MIỀN TÂY CỦA SƠN NAM,
CỦA BÂY GIỜ VÀ MAI SAU
Lư LanMiền Tây của Sơn Nam,
của bây giờ và mai sau
Lời của Lục cụ chùa Sóc Ven ám ảnh tôi
suốt từ chuyến đi lần theo Hương
Rừng Cà Mau: “Ḿnh có lỗi với đất với
nước. Đất và nước cho ḿnh tất cả
cuộc sống, mà ḿnh lại làm nhiều điều không
phải với đất, với nước”. Những
thí dụ Lục cụ đưa ra đơn giản
như “đái ỉa” xuống nước, là một trong
nhiều h́nh thức gây ô nhiễm môi trường.
Hay xẻ những con kênh ngang dọc mặt
đất, khiến đất bị x́ phèn, nhiễm
mặn, rồi cày cấy liên tục ba bốn mùa không cho
đất nghỉ ngơi. Hay đắp đường,
bờ bao cản ḍng chảy của nước...
Đất hiện nay đối với nhiều
người là tài sản, tư hữu, thậm chí tư
bản. Nước đương nhiên là tài nguyên, trong
tương lai gần sẽ là hàng hóa giá cao.
Nhưng Lục cụ coi đất và nước
như những sinh thể có thần phách, giận dữ v́
những lỗi dại dột của con người,
nhưng lại rất bao dung tha thứ con người,
chẳng khác ǵ ḷng người cha người mẹ.
Sự bao dung, hào phóng của nước đă giúp con
người tiếp tục sinh sống nhiều trăm
năm trên mảnh đất phương Nam này, và... tái
phạm lỗi lầm.
Hai chuyến đi về vùng U Minh của tôi cách nhau
một phần tư thế kỷ cho tôi cảm giác ḿnh
đi qua hai vùng đất hoàn toàn khác nhau. Giữa thập
niên 1980 hầu như chỉ có thể đi lại
bằng đường thủy, bến đ̣ ở Rạch
Giá là đầu mối giao thông, nơi tôi đứng nh́n
những chiếc đ̣ cũ kỹ mang những chữ
Thứ Bảy, Thứ Mười Một... mà nao nao trong
ḷng, tưởng tượng những phong cảnh mịt
mờ ở cơi hồng hoang. Tháng 10-2008 th́ chuyến đi
của tôi hầu như được thực hiện
trên những chiếc xe hơi đời mới chạy
bon bon trên những con đường nhựa mới khánh
thành.
Theo số liệu của Bộ Nông Lâm Ngư
nghiệp vào năm 1996, đô thị chiếm 10% diện
tích đất đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL), tập trung 30% dân số, đất nông
nghiệp bao gồm cả thôn làng chiếm 83%, chừa
lại 7% vùng sinh thái tự nhiên hoặc bán tự nhiên, trong
đó một phần ba là rừng tràm. Trong 12 năm qua,
tốc độ đô thị hóa tăng chóng mặt,
một con số tôi vừa đọc trên báo ước
lượng chỉ c̣n 65% diện tích đất ĐBSCL
c̣n hoạt động nông nghiệp.
Những người sống ở đất này, theo
nhà văn Sơn Nam, là cháu con của những lưu dân,
những người “chịu cực nhiều nhưng
hưởng rất ít. Đó là thái độ bám sát
đất nước, tin tưởng nơi khả
năng của con người. Con người sẽ
biến đổi bùn lầy ra cơm, sẽ lập đ́nh
chùa trên biển cỏ. Hoàn toàn tin tưởng vào thiên nhiên,
cải biến thiên nhiên, không sợ thiên nhiên”. Nhờ
vậy người Việt “giàu tinh thần dung ḥa” đă
trụ được trên “phần đất cay nghiệt
đă từng chôn vùi hoàn toàn hoặc làm ngưng đọng
bao nền văn hóa” như vương quốc Phù Nam hay
Thủy Chân Lạp, mặc dù “phù sa sông Cửu Long và
biển Nam Hải có sức mạnh tiêu diệt những
nhóm người lưu vong, ăn xổi ở th́, thiếu
cá tính”. (Nói về miền Nam, Nhà xuất bản Trẻ).
Trong bài “Cá tính miền Nam”, Sơn Nam lưu ư: “Chúng ta
nên nh́n kỹ và tránh những ảo tưởng cho rằng
ĐBSCL quá ph́ nhiêu”. Phong cảnh nhiều nơi ở Long
Xuyên - Châu Đốc, Đồng Tháp Mười, dài cho
đến Rạch Giá, Cà Mau, theo Sơn Nam là “buồn bă”,
chỉ có các đô thị là lộ vẻ phồn vinh v́
“chính những người thành thị này đă
hưởng lợi khá nhiều, trong khi đám lưu dân
đă sản xuất quá nhiều nhưng hưởng không
bao nhiêu”.
Tôi, đằng nào cũng là người thành thị,
nên mỗi lần về quê xứ của ông, đều
cố làm theo lời ông, nhóng nh́n qua những dăy nhà phố
chợ, t́m cái thực sự là vấn đề cốt lơi
của đồng bằng mà 50 năm trước ông
đă nêu ra: Quan hệ người với thiên nhiên và quan
hệ người với người.
Ở Sài G̣n, tôi như nhiều người khác,
thỉnh thoảng biết qua phương tiện
truyền thông những vấn đề miền Tây,
bằng kiến thức và lương tri trung b́nh cảm thấy
có điều bất ổn. Chẳng hạn, một
số người tán thành việc phát triển tầng
lớp “trung nông” có mười mấy mẫu đất
trở lên đang diễn ra ở miền Tây, v́ họ
mới có điều kiện vốn liếng máy móc
để sản xuất lúa phẩm chất cao và
đồng nhất, thuận lợi cho nhu cầu xuất
khẩu. Cứ mười người trở thành “trung
nông” th́ phải có vài trăm người mất đất
(đất chỉ chuyển đổi sở hữu
chứ không thể phát sinh thêm) và một hai người
kinh doanh gạo giàu thêm. Quá tŕnh tập trung tư bản này
xảy ra nhiều trăm năm nay ở nhiều nơi
trên thế giới, chứ không phải sáng tạo
“đổi mới” ở xứ ta, và nó đang diễn ra
bất chấp anh tán thành hay tôi phản đối. C̣n
những người nông dân, con cháu của những
người mở đất, không sống nổi trên
mảnh đất 5-7 công của họ, bán đất
để làm mướn, hoặc trôi dạt tha
phương cầu thực...
Ít nhất một phần tư dân số đồng
bằng hiện nay là nông dân không ruộng đất,
tức là khoảng 5-6 triệu bần nông vô sản. Sau ba
thế kỷ đấu tranh khai mở và giữ ǵn
đất nước, cách mạng và cải tạo quan
hệ xă hội, miền Tây đang có con số bần
cố nông vô sản đông nhất trong lịch sử. T́nh
h́nh kinh tế hiện nay sẽ đẩy thêm nhiều nông
dân đang nợ nần đến nước bán
đất, mất đất. Miền Tây tôi đang
ngồi xe máy lạnh chạy phom phom trên đường
nhựa hôm nay “buồn bă” hơn cả thời tôi theo nhà
văn Sơn Nam chèo ghe trên những con kênh đầy bông
súng.
H́nh ảnh “miền Nam sông rạch chằng chịt”
giờ đây được bổ sung bằng
đường sá mở mang, nhà cửa đông đúc.
Việc đào kênh và mở mang đường sá đem
lại những thay đổi kinh tế xă hội lạc
quan: sản lượng lúa tăng, dân cư đông hơn
với mức sống cao hơn. Nhưng nh́n bằng con
mắt của những chuyên gia môi trường, họ
thấy nhiều vấn đề bi quan: đào kênh
nhiều khiến t́nh trạng nhiễm mặn và
đất bị a xít hóa gia tăng, thiệt hại do
lũ lụt hay băo tố ngày càng nghiêm trọng.
Những vùng trũng ở ĐBSCL có hai chức
năng rất quan trọng là trữ nước lụt và
lọc nước, nhưng các chức năng điều
ḥa sinh thái tự nhiên này đă không c̣n hiệu quả
nữa. Cái lợi trước mắt liệu có bù
được tai họa dài lâu? Những vùng đất
trũng luôn ngập nước xưa kia là “quê xứ”
của rất nhiều loại động thực
vật, là một khu bảo tồn thiên nhiên hệ sinh thái
đặc biệt của đồng bằng.
Cách đây một hai thập niên, nhờ sự
đánh động, lẫn áp lực, của những
tổ chức quốc tế bảo vệ môi
trường và động thực vật hoang dă, dân chúng
và chính quyền địa phương nhận thức
phần nào giá trị của tài sản thiên nhiên ở
xứ sở ḿnh. Đến nay có thể thấy mọi
nơi đều đă biết tận dụng tài sản
đó: Phần lớn khu bảo tồn đang trở thành
khu du lịch giải trí. Người ta thậm chí tạo
ra, nhái theo “vườn chim” hay “rừng” hay “khu sinh thái”,
để kinh doanh ăn uống và giải trí.
Một ngộ nhận phổ biến là dân miền
Tây khoái lụt v́ có cá ăn. Nước tràn đồng theo
chu kỳ rồi rút dần ra biển quả thực là ân
huệ của thiên nhiên đối với miền Tây v́
nước giúp rửa phèn, cùng những chất có hại
khác mà nông dân dùng trong ruộng đồng vào mùa trồng
trọt, cũng như chất thải trong sinh hoạt
của dân cư, và để lại phù sa màu mỡ trên
đất. Cá và các thủy sản khác là một huê lợi
“trời cho” vào mùa nước nổi.
Thực tế những công tŕnh đô thị hóa (nhà
phố), giao thông (đường nhựa) và thủy
lợi (bờ bao) đă ảnh hưởng đến ḍng
nước tràn và đường nước rút khiến
cho chỗ th́ phù sa không lắng tụ được,
chỗ th́ nước lũ dâng quá đột ngột, quá
cao, gây trở ngại cho cuộc sống, thậm chí nguy
hiểm cho tính mạng dân chúng.
Người dân “quen” với lũ, “sống chung
với lũ”, là sự cố gắng thích nghi môi
trường để tồn tại. Dù sao nước
ngọt tràn về vào mùa mưa vẫn tốt hơn là
nước mặn lấn vô vào mùa khô. Chợ lại có
nhiều cá tôm! Những sáng sớm tôi đi dạo chợ
Cao Lănh, lân la tṛ chuyện với những người
bưng mấy cái chậu hay rổ cá rơ ràng mới đánh
bắt, tôi nghe họ nói: “Không ruộng đất, mới
trông mong nước nổi, đánh bắt (cá) mà qua ngày,
cực khổ, sống chết không chừng, cá ngày càng ít,
mà người đánh bắt ngày càng đông, không biết
làm sao sống nữa?”.
Môi trường thiên nhiên thay đổi là thực
trạng ở ĐBSCL, vừa là quy luật của thiên
nhiên vừa là nỗ lực của con người, là
đặc điểm quy định đời sống
của dân miền này. Ông bà ta đă phát triển những
tập quán và kỹ thuật canh tác thích nghi để
“sống chung” với sự biến đổi khắc
nghiệt theo mùa, khi không đủ nước, khi lũ
lụt, và ảnh hưởng theo mùa của điều
kiện nhiễm mặn và nhiễm phèn.
Ông bà ta đă “tin tưởng vào thiên nhiên”. Nhưng
chúng ta dường như đánh mất niềm tin đó,
không nhận ra đất và nước như tấm ḷng
cha mẹ ta, nhắm mắt quơ quào, không cần biết
đến tương lai cháu con. Cuộc biến
đổi môi trường hiện nay tuy phần nào là
biến đổi thiên nhiên (nước biển dâng, khí
hậu thay đổi, thủy lưu sông Cửu Long
thất thường) cộng thêm tác động thiếu
tính toán khôn ngoan, đang tạo ra những nguy cơ
vượt quá khả năng thích nghi của con
người, khiến lời cảnh báo của nhà văn
Sơn Nam về những nền văn hóa bị vùi chôn
đáng nhắc lại.
(Nguồn:
ThoibaoKinhteSaigon)