Một cuộc biển dâu
Sơn Nam
Linh đinh bèo
nước biết về đâu ?
Ðậu bến An Giang
thấy những rầu,
Bảy Núi mây liền,
chim nhíp cánh,
Ba dòng nước
chảy, cá vênh râu.
Có rau nội quạnh,
dân xanh mặt,
Không trái bần khô,
khỉ bạc đầu...
(Cử nhơn PHAN VĂN TRỊ)
Lão Bích day mặt qua
một bên. Nắng đổ xuống từng đóm
lửa đỏ như mấy cục sắt trong lò rèn
mới rút ra, chóa lên rồi bay bổng xa dần, trở nên
phiêu diêu, mát rượi như bầy đom đóm vô hình
bay trong đêm. Ðúng ba ngày rày, lão chỉ uống nước
chớ không ăn một hột cơm nào. Hai hôm
đầu, lão lấy cớ lả mệt. Hôm sau,
đứa con lão bới cơm đầy chén, lão hứa
sẽ ăn khi khỏe người. Chờ khi nó nằm
ngủ trưa, lão đổ cơm trở vào nồi,
thảy xuống nước vài hột để nhìn
bầy cá linh bu lại giành mồi, phóng mình lên... Giờ
phút này, bụng dạ của lão thơ thới lạ
thường, không biết đói là gì. hay là nó đã tê
liệt rồi ? Nhịn đói năm ba ngày liên tiếp
không phải là một lý do đầy đủ để
chết ; sức người chịu dai lắm nếu hãy
còn cảm giác biết đói. Ðằng này lão không đói
nữa : phân nửa thân xác của lão, từ ngực
trở xuống, dường như đã lìa. Từ
ngực trở lên, qua hơi thở phơn phớt, lão
ngỡ chỉ còn lớp da nhăn bọc xương khô. Bịnh
lão hoành hành từ mười năm qua đã giúp lão trút
nhẹ lá phổi, duy còn đôi mắt và hai lỗ tai.
Nhưng hai giác quan này đã biến đổi, hư hao quá
nhiều. Bây giờ là ngày hay đêm ? Ở đây là
biển trần khổ hay là ở trên bồng lai ? Trong
mớ ánh sáng lung linh, dường như có muôn ngàn
gương mặt khác nhau hiện ra không rõ rệt, dịu
hiền như ngọc nữ kim đồng, trong tiếng
tiêu, tiếng sáo, tiếng đờn cò, giữa bầy
phụng hoàng bay lượn.
- Quạ ! Quạ
đừng !
Lão Bích giựt mình
thở phì phào :
- Quạ à ? Vậy mà
cha tưởng là...
Thằng Kim bò trên
xuồng, hươi dầm định đập lũ
quạ đang liều lĩnh bu lại mũi xuồng. Lão
Bích lắc đầu :
- Nó muốn rỉa xác
tao thì cứ rỉa. Coi chừng chìm xuồng... Rán bơi
tới nữa... Con ơi !
Rồi lão nắm tay
nó mà kéo lại sát mặt :
- Thấy chòm cây, xóm
nhà nào trước mặt không ? Hừng sáng rồi hả ?
Thằng Kim hoảng
hồn, đoán rằng cha nó đang hấp hối. Mặt
trời sắp lặn. Nó bơi mạnh. Qua lượn
sóng to này nó hồi hộp, chưa kịp nghỉ tay là
lượn sóng khác tràn tới. Ðằng xa kia, ẩn
hiện trên ngọn sóng ngọn lúa xanh rì. Từ hồi
sáng, mặc dầu nó bơi liên tiếp, cảnh vật
chung quanh vẫn y hệt. Nước chảy hăng, tràn
lan từ bờ sông Hậu Giang ra vịnh Xiêm La, chảy
mãi về hướng Tây. Nó thắc mắc : nước
ở đâu mà nhiều quá, ngập đồng ruộng,
sâu cỡ hai thước, mênh mông không bờ bến như
biển khơi. Hồi hôm qua, lão Bích dẫn giải :
- Ðây vùng ruộng
sạ thuộc tình Long Xuyên. Hằng năm, nước lên
vài tháng rồi giựt xuống. Ði tắt như vầy
hơi cực nhưng không ai xét giấy thuế thân.
Giờ đây, nó
mới hiểu rõ sự thật của tiếng
"hơi cực". Nhớ lúc đi qua phá Ðại Ngãi
để vượt ngang sông dài Hậu Giang, nước
sâu, sông rộng nhưng nó cảm thấy dễ thở
hơn. Sông rộng có giới hạn, bơi non một
giờ là qua khỏi ; giữa sông nhiều cù lao nổi lên
giúp người đi đường vững tinh thần,
rủi chìm xuồng thì lội vô cù lao. Vùng ruộng sạ
này có khác ! Bờ Bến ở tận chơn trời,
nước tuy cạn nhưng có thể giết
người, nạn nhân dầu lội giỏi,
vượt năm bảy ngàn thước cũng không tìm
được một căn nhà sàn, một ngọn tre mà
nương tựa.
Mặt trời
xuống, ngày một thấp. Và rặng cây ban nãy biến
đâu mất rồi ? Nó tự hỏi. Mặt nước
xanh tươi, đám ruộng sạ của ai hiện ra
hàng trăm công đất. Lạc vào đó e ngọn lúa
vướng vào dầm khó bơi, nó quay xuồng qua phía tay
mặt. Sóng gió đà dịu xuống. Phía trước
mũi xuồng, lố nhố những đốm đen
ngòm, chuyển động như giăng ngang kín chân
trời.
Lão Bích nói vọng
lại, yếu ớt :
- Thấy bờ
bến gì chưa ?
Nó nghiêng tai nghe
tiếp.
- Ba để lại
cho con cái áo này... Yếu quá... ba ngồi dậy cổi áo
không được. Con..
Nó trố mắt. Hai
chân của cha nó im lìm như khúc gỗ bỗng nhiên cựa
quậy, giãy dụa.
- Sao... sao không cha ?
Thằng Kim la rú lên, bò
tới. Tay chân ba nó đã lạnh ngắt, mặt thì xanh đen.
Nó khóc không nên tiếng, nước mắt nước
mũi cứ tuôn xuống.
Ðằng xa... xóm nhà
hiện ra. Nó rú lên. Nhưng tiếng hú nghẹn trong
cuống họng. Chụp cây dầm, nó quơ lên trời
làm dấu hiệu.
... Một chiếc xuống ba lá rẽ nước tiến
lại, người ngồi trên xuống quát lớn :
- Gì vậy ? Té
xuống ruộng hả ?
- Không ! Ba tôi chết
rồi.
Khách nọ ngồi
xuống, rờ vào lão Bích rồi nhìn thằng Kim :
- Ở đâu tới
vậy ? Tội quá. Người này là ba của chú em à ?
- Dạ ở cù lao Ông
Chưởng...
Khách lẩm bẩm :
- Thì cũng ở trong
vòng tỉnh Long Xuyên... Biết sao bây giờ ! Ði đâu mà
lỡ đường như vậy ? Có bà con với ai
gần đây không ?
Thằng Kim chắp
tay lại :
- Ông giúp dùm tôi. Không ai
hết. Không ai hết.
- Ðể coi.
Khách quay lưng,
đưa tay ngoắc chiếc xuồng phía sau. Thằng Kim
đã hiểu những lằng đen ở chân trời khi
nãy là bầy trâu vô số kể đang lặn hụp. Trâu
quậy, sóng nước chuyển nghe đùng đùng.
Hơi trâu thở khì khì như cây rừng khi nổi gió. Hàng
trăm cặp sừng cong vòng, nhọn lễu nhô trên
bộ mặt ngơ ngác ba góc, giống hệt những trái
ấu khổng lồ.
Khách bảo em bé ở
xuống sau :
- Ðừng cho trâu đi
theo. Không khéo chìm xuống người ta bây giờ ! Mày
đẫn chú này lại chòi ông Hai Tích...
Ðứa bé đáp :
- Rồi ai coi
chừng trâu phía sau ?
Khách ngẫm nghĩ :
- Vậy thì mày
đưa một đỗi, gần tới nhà Hai Tích thì hú
một tiếng cho ổng hay. Rồi trở ra lẹ. Ngoài
này tao len trâu chậm chậm chờ mày...
Rồi day lại
thằng Kim :
- Chú em đi với em
này lại nhà quen của tôi. Họ giúp giùm cho.
* * *
Em bé bơi
trước. Thằng Kim theo sau, trong dạ buồn
điếng nhưng cũng khuây khỏa được ít
nhiều. Nó cúi đầu nhìn : tay chân cha nó đã rút lên,
mặt nghiêng một bên khuất dưới cái nón lá ; có
lẽ khi nãy ông khách nọ đã chú ý đậy mặt dùm
cho nó.
Ông khách bỗng bơi
xuống theo, kêu nó :
- Ngừng lại nghe
tôi căn dặn : thằng nhỏ đó sợ ma lắm.
Chiều rồi, đừng cho nó thấy. Chú em lấy cái
nóp này của tôi đem về nhà ông Hai Tích.
Không chừng sáng mai tôi về tới. Ðừng
buồn. Ông
Hai Tích cũng như tôi...
Hai căn chòi nằm
lú trên mặt nước. Khói cơm bay tỏa cuồn
cuộn, tản mác trở về phía mặt trời
mọc. Quạ đậu sắp hàng trên nóc nhà, há mỏ
kêu rồi bay bổng vòng quanh xuồng. Em bé rú lên :
- Ông Hai ơi ! Có khách
của chú Tư Lập nè !
Rồi nó quày quả
trở lại. Thằng Kim nói :
- Cám ơn.
Ðứa bé nhìn lại
trong xuồng thằng Kim :
- Sao ông này nằm
hoài... Kêu ổng thức dậy, tới bến rồi !
Thằng Kim méo
mặt, nước mắt lại tuôn xuống. Như
đoán được trách nhiệm giao phó nãy giờ,
đứa bé rùng mình, la lên một tiếng
"trời" rồi bơi đi tuốt.
Nghe thằng Kim
thuật lại hoàn cảnh của cha nó, ông Hai Tích
thở dài, gọi bà Hai nấu cơm thêm để
thằng Kim cùng ăn. Thằng Kim nuốt không vô ; hồi
xế trưa đến giờ tâm trí nó bận rộn vì
một câu hỏi mà nó không dám thốt ra : "Chôn ba nó
ở đâu ? Làm sao mà chôn ?". Bà Hai gọi ông Hai ra phiá
sau. Hai vợ chồng nói qua lại thì thào. Ông Hai trở ra
:
- Ý của cháu như
thế nào ? Miệt này, mùa này ai rủi ro thì cũng
vậy. Bác coi cháu như người nhà nên mới nói
thiệt. Phải chôn gấp nội chiều nay, lòng vòng chờ
sáng mai không lợi ích gì.
Thằng Kim hỏi :
- Thưa bác, chôn ở
đâu ?
Ðoán được
vẻ lo âu sợ hãi ấy, ông Hai Tích ngập ngừng :
- Nói chôn cho đúng
tục lệ chớ đất ở đâu mà chôn ? Tứ
bề là nước. Có hai cách : một là xóc cây tréo ở
giữa đồng rồi treo lên mặt nước,
chờ khi nước giựt mới đem chôn lại
dưới đất. Như vậy mất công lắm,
diều quạ hoành hành. Chi bằng bó xác lại rồi
dằn cây dằn đá mà neo dưới đáy ruộng...
Thằng Kim
đập đầu xuống sàn nhà, hai tay bứt tóc :
- Trời ơi,
phải biết vậy, ba tôi đi tới xứ này làm
chi...
Bà Hai Tích rưng
rưng nước mắt :
- Cháu đừng khóc.
Trời định vậy. Ở đây ai cũng vậy ;
người có của, ai tới xứ này ? Trách cha, trách
mẹ, trách trời là thêm tội. Cháu thắp nhang đi,
lạy không được thì xá ba xá. Bác ra tay dùm. Trời
chạng vạng, lát nữa tối tăm, khó lắm.
Bước ra sau hè
để coi bóng mặt trời rồi ông Hai Tích
lật đật trở lại phía trước, tay
cầm chai rượu. Ông dở cái nón che mặt lão Bích,
phun rượu kéo tay chân xác chết ra cho ngay ngắn.
Hai chiếc nóp gói kín
xác kẻ bạc mạng. Bà Hai vào nhà rút mười sợi
dây choại, chuyền xuống. Sau rốt, hai ông bà lum khum
khiêng xuống suồng cái thớt trên của cây cối xay
lúa cũ.
Xuồng rời
khỏi nhà, mỗi lúc một xa. Thằng Kim khóc đòi
đi theo... để tự vận. Bà Hai Tích nói :
- Lớn rồi, cháu
không phải là con nít nữa mà đòi liều mạng
dại dột như vậy. Coi như là xong một cái tai
nạn...
Thỉnh thoảng, ông Hai Tích
day mặt lại, khoát tay như ra dấu bảo
người trong nhà đừng trông theo. Biết cử
chỉ của mình vô hiệu quả, ông cho xuồng tẽ
qua một bên hông trong nhà không ai nom thấy cảnh
tượng đau xót cuối cùng. Ðôi mắt thằng Kim
mở rộng, trừng trừng. Cả mặt
nước giờ đây hiển hiện như con ác thú
khổng lồ há miệng ra nuốt trọn thân xác cha nó
rồi ngậm miệng lại, giận dữ vì chưa
no. Nhưng chỉ giây phút thôi ! Mặt nước trở
lại yên tịnh, phải chờ khi da trời tỏ
rạng sao Hôm, nắng vàng chìm xuống, cơn gió Nam
mới nổi lên lần nữa, triền miên đến
khi gà gáy văng vẳng.
Ngay bàn thờ
giữa, khói hương cháy đỏ. Ý của ông Hai và bà
Hai là cầu siêu cho vong hồn người bạc mạng.
Phần thằng Kim thì sau khi uống trọn gáo
nước lạnh, nó nằm ngả trên sàn, mệt
lịm, ngủ tự hồi nào. Nó mớ. Nó trở mình
đấm tay, đạp chân nghe rầm rầm. Ông Hai, bà
Hai lấy chiếc chiếu đắp cho nó.
Bà Hai nói :
- Tội nghiệp.
thân nó đơn chiếc mà gặp cảnh này...
Ông Hai cau mày :
- Biết vậy thì
tại sao hối nãy bà tiếc cái cối xay lúa ? Bộ bà
muốn cho ba nó nổi sình lềnh bềnh trên mặt
nước hay sao ?
- Ðừng nói nữa ông ơi. Tới
mùa nước giựt, bề nào ông cũng rán nhớ
hốt xương, chôn cất kỹ lưỡng dùm nó. Tôi
khổ lắm...
Ông Hai hớp miếng
rượu :
- Không cần...
Ðất ruộng này rải rác, Lũ khũ... xương
người ta với xương trâu, thứ trâu
"len" đi xa bị bịnh mà chết dọc
đường. Tới mùa cày ruộng, năm nào cũng
vậy, tôi gặp xương đó hoài.
- Rồi ông làm sao ?
- Thì cày đất
lấp lại cho lúa sạ mọc lên. Mình cứ
tưởng đó là xương của người
hồi đời Bàn Cổ... Chớ nhìn nhận rằng
nó còn tươi trẻ hơn bộ xương mà mình
đang mang đây thì... mình phải suy nghĩ cho phận làm
người của mình quá ! Mấy bữa đó, tôi
buồn, về nhà khảo tiền của bà để mua
rượu uống, bà không hiểu nên rầy tôi... Bà
nhớ không ?
Thằng Kim lại
trở mình, đập tay xuống sàn nhà...