rượu từ trước
tới nay thường là vậy.
Rán lết về tới chòi
thằng Từ Quy còn cười mỉm một mình,
bởi vì mồ côi nên tứ cố vô thân. Chỉ có rán
cất nổi cái chòi để làm nơi đục mưa
đục nắng. Hễ tới mùa nhổ mạ, thì
đi nhổ mạ nuôi sống qua ngày, còn tới mùa
gặt thì xách liềm đi gặt kiếm cơm. Nhưng
được có cái thằng nầy rất là rắn
mắc, trong đầu lúc nào cũng muốn nổi
loạn âm thầm, làng xã thì nó nhìn với cặp mắt
nghi nan. Vì trước mắt nó, thì đâu có ông làng xã nào mà
đạo đức.
Không biết sao năm nay nó
lại có ý nghĩ gì kỳ, phải cho mấy ông làng xã
nầy hửi cứt mới thôi. Bởi vì trong cuộc
đời của nó, đã bị mấy ông Cả trong làng
xỉ vả đánh đập chửi mắng rất
nhiều lần, nên càng lớn nó nhìn mấy ông Cả
bằng cặp mắt thù ghét chớ không bao giờ
thiện cảm.
Rồi thằng Từ Quy nó
canh đúng ngày 14, là nó đi xuống nhà ông Hai Thạnh xin
hái một nạm lá muồng cầm về, rồi nó
rửa sạch bỏ vào nồi cơm hấp chín. Đợi
tới trưa bụng đói, nó lại ăn vô. Chừng
vài giờ đồng hồ sau, nó nghe đau nơi
bụng dưới. Thế là nó lại mỉm cười,
vì đó là triệu chứng sắp sửa đi cầu
đây, nên nó lo lấy một cái gào để sẵn,
rồi nó xách quần chạy ra cục gò ngồi ỉa.
Quả thật lá muồng
trâu là một phương thuốc xổ như thần,
bao nhiêu cứt đái trong ruột được tuông ra.
Nhưng thằng Từ Quy chỉ lựa lấy khúc nào, mà
nó cho là bay mùi nặng nhứt. Thế là nó khoan khoái âm
thầm, rồi cầm cái gào cứt đem ra chỗ
nắng để phơi, vì cái món đó phơi nắng
giốt giốt thì bay mùi phải biết...
Rồi nó đi lẹ làng ra
cây ổi, lặt một nắm lá non, đem vô chấm
muối ăn một hồi thì cầm ỉa. Phải nói
thằng nầy tuy dốt nát, mà trời phú cho nó một
sự thông minh, nên việc gì nó nhìn qua một hồi thì
học lóm.
Xong xuôi cái màn ỉa đái
đó, nó bèn lấy cây cuốc đi xuống triền
giồng, đào bắt cả mấy chục con dế
cơm, nhưng phải lựa những con dế cồ hai
cánh thật già, để khi gặp chuyện nó còn nhảy
búng lên cho lẹ. Rồi nó bắt mấy con dế nầy
bỏ vào trong cái giỏ, sau đó đi bứt một
nắm cỏ mật cho ăn. Mấy con dế cơm
nầy, gặp cỏ mật non ăn vô một hồi còn
xung dữ nữa.
Mặt trời vừa ngã
về tây, con đường đất cát từ nơi
đầu giồng đi ra tới chợ người ta
đi dập diều không biết bao nhiêu mà kể.
Người nào giàu có, thì áo sóng thướt tha, còn
người nào nghèo khổ thì bận quần tiều
đi coi hát cũng được. Riêng thằng Từ Quy
thì nó đã tính trước, nên lựa một bộ
đồ vải xiêm tương đối còn lành. Rồi
nó bắt hết mấy chục con dế cơm bỏ vào
trong cái hộp giấy mà nó vừa mới dán xong, còn cây roi
thì nó nhét vào trong kẹp nách bước đi không ai ngó
thấy. Nhưng còn ngặt có cái lon cứt nó không biết
phải làm sao, cuối cùng nó kiếm được một
tấm giấy dầu rồi lấy sợi dây bịt
lại.
Thế là nó cười
tủm tỉm, với đủ thứ đồ nghề
để hại ông Cả một bữa cười
chơi. Nó định bụng đi ra hơi sớm
một chút, để rồi còn phải lỏn vô chỗ
hậu liêu. Chỗ mà đào kép máng râu ria aó mảo. Sau
một hồi làm quen với một người gánh hát, vì
nó có xách theo một xâu chuột lột da sống phơi
khô, nên thằng kép hát sau khi lấy cất rồi coi nó
như là một đứa thân tình, rồi dắt nó đi
vô hậu cung chỉ chỏ.
Thằng Từ Quy cố ý,
làm bộ đứng cà ngơ. Còn thằng kép hát thì cứ
tơ tưởng mấy con chuột nảy giờ,
đem cặp gắp nướng lửa than một lát
ăn cơm rất là đã điếu. Nên nó dặn
thằng Từ Quy, mầy ở đó cứ việc
đứng coi, nhưng đừng có lấy tay rờ mà nó
hư ông bầu rầy chết. Bởi tao thương
mầy nên mới dắt vô đây, vậy đứng coi
một lát thì đi ra liền, chớ đừng có ở
đây lâu mà ông Bầu ngó thấy...
Còn lại một mình,
thằng Từ Quy thò tay vào túi. Móc vội cái lon cứt ra,
sau đó nó mở nuột dây, rồi lấy cây roi thọc
vào quậy cho thiệt dính. Xong đâu đó đàng hoàng, nó
lẹ lạng bịt cái lon lại bỏ bào trong túi áo ba
ba. Nó vừa đi, vừa lấy cây roi chỉ lên từng
cái mão. Những chuôi kiếm, chuôi trường
thương, chuôi đao. Chuôi nào cũng có tòng có tụi,
đầu roi của thằng Từ Quy chỉ vào thì nó dính
khỏi chê, nên sau nầy đi ra sân khấu hát thì nó bay mùi
thúi vậy thôi khỏi nói...
Đến chừng một
lát sau, có một anh kép hát đi vô. Thấy vậy nó làm
bộ cà ngơ, ghịt tay lại rồi lấy cây roi
chỉ ngay vào hỏi:
- Như râu nầy là râu gì
vậy anh Hai...
Thằng kép hát vui vẻ
trả lời:
- Đó là râu vua, vì nó có ba chòm,
còn râu kia là râu thừa tướng.
Rốt lại bộ râu nào
thằng Từ Quy cũng đưa roi vào chỉ hết
trơn. Tới chừng đi tới dãy áo quần, với
mấy cái mão có lông trĩ lông công, nó cũng lấy cây roi
chỉ vô rồi hỏi:
- Mão nầy ai đội, mà
coi đẹp quá vậy anh?
Thằng kép hát áng chừng
như đổ quạu, nên trả lời hơi sẵng:
- Thằng nầy nhiều
chuyện quá mậy, thấy cái gì cũng hỏi hết
trơn. Nói là nói vậy, mà thằng kép hát nầy cũng ra
công giải thích. Cuối cùng rồi cái mão, cái áo nào cũng
có được chấm đầu roi. Xong xuôi rồi thì
thằng Từ Quy giả lả:
- Ngày mai anh có muốn ăn
chim chằn nghịch, óc cao với chuột đồng hôn?
Ba cái thứ nầy em gày bẩy cò ke chừng một
bữa, thì mặc tình mà nướng nhậu...
Đang thèm rượu, mà nhắc
tới mồi đặc sản nên thằng kép hát cũng
bùi tai. Nó bèn dẫn thằng Từ Quy đi khắp một
vòng cho biết, thấy cái nào thằng Từ Quy cũng
hỏi, rồi nó lấy cái đầu cây roi chỉ vào, nên
cái nào sau đó cũng dính cứt hết trơn. Sau đó
nó còn hứa chắc, là trưa mai nó sẽ tới sớm
cỡ giờ nầy, để cho anh mình một xâu
chuột với ít con chim nhậu chơi lấy thảo.
Thằng Từ Quy
bước đi ra ngoài mé rạch, mà nghe khoan khoái trong lòng.
Trong khi đó trên bến dưới sông, xuồng ghe
bắt đầu ra vô nhộn nhịp. Từ bên miệt
Cồn Bà, họ cũng chèo ghe qua coi hát rất đông. Còn
trên xã Phú Vang, họ cũng lũ lượt đi
xuống nói cười inh ỏi.
Mấy ông hương
chức trong làng, họ bắt đầu tề tựu
lại đủ mặt hết trơn. Như ông
Hương Lễ thì đi lo đôn đốc dân làng
sắp đặt lại bàn ghế chỗ ngồi, còn ông
Bái, ông Bồi, ông Hương Cả thì bệ vệ trong
chiếc áo dài may bằng vải kim xuyến. Phải nói
đây là một ngày trọng đại, mà thằng Từ
Quy nó rắn mắc dám sắp đặt mưu kế trong
đầu, để phá đám mấy ông hương
chức nầy chơi, chớ thật ra thằng nầy
cũng không có cố tình phá hoại.
Bóng tối bắt đầu
phủ xuống lần lần, tiếng thọc huyết
đâm o con heo kêu la dãy giụa. Ba con heo trắng
được đem ra phía sau cho mấy người
thợ cạo hườm sẵn con dao bén trong tay, còn
mấy thau huyết thì họ bưng đem vô trong nhà
bếp để chờ mấy trả cháo sôi nhừ
rồi đổ vô cho nó ngọt.
Đào kép bắt đầu
lăng xăng lo giặm mặt để khai tuồng. Vì
đêm nay hát tuồng Phàn Lê Huê Giải Giá Thọ Châu, nên
mấy cái lông trĩ và mũ mão ai nấy cũng lo cho
cẩn thận. Nhưng ngặt nỗi hình như từng
cái mão, cho tới mấy cái lông trĩ nầy đã bị
thằng Từ Quy nó quệt đầu roi, chính vì vậy
mà khi mang vào chắc là có mùi thum thủm.
Ông Hương Lễ nhắm
tới nhắm lui, rồi bắt dân kê một hàng ghế
đai sát cái khán đài, để cho mấy ông hương
chức hội tề người ta thưởng lãm. Còn
cái ghế của ông Hương Cả, thì có để
cặp một cái trống chầu, để một lát khi
xem coi cô đào nó có giọng hát hây, đặng ông Cả
đánh trống lên khen thưởng.
Đó cũng là một cái thú
vui của ông Cả từ trước tới giờ,
hễ mỗi lần họ đi đâu, mà gặp dân chúng
đứng lễ phép cúi chào, thì trong lòng của họ
rất là vui vẻ. Còn khi nào gặp mấy thằng ăn
nhậu, tụi nó ngang như cua. Đã không lễ phép cúi
chào, mà còn kêu xách mé cả nầy cả nọ...
Thằng Từ Quy nó cũng
đi rảo bước vòng vo quanh đó, rồi nó
bước ra chỗ gốc cây sao cách đó chừng vài
chục thước. Nó làm bộ đứng nép mình vào,
như một người đứng đái giấc
vậy thôi. Chớ sự thật lúc đó thì nó lấy cái
hộp đựng dế cơm ra, rồi đổ hết
vào trong cái lon cứt. Sau đó nó lấy một miếng
giấy dầu bịt lại cho hết bay mùi thúi ra ngoài,
mấy chục con dế cơm, nó nhảy nó bún rột
rẹt trong cái lon, chắc là mình mẩy con nào cũng
đều chèm nhẹp.
Xong xuôi đâu đó, nó làm
bộ kéo cái quần lên rồi bước trở lại
chỗ cúng đình. Còn cái lon dế cơm thì nó dấu trong
cái bụng, sau một hồi nhìn quanh nhìn quất, thằng
Từ Quy thấy ai nấy cũng bu vào chỗ giặm
mặt sắm tuồng. Vì mấy đào kép nầy ban ngày
họ đi đào chuột gương mặt thấy ghê,
vậy mà khi giặm mặt tổ đãi coi rất là
đẹp đẻ. Nhìn họ mà không nhận diện
được đâu, cô nào cũng càm chẻ môi đôi, còn
con mắt nó liếc cũng nghiêng nước nghiêng thành, đâu
có thua gì tứ đại giai nhân ở bên Trung Quốc.
Thằng Từ Quy rất là
lanh lẹ, nó giở hí cái trống chầu lên rồi nhét cái
lon dế cơm vào. Bới cái trống chầu nầy
chỉ bịt da trâu có một đầu, còn đầu kia
để trống. Đó là một cái trống để
cho ông Hương Cả đánh trống thưởng cho
mấy cô đào, còn cái trống có bịt da trâu hai
đầu thì còn để nằm trong nhà võ ca, để
cho ông Bái đánh lên cúng thần linh đúng trong giờ
đã định.
Nhưng cái trống đó đã
bể một đầu rồi, không biết tới khi nào
ông Cả mới nhớ mà mướn thợ bịt nó
lại đây. Chớ còn đánh trống thưởng cho
mấy cô đào thương, thì mấy ông Cả đang
giữ chức hiện giờ ông nào cũng nhớ. Vì
đó là một thứ tiêu khiển cho những kẻ có
quyền hành, còn dân đen thì họ chỉ biết
đứng cúi đầu tuân phục.
Cái tục lệ cúng đình
làng ở đây từ trước tới giờ, chỉ
cúng toàn là heo trắng mà thôi. Chắc có lẽ tổ tiên mình
đã nghĩ ra, hễ là thần thì phải ăn cái gì cũng
đều khác lạ. Ba con heo trắng được khiên
lên sắp đặt một hàng, rồi sắc thần
được trịnh trọng bày hương án giở
ra, sau đó là ban học trò lễ bắt đầu cúng
tế.
Từng hồi trống
chầu gióng lên nôn nã, để báo hiệu cho dân chúng
biết buổi lễ đã bắt đầu. Từng bước
chân người rộn rã tới lui, có người lại
đứng nhóng đít lên xem coi cho biết. Tiếng
xướng của ban tế tự vang lên trong một
điệu trầm buồn, có người vì dốt
đâu có biết chữ nào, nên họ cũng ê a như là
một đám ễnh ương đang no nước.
Cúng thần xong thì ba con heo
trắng được bọn trai tráng khiêng xuống dãy
nhà ngang, rồi cúng thêm đất đai viên trạch. Sau
đó họ mới khiên ra chỗ chái bếp, ra thịt làm
tới mấy món ăn. Còn đầu đuôi thủ vĩ
thì bỏ vô trong mấy cái trả cháo. Hai bên cái quả
đường, từng rổ rau thơm, từng rổ
khế chua, chuối chát, chuối cây được
mấy mà đang ra tay thái mỏng. Những thứ ăn
ghém nầy, họ bỏ vào trong mấy cái vịm có pha chút
nước chanh, nên chất chát nó đã nhả ra, chỉ
còn lại chuối chác, chuối ghém trắng phau nhìn vào thì
rất là bắt mắt.
Tuồng hát bắt
đầu được kéo màn, ông Bầu gánh cũng là
ông Thầy Tuồng bước ra nói mấy lời rồi
khai trương cho buổi hát. Trong khi đó thì thằng Từ
Quy biết thân biết phận của mình, nên nó đi
một mạch về tới xóm đầu giồng,
rồi lục nồi cơm nguội ăn bậy cho no.
Sau đó nó đi tuốt ra tới đầu đất
Cả Muồng, xắn 4 bập lá dừa nước
lấy cây đẽo nhọn xỏ xâu lại thành bè,
rồi nó nhảy xuống ôm lội qua bên xứ Bình
Khương để mà lẫn tránh. Bởi ở bên
đó, nó còn có mấy đứa bạn thân. Nên có thể
ở đó bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm mà không sợ làng lính
người ta tìm tới đây truy nả.
Trong lúc tuồng hát bội
đang tới hồi gay cấn, Phàn Lê Huê đang giải
cứu Thọ Châu, nên vừa hát Nam xong thì qua hát Khách.
Nhưng ngặt nỗi khi hát mấy điệu nầy,
thì phải đưa tay lên vuốt mấy cọng lông
trĩ cho oai, nhưng càng vuốt thì cái mùi cứt lại
bay ra rất là khó chịu.
Còn mấy ông tướng
trung, cũng như tướng nịnh. Ông nào cũng có
mang râu, cũng đều hửi nghe một mùi thủm
thủm. Trong khi đó thì mấy thằng quân sĩ cứ
múa dọc, rồi lại múa ngang, bởi hồi chiều nầy
tụi nó nhậu một bữa thịt chuột om dừa
với lá cách vậy thôi ngon quá xá.
Riêng cô đào Phàn Lê Huê
muốn lấy lòng ông Cả, nên vừa hát cô vừa
liếc mắt đưa tình. Trong lúc ngây ngất ông Cả
đánh trống thưởng vậy thôi giòn giả. Lúc
đó thì một lon dế cơm đang loi ngoi lót ngót,
bị tiếng trống nện xuống nên tụi nó búng
mạnh lên. Chừng một lát sau thì tấm giấy
dầu bị rách. Thế là tụi nó tìm chỗ trống bò
ra, ban đầu thì tụi nó cũng bò êm, nhưng
đến khi bị tiếng trống chầu nện
mạnh chừng nào, thì tụi nó búng chưn nhảy
dựng lên chừng đó.
Một lúc sau thì cả
mấy hàng ghế ngồi đầu, người nào cũng
hửi được mùi thum thủm hết trơn. Duy chi
có một mình ông Cả thì hửi mùi nặng nhứt.
Bởi có con dế đã nhảy lên rồi đeo tới
chả vai, có con lại leo lên tới cái đầu. Rồi
nó chui vào mấy nếp gấp của chiếc khăn the
để mà lẫn trốn.
Tới khi đó thì thiên
hạ lại chộn rộn quá chừng, người
nầy thì chửi xéo người kia, đã đi coi hát
đình mà còn ăn khoai lang sống nên địt thúi như
là thằng chõng. Lời qua chửi lại một hồi,
thì ông Cả mới cất tiếng la. Là đứa nào
lộn xộn đó, tao sẽ đuổi ra. Còn kêu lính
lệ bắt đem về nhà Việc đóng trăn,
chớ đừng ở đó mà phá hoại. Tới
chừng có tiếng hô lên, thúi quá thúi quá ông Cả ơi làm
sao chịu nổi...
Lúc đó thì ông Cả mới
khịt mũi nhận rằng, cái mùi thúi nầy thật
lạ đây nghen. Hỏng lẽ có ai ỉa giấc trong
quần, nên cái mùi nầy mới lan ra nhanh như vậy.
Trong lúc đó thì ở nơi
trong gánh hát, mấy cô đào cũng xỉa xói mấy
thằng lính chuyên đóng vai quân hầu. Nói mầy đi
nhậu thịt chuột cho cố vào đi, rồi mầy
địt như vầy thì làm sao tao hát xướng. Còn
mấy ông vua và thừa tướng, cũng cự nự rùm
trời. Ông nầy cứ đổ thừa ông kia, không lo
tập tuồng hát mà cứ lo ăn nhậu. Đéo mẹ
mấy hát xướng kiểu nầy, mai mốt còn có ai
dám kêu. Tới chừng đó nhịn đói nhăn răng,
thì đừng có trách!
Trong lúc đào hát còn đang
cự cãi, thì ông Bầu gánh cũng nãy ra sáng ý trong
đầu. Ông liền khui một chai dầu Nhị Thiên
Đường ra, biểu mọi người
trước khi đi ra sân khấu, thì phải quệt
một miếng dầu lên lỗ mũi đặng khử
mùi hôi, đến khi hát vãn tuồng xong thì ông sẽ tìm ra
thủ phạm.
Tuồng hát vẫn cứ
ứ ư, ư hử rùm trời. Nhưng ở ngoài khán
giả có đứng coi hát được đâu, bởi
mấy con dế cơm hễ bò tới đâu thì đem mùi
hôi thúi tới đó. Khi có một người ở hàng
ghế dưới, đứng lên la lớn:
- Hay là cái mùi thúi nầy là do
thằng Từ Quy nó phá mình đây. Bởi hồi chiều
tui đã thấy nó đi la cà ở mấy chỗ nầy,
rồi nó còn xin phép mấy thằng khiên rương đi
vô hậu trường để xem coi cho biết. Hình
như nó có cầm một cây roi tre đập giập
một đầu, rồi đi tới đâu nó cũng
lấy cây tre chỉ lên mấy bộ râu, mũ mão lông công
và chuôi kiếm, chuôi thương, chuôi đao rồi giả
đò cà ngơ hỏi nữa...
Mấy lời đó liền
tới tai ông Cả. Ông bèn hạ lịnh cho đòi ông
Bầu gánh hát bội đến đây. Sau một hồi
bày giải sự tình, thì ông Cả quả quyết cái
vụ hôi thúi nầy là do thằng Từ Quy phá đám.
Thế là ông Cả bèn ra
lịnh, cho mấy đứa tráng đinh đi vô xóm
đầu Giồng lôi cổ nó về đây. Còn một
mặt thì ông ra lịnh cho bà con mình hãy tìm bắt hết
mấy con dế cơm đó đi, thì sẽ hết bay mùi
thúi. Từng cái đèn rọi được quơ lên,
nhưng chỉ bắt được có mấy con, còn
lại bao nhiêu thì nó đang nhủi trốn. Tuy vậy mà
đêm hát cũng phải mở màng chớ biết làm sao,
bởi vì gánh hát đã được bao giàn, nên ông Bầu
vô hậu trường động viên đào kép biểu
tụi bây phải rán. Rồi ngày mai tao sẽ phát tiền
thêm, còn mũ mão cân đai ngày mai tao sẽ biểu mấy
đứa khiên rương đem xuống kinh giặt cho
thiệt sạch. Chớ còn để nó như vầy, thì
hát xướng làm sao. Thiệt cái thằng nào mà phá hoại
kiểu nầy, làm cho tao đây bực mình dữ lắm...
Phải nói thằng Từ Quy
tuy dốt nát, chẳng có học chữ nào. Vậy mà
trời phú cho một cái tánh thông minh, nên làm cái gì cũng
đều sáng dạ. Cũng từ cái đêm hát bội
đó, nó ở lại bên đất Bình Khương làm
nghề xắn đuông chà là, với nghề bắt cua.
Nghe nói sao nầy cũng kiếm được con vợ,
rồi sanh con lập nghiệp ở luôn bên đó.
Còn ở trong xã Lộc
Thuận nầy chòm xóm cũng bắt đầu quên,
bởi những con người bần hèn khi
được sanh ra cung như cái bông bí bông bần,
chỉ nở lên một lần rồi không ai còn nhớ nữa.
Mà người ta chỉ nhớ tới hai tiếng Ông
Cả Cầm Chầu mỗi khi có cuộc ma chay, hay hát
xướng cúng miễu, cúng đình người ta
đều nhắc. Bởi trong những lần như
vậy, thì tướng tá của ông Cả rất oai phong.
Tay thì gióng trống chầu, còn cặp mắt liếc lên
sân khấu với mấy cô đào thương để
còn kiếm chác. Chỉ tội nghiệp cho mấy anh kép
độc, hát muốn hộc máu mòm. Vậy mà suốt
một cuộc đời đi hát chưa có khi nào
được ông Cả đánh trống thưởng
đâu, thế mới biết ánh mắt nụ cười
của mấy bà phụ nữ hay đào hát rất là
lợi hại.
Họ có thể làm tang gia
bại sản một gia đình như không, hoặc làm tan
rã một chánh quyền khi họ thực hành mưu kế.
Còn thằng Từ Quy năm xưa, ngày hôm nay đã trở
về cát bụi, nhưng đã để lại hai tiêng
Ông Cả Cầm Chầu. Nó cũng giống như bác Ba Phi
(Nguyễn Long Phi) ở trong vùng đất mũi Cà Mau.
Nhưng chỉ có khác một điều, bác Ba Phi thì nói
dốc mà còn bia thế. Còn thằng Từ Quy không biết
có ai còn nhớ tới hay không, vì thời gian đã trôi qua
trong cuộc sống hửng hờ. Chỉ lâu lâu thấy
cái việc gì hơi ngồ ngộ, thì họ nhắc dường
như Ông Cả Cầm Chầu đó tụi bây ơi.
Nhưng chắc chắn hiện giờ, còn rất ít
người biết ra lai lịch của câu nói đó.