Kể
chuyện nhà văn Sơn Nam
Huỳnh Kim
Tết này, nhà văn Sơn Nam thọ
tám mươi. “Muốn về Cần Thơ phải có
người đưa chớ không đi một ḿnh
được nữa”. Hồi trong năm, ông nói như
vậy khi dẫn ông băng qua lộ, thấy ông
bước hơi run và ớn xe cộ. Lâu lâu về Sài G̣n,
tôi hay ghé thư viện phường 7, quận G̣ Vấp thăm
ông. Chỗ đó, sáng nào ông cũng ghé vào, uống cà phê,
đọc sách báo và trà dư tửu hậu với bất
ḱ ai. Ngày Xuân, xin kể vài mẩu chuyện khó quên với
tác giả Hương rừng Cà Mau…
“Đừng đạo đức
giả”
Năm 1975, gia đ́nh nhà
văn Sơn Nam c̣n ở trong con hẻm nhỏ
đường Lạc Long Quân, quận Tân B́nh. Nhà tôi cách
nhà ông ba căn; bà con trong hẻm hay kêu ông là “ông Tám”, tôi
cũng gọi ông là “chú Tám”. Sống trong con hẻm đó,
đa phần là dân miền Trung gốc Quảng Nam như
tôi, nên có chuyện ǵ liên quan tới tánh nết người
Nam bộ, tôi hay “trà dư tửu hậu” với ông
để… so đọ lại với những nhân vật
trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của ông.
Năm 1976 khi nhập ngũ, tôi cất trong ba lô cuốn
truyện chứa bao nhiêu số phận con người và
tập quán phương Nam hấp dẫn ấy với hi
vọng thế nào ḿnh cũng có dịp… gặp họ.
Tới năm 1986, nhà xuất
bản Trẻ muốn tái bản Hương rừng Cà Mau
nhưng tác giả không c̣n cuốn nào để đưa
đi in lại. Tôi tặng ông cuốn sách có nhiều
kỉ niệm đó, bản do Trí Đăng in
trước 1975 - nơi tôi làm thợ xếp chữ và
tự ḿnh xếp chữ tập truyện này (hồi
xưa c̣n xếp chữ ch́ chứ chưa xếp chữ vi tính như bây
giờ). Tới chừng sách in ra, ông để dành một
cuốn, chờ tôi về nghỉ phép, kư tặng bằng
bút bi màu… đỏ. Giờ tôi c̣n giữ cuốn sách in trên
giấy vàng khè này. Góc b́a sau sách đề giá 25 đồng,
trên có in bức kí họa tác giả, dưới chú thích: “Sơn
Nam tên thật Phạm Minh Tày, sinh năm 1926 tại làng
Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Rạch Giá (Kiên Giang).
Tham gia kháng chiến chống Pháp, công tác văn nghệ
tại Khu 9. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam…”.
Tánh t́nh giản dị của
“chú Tám” và những nhân vật trọng nghĩa khinh tài trong
Hương rừng Cà Mau thấm thía quá; cái tánh hay “lư
sự Quảng Nam” trong tôi nghe chừng cũng bớt
dần. Nhưng tới khi cấp trên giao nhiệm vụ
về Quân khu 9, tức vùng đồng bằng sông Cửu
Long, công tác th́ tôi thấy vừa mừng vừa lo. Mừng
v́ nghĩ là từ đây ḿnh sẽ được sống
với cái không khí của… hậu Hương rừng Cà Mau.
C̣n nỗi lo th́ tôi đem đi hỏi ông: “Chú Tám ơi, tôi
sắp về miền Tây công tác. Tôi nên sống làm sao
đây?”. Cũng như mọi lần, ông nói liền
chẳng cần suy nghĩ: “Đừng có đạo
đức giả”.
Cho tới giờ, đă
xuất ngũ và trải qua lắm cay đắng ngọt
bùi ở nhiều vùng trong nước, tôi nghiệm lại,
cái điều mà nhà văn Sơn Nam nói đó, quả là chí
lư.
“Cốt
cách người Việt Nam ḿnh là nhân nghĩa”
Trung tuần tháng 3-1990, nhà
văn Sơn Nam về Cần Thơ để chuẩn
bị cho một công tŕnh nghiên cứu về chùa Nam Nhă. Lúc
này ông đă 64 tuổi, thường xuyên đi về
miền Tây. Biết tôi đă chuyển qua làm ở báo Quân khu
9 và cộng tác với mấy tờ báo ở Sài G̣n, Hà
Nội, ông nhắn tôi đi uống cà phê đêm rồi
về nhà tôi chơi. Lâu ngày gặp nhau, không hiểu sao tôi
vẫn muốn nghe ông nói chuyện về miền Tây,
về đồng bằng sông nước mà khi đó dù
đă cưới vợ quê gốc Cần Thơ, lúc nào tôi
cũng thấy ḿnh thiếu cái… cốt cách miền Tây. Tôi
c̣n nhớ đă hỏi ông như thế này:
- Cái cốt cách người
đồng bằng ḿnh, theo chú Tám, là sao?
Ông trả lời:
- Cái cốt cách người
Việt Nam ḿnh là nhân nghĩa. Ông vua mà không nhân nghĩa th́
sẽ bị cái nhân nghĩa của nhân dân “cách cái mạng”.
Hàng xóm có đám ma, ḿnh góp tiền lo đám, dù người
đó lúc c̣n sống ḿnh không ưa. Không phải chỉ ông
vua chết, ḿnh mới cúng. Người ăn mày chết,
ḿnh cũng cúng. Đứa trẻ chết, ḿnh cúng.
Người ăn cắp, người đói chết, ḿnh
cúng.
Xưa, công chúa Thuận Thiên
than lạnh với cha, vua Lư Thánh Tông họp quần
thần bảo: Trẫm thương dân như thương
công chúa. Công chúa mặc hai lớp áo cung đ́nh c̣n than
lạnh, huống hồ là muôn dân của trẫm bị
cầm tù v́ nghèo v́ dốt. Nay trẫm lệnh phải phát đủ
quần áo để muôn dân được ấm.
Đó không phải là mị
dân, cái gốc của nó là nhân nghĩa Việt Nam. Ông c̣n nói thêm về cái hiện
trạng sống thiếu nhân nghĩa xung quanh ta. Tôi
giật ḿnh nghĩ lại ḿnh. Lúc đó là đă
mười bốn năm kể từ ngày ba tôi mất,
nhưng chỉ có một lần tôi về Sài G̣n đám
giỗ ba. Lúc đó, đời lính đă tạm yên, không c̣n
ra mặt trận 979 nữa, nhưng vợ chồng tôi
chưa bao giờ nghĩ tới chuyện thờ
phượng ba tôi, tất cả để một ḿnh
mẹ già của tôi ở Sài G̣n lo nhang khói. Mà hai vợ
chồng tôi lúc đó là đảng viên, lúc nào cũng
nghĩ ḿnh sống có ích, có nghĩa với dân với
nước! Có ngờ đâu, có những lúc thấy tâm
hồn trống vắng cô đơn ḱ lạ mà không làm sao
hiểu nổi. Như là đêm hôm đó, tôi lập cập
tiễn ông già 64 tuổi ra khỏi căn nhà “gia binh” già nua
của ḿnh, gió đêm lạnh ngắt.
“Đó
là cái đạo”
Năm 1993, Hội Văn
nghệ tỉnh An Giang mở trại viết. Nhà văn
Sơn Nam nói chuyện về kinh nghiệm viết văn,
xong ông theo một tốp đi thực tế ở vùng
tứ giác Long Xuyên. Ngồi xe ôm, ông luôn nhắc: “Chạy
chậm thôi nghen”, v́ ông không biết chạy xe hai bánh mà
chỉ thích đi bộ. Ở xă Tây Phú, huyện Thoại
Sơn, trong khi chúng tôi cứ loay hoay với mấy cái báo
cáo sơ kết, tổng kết về chuyện đi khai
hoang vùng tứ giác, th́ nhà văn Sơn Nam đă lội ḷng
ṿng quanh chợ xă. Quay về, ông chỉ hỏi anh bí thơ
xă mấy câu mà nghe xong thấy… quá nể: “Có gái giang hồ
vào tứ giác t́m t́nh yêu hay không?”; “Có người nông dân
bất măn? Có anh cán bộ cường hào?”; “Điện
thoại bàn đă gọi ra quốc tế nhưng sách báo
về xă sao thấy c̣n ít quá?”…
Khi nghe anh bí thơ xă kể
chuyện bà con nông dân lập miếu Thần Nông, 17 tháng 3
âm lịch hằng năm họ cúng tạ ơn trời
đất, tổ tiên và cây lúa, nhà văn Sơn Nam nói:
“Đó là đạo. Làm ruộng là đạo, giữ
đất là đạo. Khuyến nông tức là cách giữ
đạo làm nông, th́ dân mới giàu mạnh
được. Tôi lội chợ Tây Phú, thấy có đánh
bi-da, có tiệm vàng, có cái kéo rèn từ Phú Tân đưa qua,
có bộ xa-lông tre lấy mẫu từ Mộc Hóa, có cô bán
quán quê Đồng Tháp, có thầy giáo quê Thanh Hóa…
Người tứ xứ về tứ giác sinh cơ
lập nghiệp, th́ cần giữ cái đạo làm
người, th́ kinh tế thị trường ở
đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”.
Khi ghé thăm chùa, thăm khu
di chỉ văn hóa Óc-Eo, cánh nhà báo
chúng tôi lăng xăng hỏi nhà chùa đủ
chuyện th́ nhà văn Sơn Nam lặng lẽ thắp nhang
trước bàn thờ Phật, cúng đường nhà chùa
và bố thí cho người nghèo chung quanh chùa.
Chuyến đi đó, chúng tôi
học được từ nhà văn Sơn Nam nhiều
chuyện. Cả trong chuyện viết báo, mà cho tới
giờ, với tôi, ông là người thầy với lời dạy
ngắn gọn, dễ nhớ nhưng khó thực hành:
“Cố gắng viết
ngắn. Câu nào cũng có thông tin”.
“Hạt bụi nghiêng ḿnh
nhớ đất quê”
Đó là câu cuối trong bài
thơ không đề viết “thay lời tựa” cho
cuốn Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn
Nam. Bài thơ dài 28 câu viết về cái thuở tiền nhân
xưa từ miền Trung tha hương vào khai hoang mở
cơi phương Nam. Đó là một bài thơ độc
đáo hiếm thấy của nhà văn Sơn Nam mà
nhiều người đă thuộc ḷng v́ cái điệu
buồn chất chứa trong từng âm điệu, câu
chữ. Nhưng có lẽ ít ai biết bài
thơ đó nhà văn viết khi nào và ở đâu. Một
hôm, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, ông ghé thăm báo Cần Thơ
và nhắn tôi qua chơi. Tôi chở ông về nhà ḿnh, giở
cuốn Hương rừng Cà Mau có chữ kư tặng
bằng mực đỏ của ông ngày nào, rồi hỏi:
- Bài thơ này chú Tám làm
hồi nào vậy?
Ông nheo nheo mắt, nói:
- Viết từ năm 1961,
trong nhà tù Phú Lợi. Hồi đó chính quyền Sài G̣n bỏ
tù cái tội ḿnh vẫn theo kháng chiến.
Rồi ông ngồi chép lại
cả bài thơ trên mặt sau một tờ lịch
lớn. Nét chữ của một ông già 75 tuổi mà bay
bướm quá chừng. Cuối bài thơ, ông ghi: “Viết
thơ này từ năm 1961, nay chép lại tặng Huỳnh
Kim, bờ sông Hậu”. Tôi
đă nhờ thợ phủ la-mi-na và ép tờ lịch
ấy lên một tấm gỗ để lưu giữ
được lâu dài bút tích của nhà văn Sơn Nam.
Tôi treo kỉ vật này trên
tường kế bên kệ sách và gắn kề bên nét
chữ của ông, một chiếc lá cây khô hoang dă đă ĺa
cành tự khi nào. Chiếc lá ấy, nét chữ ấy,
mỗi lần nh́n lên, như nghe có tiếng người
xưa vọng lại:
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
…
Năm tháng đă trôi qua
Ray rứt măi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua
đường phố
Hạt bụi nghiêng ḿnh nhớ
đất quê…
Cần Thơ, tháng 12-2006
* Tuần rồi, tôi có về
Sài G̣n, ghé thăm nhà văn Sơn Nam. Từ mấy tháng nay,
sau cú tai nạn (bị xe quẹt té làm chấn thương
xương chậu), nhà văn Sơn Nam không đi
đứng được. Ông chỉ nằm một
chỗ, vợ và cô con gái chăm sóc mọi thứ; mỗi
chiều có thầy thuốc tới tập “vật lí
trị liệu” cho ông. Ông gầy lắm, da bọc xương,
nhưng nói chuyện c̣n tỉnh táo và tâm huyết. Ông nói tôi
nên coi bộ phim “Mê-kông kí sự” để thấy
được cái văn hóa gốc của người Tây
Tạng và một số người dân tộc thiểu
số khác ven ḍng Mê-kông vẫn c̣n rất tự nhiên, không
bị “con người hiện đại” can thiệp. Ông
nói: “Tôi đă 81 tuổi, nếu c̣n sống được
4 năm nữa, 85 tuồi, tôi
sẽ viết tiếp câu chuyện này, ở hai bên bờ
sông Tiền, sông Hậu của đồng bằng sông
Cửu Long”. Rồi ông cho tôi mượn cuốn “Cửu
Long cạn ḍng, Biển Đông dậy sóng” của nhà
văn Ngô Thế Vinh tặng ông. “Cầm về Cần
Thơ đọc, mà nhớ trả à nghen” – ông dặn.
Huỳnh Kim
Nguồn: http://vannghesongcuulong.org