Tu ổi Thơ Chợt
Thức
Phùng Nhân
Sáng hôm
nay tôi dậy sớm, để bắt đầu từ
một cuộc hành tŕnh mà tôi đă chuẩn bị từ
ngày hôm qua. Từ nơi xă Lộc Thuận, cùng với Tài
gọi tôi bằng chú bắt đầu một cuộc hành
tŕnh. Trong lúc chuẩn bị đẩy xe đi,
dường như mọi người trong gia đ́nh nh́n
tôi ái ngại. Bởi ai nấy cũng đơn giản
nghĩ rằng, ngoài cánh rừng Cả Muồng ấy bây
giờ có ǵ vui mà phải đi thăm. Nhưng gia đ́nh
có biết đâu, tôi đă chuẩn bị một chuyến
đi nầy từ ngày c̣n bên nước Úc...
Mặt
trời vừa rựng mọc, chúng tôi bắt đầu
một cuộc hành tŕnh. Trên chiếc xe Honda c̣n mới, Tài
giữ chắc tay ga, xe chúng tôi bắt đầu lăn
bánh. Từ nơi xă Lộc Thuận, xe chạy theo một
lộ tŕnh nhứt định mà tôi đă vạch ra.
Mặc dầu trên lộ tŕnh nầy đă gần 30 năm
qua, tôi chưa hề đặt chưn đi tới...
Khi
chiếc xe chúng tôi vừa qua khỏi cây cầu sắt. Cây
cầu mà ngày xưa có cái đồn nghĩa quân đă
trấn giữ nơi nầy, bây giờ không biết
số phận của mấy người lính nghĩa quân
đó đang sống ở đâu, mà thay vào đó là một
ngôi nhà của Ba Sung rất là sung túc. Bởi ông nầy nghe
nói tập kết ngoài Bắc trở về, nên ông ta
nắm quyền sanh sát ở đây. Từ chỗ tịch
thâu mấy cây tủ thờ cẩn ốc xà cừ của
ông Chánh Xên, với hạ mấy cây dầu, cây sao ngoài
đ́nh rất là hung hăn. Rồi ông ta c̣n bắt dân hạ
cây quéo ở đầu làng, tuổi tác có lẽ đă
tới mấy trăm năm. Vậy mà ông ta bắt dân
đốn xuống không hề thương tiếc, nên dân
chúng oán ghét âm thầm, có người c̣n lập bàn trù
để cho ông ta mắc phải chứng bịnh nan y. V́
vậy mà chỉ có mấy năm sau, ông ta bị chứng
bịnh ung thư lỗ mũi. Bây giờ nghe người
ta nói lại, ông ta có hối hận nhưng đă muộn
rồi, chắc có lẽ chỉ c̣n chờ chết mà thôi,
bởi gieo nhân nào th́ gặt quả nấy...
Tôi nh́n
ngôi nhà của ông ta với sự bùi ngùi. Rồi nhớ
tới cái thời thơ ấu của tôi, hồi đó con
kinh cầu sắt nầy tôi đă từng đi nom, đi
vó. Thế mà giờ nầy trông nó thay đổi quá
nhiều, hai bên bờ không c̣n những bờ lác năm
xưa, mà thay vào đó là những hàng dừa thẳng
tấp. Có lẽ ngày hôm nay tất đất tất vàng,
cho nên họ tận dụng hết cũng nên. Thành thử
ra cua cá bây giờ đâu c̣n đất sống. Cho nên
tuổi thơ của mấy đứa trẻ nhà quê
sẽ đánh mất hết nét hồn nhiên, v́ thiếu
đi những cánh đồng
nát rạ, để trong những ngày nghĩ học, hay
giữ trâu đi giở rơm bắt nhái nằm
đồng. Hoặc chờ con nước ṛng, đi nom,
đi ṃ, đi xúc tép trong những ngày con nước kém. Hay
vào những lúc tháng 3 dẫn
chó đi săn ở mấy g̣ lác, g̣ lức, g̣ trâm bầu,
bụi rau muôi. Những con chuột đồng mập ú
mỡ trắng phao, đem về thui lông lột da cặp
gắp nướng lửa than vàng nghín. Để rồi
khi lớn lên đi sống bất cứ ở đâu,
hồn của ḿnh cũng luôn nhớ về quê hương
ṃn mỏi âm thầm.
Chiếc
xe vẫn chạy êm ru trên con đường mới
vừa tráng nhựa, nhưng trong ḷng tôi đă nổi lên bao
nhiêu sự câu hỏi vô t́nh, và cũng mong sao cho chiếc xe
chạy riết đến nơi, để cho tôi tận
mắt chứng kiến một cánh rừng Cả Muồng
đă đổi thay như tôi đă từng nghe mấy
người anh tôi thuật lại.
Rồi
chiếc xe chạy tới ngă ba, phía bên tay trái là dăy
Giồng Nần, c̣n quẹo phải là vô làng Giồng
Kiến. Trong phút giây bàng hoàng đó, ḷng của tôi chợt
nhớ đến cánh đồng năng Giồng Kiến
ngày xưa. Hễ trận mưa đầu mùa nổi
nước, là cả một cánh đồng dăng dăng
đèn khí đá. Người ta lớp đi soi ếch,
nhái. Lớp đi soi cá chốt, cá lóc, cá rô, cá trê lên đồng
để đẻ nên mọi cuộc sống đều
đổ dồn xuống cánh đồng nầy. Bây
giờ thời cuộc đă đổi thay, cả một
cánh đồng ngày xưa ḍm mút mắt, vậy mà bây
giờ nhà cửa kín bưng hết ráo.
Trên
đường đi tôi đă nh́n thấy những ngôi nhà
giàu xổi, theo như lời thằng Tài nói lại, th́
những căn nhà nầy phần đông là của Việt
kiều, hoặc những người may mắn trúng mùa
tôm. V́ từ nơi con lộ đá quẹo vô đây, ngày nay
đă có nhà thầu bán thức ăn cho tôm trên đà sinh sôi
nẩy nở. Bên cạnh đó là những quán café đang
mở nhạc sập śnh, bây giờ bất cứ ở
nơi đâu người ta đều tận dụng
hết khoảng không gian để mà mở quán. Cũng
chính v́ vậy mà tệ nạn xă hội gia tăng, cứ
theo cái đà nầy nạn hút xách, ăn trộm ăn
cắp ở đâu cũng có.
Tôi
bắt đầu đói bụng, nên ḍm dáo dác để
kiếm khoai lang nấu. Thời may tôi thấy một cái
quán nhỏ bên đường, đang vớt bắp
nấu bày ra. Thế là tôi liền biểu thằng Tài quành
xe lại để mua một chục có đầu.
Bởi tôi là người nông dân, đi đâu chỉ
cần có bắp nấu, hoặc khoai lang luộc th́ không
c̣n lo ǵ nữa. Tôi cũng không biết bắp nầy là loại
bắp ǵ, nhưng hột khít mà lại thật ngon, dẻo
không thua ǵ bắp nếp của ḿnh thuở trước.
Khi xe
chạy ngang qua một cây cầu xi măng khá lớn. Tôi
vỗ vai thằng Tài biểu ngừng lại để
chụp h́nh, nhưng tôi thấy cây cầu hơi xa lạ
đối với tôi. Bởi v́ ngày xưa con
đường giồng nầy đi ra tới con kinh
Kiến Vàng, th́ không có cây cầu nào hết. Nên tôi hỏi
nó:
- Ê ...
cây cầu nầy là cây cầu ǵ mà lại ở đây?
Thằng
Tài liền đáp:
- Cây
cầu nầy họ mới bắt sau nầy gọi là
cầu Giồng Kiến. Chớ hồi trước năm
1975 th́ không có chú ơi...
Hai chú
cháu tôi đi mà trong dạ bồi hồi, dường
như thằng Tài nó cũng giống tôi, cho nên nó nh́n xung
quanh rồi giải thích. Khi chiếc xe chạy qua khỏi
cây trâm một đổi, tôi ngơ ngác nh́n mà chẳng
thấy đâu. Bởi trong tuổi thơ của tôi,
dưới bóng mát của cây trâm là cả bầu trời
thơ mộng. V́ ngày đó tôi đă từng cột hai con
trâu đực cổ nằm nghĩ trưa dưới bóng
mát đây mà, thế rồi bây giờ nó lại ở
đâu. Khiến cho tôi thắc mắc nên vỗ vai hỏi
nữa:
- Ê ...
vậy chớ cây trâm đâu tao không thấy?
Thằng Tài nhỏ nhẹ trả
lời:
- Họ
đốn rồi chú...
Tôi
buộc miệng kêu trời. Sao cái ǵ họ cũng
đốn hết trơn, từ cây quéo trên làng Lộc
Thuận cho tới cây trâm ở nơi nầy họ
đều chặt sạch. Sao họ không biết giữ
ǵn để làm cột móc thời gian. Bởi một cây
cổ thụ cả mấy trăm năm làm sao trồng
lại. Nói xong một câu trong niềm đau thầm
lặng như vậy, ḷng tôi cảm thấy bứt
rứt xốn xang. Bởi tôi cũng không ngờ ḍng
đời thay đổi, mới ngày nào tôi đă đi
xuống đây để đào dế cơm vào những
ngày tháng bảy mưa dầm. Ngày ấy thường
ngập nước, dế cơm cánh ǵa ăn khoai lang và
cỏ óng nó mập ḅ muốn hết nổi luôn mà giờ
đây cũng đành tuyệt giống. Thêá mới biết
trong xă hội của loài người, nếu không biết
vun trồng th́ có thể tuyệt chủng như chơi.
Rồi
tôi đưa mắt nh́n vô con giồng mù u năm xưa
cũng không c̣n nữa, trong phút giây bàng hoàng đó, tôi
lại nhớ những lần đi đặt bẫy
bắt Kỳ Nhong, mà ở ngoài miền Phan Thiết bây
giờ họ gọi là con Giông. Bây giờ có lẽ cũng
không c̣n, bởi loài nhong th́ nó sống ở đất
giồng, mà đất giồng hôm nay không c̣n nữa.
Từ
đây ra tới ngoài rừng Cả Muồng c̣n chẳng bao
xa, nên tôi vỗ vai thằng Tài biểu nó chạy chậm
lại để chụp h́nh. Dường như hai
tiếng quê hương đang réo gọi, nên tôi thấy
hồi họp lạ thường. Tôi muốn chụp
lại cảnh cây rơm, cảnh chuồng trâu và cảnh
con trâu đang nằm phơi ḿnh trên đồng ruộng.
Nhưng quả thật không thể kiếm đâu ra, h́nh
như người ta không c̣n nuôi trâu để đi cày
ruộng nữa, mà người ta chỉ nuôi ḅ để
bán thịt mà thôi. Tuy vậy tôi cũng chụp
được mấy cây rơm với cơi ḷng xao
động, bởi ngày xưa trong những đêm tháng
chạp. Nhà tôi phải thức đánh trâu đạp lúa
tới lúc nữa đêm, mặc dầu hồi đó tôi c̣n
nhỏ chỉ lo đi học. Nhưng những đêm
trăng như vậy, tôi thấy nó đẹp vô cùng, nên
tuổi ấu thơ có quá nhiều trong kư ức. C̣n bây
giờ trẻ nhỏ không biết ra sao, chắc tụi nó
đang mải mê trong mấy quán café đèn mờ, mà
thời đại hôm nay chỗ nào cũng có...
Xe
chạy thêm một đoạn đường nữa, th́
tới vuông đất ông Cả Nhiều, ngày xưa tôi
nhớ đă có lũy tre gai bao bọc như bức
tường thành. Có con gà Xám chỏng với hỗn danh là
con gà tử mỵ, đă từng mang chiến thắng
về cho dân Giồng Kiến để mai áo quần trong
dịp tết vui chơi.
Rồi
khi con gà thua trận giăy chết tại trường, th́
cả làng Giồng Kiến lại khóc như một cái
đám ma. Nhưng thứ đó bây giờ dường
như xóa sạch, mà tôi chỉ có nhớ mang máng trong
đầu, là nó nằm chỉ cách nhà thờ có mấy con
giồng mà thôi. Tôi ngậm ngùi vỗ vai thằng Tài nói nhỏ:
-
Hồi xưa; ngay chỗ con giồng nầy. Là nhà của
ông Cả Nhiều lớn lắm, có con gà Xám chỏng vang
danh. Không biết bây giờ con cháu ở đâu, mà trải
qua một cuộc biển dâu bây giờ thay đổi
hết.
Tội
nghiệp thằng Tài, nó có biết ǵ đâu. Bởi nó sanh
ra sau những ngày vật đổi sao dời, sau ngày
miền Nam thất thủ. Lâu lâu thấy cảnh
đẹp nó cũng nói vu vơ, để nhầm thâu
ngắn con đường, mà chiếc xe Honda bắt
đầu trườn đi trong mệt mỏi.
Khi
đi tới nhà thờ. Tôi biểu nó ngừng xe lại
để chụp h́nh, th́ đă thấy ở đây ông cha
nhà thờ đă có xây lên hai cái bồn chứa nước,
để đổi cho bà con từ nơi Giồng
Kiến đi ra dài tới xă Tân Định kiếm
lời. Nên nhà thờ hôm nay trông bề thế, dường
như họ đang chuẩn bị xây cất thêm nhà
cửa hay sao, mà trước sân gạch đá xe máy cày
chở về chất cao thành đống.
Bao nhiêu
kư ức bất chợt hiện về, khi chiếc xe
chở tôi đi ra tới đầu bờ kinh Kiến Vàng
làm cho tôi nhớ lại tuổi thơ. Hồi đó hễ
tới ngày nước kém, th́ tôi thường đi bắt
cua lột ở dây. Cặp theo triền đất của
con kinh Giồng Kiến nầy có biết bao nhiêu là cua
lột. Ở cặp triền đất nầy hang cua
thường ở cạn, chỉ cần đào chừng
vài chục lưỡi cuốc th́ vô tới nồi gọ
của nó là bắt được rồi. Nhưng bây
giờ tất cả đă đổi thay, con kinh Giồng
Kiến bây giờ bị người ta lấn riết nó
c̣n nhỏ xiếu. Rồi họ bắt cây cầu đúc
xi măng để đi qua, c̣n một dăy rừng
đất Cả Muồng bây giờ không c̣n nữa, mà thay
vào đó là vườn tược ranh ŕ. Cuộc sống
có sự đổi thay, nhưng rừng cây thiên nhiên sẽ
không c̣n nữa.
Khi xe qua
khỏi cây cầu một đổi th́ tới nền nhà
ông Cả Hiển, mà ngày trước cha tôi thường
tới mùa cày xuống hỏi xin cột tạm đôi trâu.
Rồi tối đến tôi chất rơm làm đống
un đuổi muỗi, thế mà bây giờ mọi dấu
vết đă sang bằng, thay vào đó là một đám mía
đường tới lứa đang chờ người
ta lại đốn. Xe tiếp tục chạy ra
hướng bờ sông, gió bắt đầu lồng
lộng thổi. Tôi nghe trong ḷng một nỗi xôn xao,
bởi v́ trong những năm chiến tranh. Từ năm
1963 tới năm 1975, th́ ở nơi đây được
mấy ổng cậm
bảng cấm rừng, nên dân chúng nếu không
được móc nối th́ không được quyền
lai văng. Cũng từ đó cánh rừng Cả Muồng mang
đầy huyền thoại của chiến tranh. Thế
mà giờ đây mọi vết tích đó không c̣n, thay vào
đó vườn dừa bạt ngàn, với những vuông
tôm, ao cá Basa đầy ắp nước. C̣n phía bên kia sông
là trại nhốt tù K 20, đă một thời nhốt
những người lính Cộng Ḥa, với những
người trốn đi vượt biển. Nếu
chẳng may bị bắt, th́ những người nầy
bị bắt làm việc khổ sai. C̣n phía bên trong là một
nhà thờ họ đạo xă B́nh Khương, đă
dựng lên đâu thời Pháp thuộc. C̣n sát bờ sông là
một cái cầu tàu, có vài chiếc Canoe đang đậu,
chắc của mấy ông lớn nào đó đang lúc đi
chơi. Tất cả những h́nh ảnh tương
phản đó, làm cho ḷng tôi bồn chồn ray rứt.
Tôi và
thằng Tài dựng xe lại để nh́n ngắm ḍng
sông, ḍng sông hôm nay nhỏ lại một cách khác
thường. Có lẽ nó đă bị đắp
đập dưới chỗ gần cửa biển
cả mấy năm nay, nên bây giờ giọt nước
phù sa từ trên vàm An Hóa chảy xuống không đủ
mạnh nên nó bồi là phải. Con Lộ Mới
được chánh quyền tu bổ lại, có trải
đá xanh để chuẩn bị mở đường.
Nghe người ta bàn tán, là con đường nầy họ
sẽ làm từ dưới mặt đập cống Ba
Lai, chạy dọc lên tới trên bờ kinh An Hóa. Không
biết có vực dậy được nền kinh tế
hay không, chớ trước mắt th́ người dân
phải nai lưng ra chịu thuế. Đó là một
nền kinh tế mở cửa khắc nghiệt hiện
giờ, cái ǵ nhà nước cũng kêu gọi người
dân phải có trách nhiệm đóng góp tiền vô. C̣n tiền
viện trợ của ngoại quốc không bồi hoàn,
với tiền khai thác dầu hỏa hiện nay th́
người dân nghèo ở nông thôn không khi nào biết
tới...
Trong phút
giây bất chợt đó, làm cho tôi xúc động vô cùng.
Bởi hồi xưa, khi tôi vừa tṛn 10 tuổi. Th́
nơi khúc sông nầy là chỗ kiếm cơm. Tôi và cha tôi
đă giăng câu hằng đêm ở ngay khúc sông nầy, những
con cá ngát lớn từ 2 kí lô trở lên lúc nào cũng có
rộng sẵn ở khoang xuồng. Chớ đâu phải
như bây giờ, cá tôm bắt đầu vắng bóng.
Người ta chỉ có nuôi theo phương pháp thủy
sản mà thôi, như vậy con cá, con tôm, con cua không c̣n nguyên
thủy, mà nó đă bị lai giống cải tạo
mất rồi.
Tôi cùng
thằng Tài lên xe chạy ngược trở lên, để
đi bọc qua mặt con đập Cái Muồng, mà từ
khi họ đắp tới nay chỉ nghe chớ chưa có
bao giờ đi tới. Thằng Tài dường như náo
nức, bởi nó cũng như tôi. Tuy đất cát
của ông bà ở ngoài vùng đó, nhưng v́ cuộc
sống hối hả mà nó chưa tới đó bao giờ.
Ngày hôm nay có việc ra thăm, trên gương mặt
của nó cũng rưng rưng niềm cảm xúc.
Trời
bắt đầu nắng gắt, tôi và nó dựng xe
dưới bóng mát lột bắp ra ăn. Thấp thoáng
trong những vườn cây cũng có mấy căn nhà ngói
đỏ, điều đó tự nó nói lên một cuộc
sống sung túc hiện giờ. Nhưng biết bao giờ
mới có trường học ở đây, c̣n nếu muốn
cho đi học ở trường làng Giồng Kiến th́
đường xa dịu dợi. Trong phút giây buồn ḷng
đó, tôi thầm mong trúng số có một số tiền
để về giúp đỡ bà con. V́ rừng đất
Cả Muồng ngày xưa đă cho tôi cá cua lương
thực, cho tôi hột cơm để nuôi sự sống
qua ngày. Bây giờ tôi không thể vong ân, nhưng đó
cũng chỉ là những ước muốn âm thầm,
không bao giờ thực hiện. Bởi cuộc sống
của tôi hiện giờ chẳng có ǵ, ngoài tấm ḷng
đối với quê hương, cho nên hằng đêm tôi
thường hay trăn trở.
Trong lúc
miên man nghĩ ngợi, bỗng dưng tôi nhớ thật rơ
ràng. Tại chỗ nầy gần ngọn xẻo của
ông Chín Khỉ ngày xưa, đă có lần tôi bắt một
hang cua ở cặp tới 4 con lận. C̣n chệch về
phía bên kia một chút, là một cụm rừng chồi.
Hễ tới tháng tư âm lịch, th́ tôi càn vào để
lấy mật ong. Giống ong Ruồi nầy muốn lấy
ổ của nó phải biết theo dấu mấy con ong
thợ đi hút mật rồi bay về, những ngày
đầu không quen tôi thường hay mất dấu.
Tới khi tôi đă có kinh nghiệm rồi, chỉ cần
nh́n con ong xẹt ngang th́ đă biết cái ổ của nó
gần hay xa. Tôi nhớ có lần gặp bữa trời
nực giông, ong xổ nực bay lên vần vũ một
vùng. Mấy ổ ong như vậy th́ cái tàng rất lớn
và mật cũng nhiều, bởi nó đóng như vậy
cũng được mấy con trăng.
Kư
ức tuổi thơ của tôi từ đâu vụt
đến, không cưởng lại được nên tôi
bỏ dép lội xuống vọc bùn. Tôi đi dọc theo
con xẽo thật lâu, nhưng không thấy được
con cua, hay con ba khía con cá tḥi ḷi nào. Trong phút giây buồn ḷng
đó, tôi nghe một niềm luyến tiếc chạy dài.
Phải chi thiên nhiên c̣n ưu đăi như ngày xưa, tôi
chỉ cần xách theo cây cù móc với cái cuốc cùn là có
thể kiếm được bữa ăn, hoặc
bắt một con ǵ đó xách về làm mồi nhậu. C̣n
bây giờ không biết kiếm ở đâu ra, ngay như
con ba khía, con c̣ng, con rạm, con chuột vậy mà cô bác
ở đây cũng phải chịu nhịn thèm. Bởi
theo cái đà nầy chất thuốc sát trùng cứ phun
xuống hằng tháng, hằng năm th́ không c̣n con ǵ có
thể sanh sản ra thêm được nữa.
Rồi
tôi bước trở lại lên bờ, t́m chỗ rửa
chân cho sạch. Sau đó biểu thằng Tài chạy về
xẽo Cây Cui, làm cho tôi bất chợt nhớ về ngày
xưa hễ mỗi lần tới nước rong, là tôi
vác vó ra đây vó cua th́ trúng. Bởi một cơi
đất Cả Muồng nó rộng và đồng
ruộng mênh mông, chỉ cần thả vó xuống bập
tàn chừng nửa điếu thuốc đi lại
giở lên th́ cái nào cũng có. Khi chiều về là một
nỗi khổ trần thân, vừa đói bụng vừa
mệt lại vừa gánh hai giỏ cua băng
đường rừng trở về nhà xa khoảng 4 cây
số lận. Cũng có bữa khi đi băng ngang
một vuông ruộng, gặp mấy con cua ḱnh theo con
nước rong ḅ lên kiếm chỗ làm hang. Tôi bèn
để giỏ xuống, bắt trói xong là gánh thêm một
phần cực nhọc. Bởi vào thời đó con cua con
cá bán chẳng có bao nhiêu tiền, mà tất cả tần
tảo đó chỉ nhằm vừa đủ cho cha má tôi
mua thuốc giấy và nước mắm dầu lửa mà
thôi...
C̣n bây
giờ dân chúng ở đây, có khi măn năm mà chưa
thấy mặt con cua. Bởi nếu có bắt
được, th́ họ cũng để dành bán
đặng mua lại những thứ khác nó cần
thiết hơn nhiều. Đời sống càng văn minh
bao nhiêu, th́ miếng ăn càng khó kiếm bấy nhiêu. Ngoại
trừ những người có nguồn thu nhập nhứt
định th́ chẳng nói làm chi, phần đông dân chúng
ở đây rất là lam lũ. Đứng nh́n cảnh
cũ một hồi, làm cho tôi không ngăn được
ḍng nước mắt. Hơn 20 năm trôi giạt xứ
người, giờ trở lại quê nhà tôi nghe một
niềm đau âm thầm không sao bày tỏ.
Tôi
xuống xe thả bộ một hồi, t́nh cờ gặp
mấy người quen. Những người nầy ngày
xưa cũng học sinh trường Nguyễn Đ́nh
Chiểu Mỹ Tho, bây giờ trông bệ rạc quá. Bao nhiêu
chữ nghĩa đă học ở nhà trường,
dường như họ không c̣n được ứng
dụng cuộc sống ở đây. Nh́n tôi họ
đều thèm khát, nhưng họ có biết đâu trong ḷng
tôi đang thèm được sống trên quê hương,
rồi già được chết trên mảnh đất
nầy. Sau một hồi hàn huyên chuyện văn, ai nấy
cũng muốn tôi ghé nhà chơi, nhưng tôi hẹn dịp
khác. C̣n hôm nay tôi chỉ muốn dành riêng một ngày
để hồi tưởng lại tuổi thơ, mà
cuộc đời tôi đă trôi giạt tha phương bao
năm trời, bây giờ có dịp về lại đây tôi
luôn khao khát.
Trời
bắt đầu nắng gắt, hai chú cháu tôi bắt
đầu khát nước, nên hai chai nước đem theo
đă hết sạch rồi. Thôi đành nhịn khát mà
đi, ngồi trên xe chạy trên con đường Lộ
Mới. Mà ngày xưa nơi đây là rừng cây bạt ngàn,
chạy xuống tận cửa biển sông Ba Lai, c̣n bây
giờ là cư dân mới vừa xây dựng. Từng
căn nhà lá nghèo nàn để chịu đựng
dưới nắng mưa, để chờ đợi cây
trái say mùa, nhưng ngày đó chắc c̣n xa lắm.
Khi tôi
đi tới con đập Cả Muồng, th́ nước
c̣n ṛng ḷi băi cạn. Mặt ngoài con đập có vài
chiếc xuồng câu, có lẽ không có cá nên người
giăng câu với nét mặt buồn buồn thấy rơ. Bên
cạnh đó là vài chiếc ghe cào hến, hai vợ
chồng và con cái ngồi buồn bă nấu cơm. Tất
cả quang cảnh đó làm cho tôi nhức nhối. Bởi
ngày xưa con rạch Cả Muồng nầy, ngay chỗ
họng vàm nó rộng chừng hơn một trăm
thước, thế mà giờ nầy nó c̣n có bao nhiêu, th́ làm
sao chở nổi phù sa vào bồi cho châu thổ. Hai bên
bờ lá dừa nước mọc de ra bắt đầu
một cuộc xâm thực chẳng nương tay, chỉ
có mấy năm giờ đây con rạch Cả Muồng
c̣n nhỏ xíu. C̣n ḍng nước dơ bẩn đục
lừ, bởi hằng ngày nó phải hứng chịu
biết bao nhiêu chất phóng uế thải ra. Từ con
người cho tới những ao cá Basa, thức ăn
họ tuông xuống không biết bao nhiêu mà kể. Rồi
từ chất cặn bă đó nó tan dần ra theo con
nước mà chảy đi khắp cả mọi nơi,
để cho người dân sống ở đây xách lên
nấu nướng.
Tôi
đứng thơ thẩn trên mặt đập một
hồi, rồi hướng tầm mắt về phía xa xa.
Ở đó là dây đất của ông bà tổ tiên tôi
để lại, khi 1954 ḥa b́nh lập lại. Tôi có theo cha
má tôi đi ra đây để phá đất làm ruộng sau
nầy, những hang cá tḥi ḷi lâu năm nằm đặc
lừ dọc theo con xẻo lạn. Cha tôi chỉ cần
bện chừng 10 cái chà vi, sai tôi đem gài xuống.
Chỉ cần 10 phút đồng hồ sau đi lại
giở lên, th́ cái nào cũng có. Con nào con nấy bự
cỡ cườm tay, có con lớn cả kí lô đem về
nướng trui ăn rất ngọt. C̣n bây giờ loài cá
nầy dường như tuyệt chủng, cho nên tôi
đứng ŕnh hoài mà chẳng thấy một con.
Trên
đường về ḷng tôi nặng trĩu, khi xe chạy
ngang qua cây cầu xẽo lá Trùm Cu. Ở nơi đây
tuổi thơ của tôi đă có quá nhiều kỷ
niệm, hồi đó tôi đă từng đi theo cha xắn
đuông chà là, đăng cá cạn, bắt cua. Có lần
bắt được con trăn bự bằng bắp
chuối, ngày đó tuổi thơ của tôi là một
chuỗi ngày khét nắng, nhưng có được sự
ấm áp thương yêu từ một mái ấm gia đ́nh.
C̣n bây giờ trở về sau, mọi thứ đó lần
hồi sẽ biến mất vào cơi không gian nhứt
định. Bất giác tôi đưa tay lên dụi mắt,
một cục ghèn hay giọt lệ khô đă dính nơi
đó tự bao giờ.
Một
chuyến về thăm lại rừng Cả Muồng
đă cho tôi hồi tưởng biết bao nhiêu chuyện
đă qua, mà từ lâu rồi tôi tưởng như như
không c̣n nhớ. Vậy mà tôi vẫn nhớ như in,
nhớ từ chỗ cái búng sâu, cha tôi đă giăng
đường câu cá ngát.
Có
lẽ tuổi thơ của tôi đă lớn lên từ
nơi thôn quê sằn giă, cho nên nó dính chặt với
ruộng đồng. Bây giờ cho có sống bất cứ
ở đâu, hễ nh́n thấy ruộng đồng hay
người nông dân lam lũ th́ trong tôi tuổi thơ
bất chợt ùa về. Như một con sóng xa bờ
từ đâu chụp lại, để ôm chặt bờ
cát không muốn rút đi. Sau đó chỉ c̣n là những
dư âm trên gành đá.
Liệu
rồi đây trên bước đường trôi giạt
tha hương, tôi sẽ t́m lại được ǵ.
Một căn nhà đầy đủ tiện nghi, hay
những cuộc đi chơi đầy thích thú. Hay trong những
đêm khuya cựa ḿnh thức giấc, tôi chợt thở
dài mà tha thiết nhớ quê hương.