Ðảng "cánh
buồm đen"
Sơn Nam
Từ thuở
nhỏ, Sáu Bộ theo một người bạn lên núi Cô Tô
để học đạo nhưng không có đạo nào
quyến rũ anh được lâu dài. Hết đạo
Ớt qua tới đạo Ðất ; từ giã ông
đạo Ðất, anh đến thọ giới tại
cốc của ông đạo Nằm. Chán ông đạo
Nằm, anh đi lang thang qua núi Dài với ý định
cuốc đất làm rẫy. buổi chiều đó, anh
ngồi trên phiến đá, mắt đăm đăm nhìn
cảnh núi rừng, chợt thấy một ông lão râu tóc
bạc phơ, tay chống gậy trầm hương
từ từ đi lại. Ðoán chừng đó là một
trong số trăm ngàn đạo sĩ ở vùng Thất
Sơn này, anh không để ý cho lắm. Nhưng ông lão
nọ bỗng dừng bước trước mặt anh,
nhịp gậy xuống đất ba lần, cười
lên ba tiếng lớn mà rằng :
Chim bay về núi
tối rồi
Sao không lo liệu còn
ngồi chi đây ?
Anh đứng
dậy, chắp tay chào. Ðạo sĩ ung dung nói :
- Chưa nghe lời ta
ư ? Thời kỳ này là thời kỳ mạt pháp...
Chim đã bay về núi, trời đã tối.
Anh đáp :
- Con chưa hiểu
rõ. Bạch đạo sĩ, mạt pháp nghĩa là
thế nào ? Phải chăng mạt pháp là người Pháp
tàn mạt ?
Ðạo sĩ gật
đầu :
- Khá khen cho con.
Hiềm vì con có chí mà thiếu tài. Nghe con nói, bần
đạo vui vẻ biết mấy như giữa trưa
nắng mà uống được nước Cam lồ.
Mạt pháp có nghĩa là thời kỳ giáo pháp suy
đồi, đạo đức của tiền nhân không
còn được thịnh. Tại vì nhân tâm rối
loạn ư ? Cũng phải. Tại vì bọn Phú Lang Sa
ư ? Thậm phải... Con hiểu sai nhưng mà nói
đúng.
- Bạch đạo
sĩ, đó là chuyện quốc sự của kẻ còn
nặng lòng trần tục.
- Nhưng ở đây
chúng ta chưa phải là tiên. Đạo sĩ nói.
Ðuối lý, anh cố
suy nghĩ để trả lời. Ðạo sĩ nói
tiếp :
- Thời buổi mạt
pháp nầy chưa có ai thành tiên hoặc gặp tiên
được. Ai nói ngược lại tức là dối
mình, dối người, dối với non cao, dối
với bể rộng... Muốn thành tiên thì phải dày công
tu luyện để ngày kia giữ được chức
vị cao.
- Bạch đạo
sĩ, công tu luyện ấy như thế nào... Chức
vị ấy gọi là chi ?
Ðạo sĩ nói
lớn :
- Gọi là chức
vị "chặt đầu Tây". Con nghe chưa ? Con
nghe chưa ? Xưa kia đức Nguyễn Trung Trực phá Kiên
giang. Lúc sa cơ, Người không mảy may úy tử.
Trước pháp trường, giặc khuyến dụ
trăm điều, hứa ban cho... ôi thôi bao nhiêu là bạc
vàng, chức vị ! Người cả cười,
chỉ xin thọ lãnh một chức vị : chức nào mà
Người có quyền chặt đầu tất cả
bọn Tây.
Giọng đạo
sĩ như nghẹn ngào :
- Hỡi ôi ! Dũng
tướng đã rơi đầu mà lời vàng ngọc
nọ mãi rền vang trong lòng người, khắp non cao
biển rộng... Chặt đầu Tây! chặt
đầu Tây !
Dứt lời,
đạo sĩ quay mình. Gió thổi mạnh. Lá rừng cát
núi bốc lên xoay tròn mờ mịt như khỏa dấu
chân, che dáng hình của đạo sĩ. Anh Sáu Bộ
tất tả chạy theo, đôi mắt chóa lòa như
vừa sống trong một giấc chiêm bao mầu
nhiệm.
- Sư phụ ! Cúi xin
sư phụ thương con !
Giữa muôn trùng
cỏ cây, anh chỉ nghe đá núi vọng lại :
- Chặt đầu
Tây ! Lời ấy không phải của ta nói. Con nghe không ?
Lời ấy của trời đất nói.
Thế là năm
năm sau, chàng trai trẻ ấy xuống núi. Tên Sáu Bộ
được sửa lại là Tư Hiền, Tư
Hiền chỉ mang theo cây roi dài một thước tám,
bằng cây trắc. Với cây roi ấy và đường
quờn Lưu Thủy, anh nghiễm nhiên trở thành chúa
đảng Cánh Buồm Ðen, hùng cứ từ mũi Cà Mau
đến hải phận Hà Tiên.
Sáng tinh sương.
Như thường lệ, Tư Hiền định cho ghe
chạy dài theo mé biển. Vừa tách khỏi hòn Tre, gió nam
thổi xuôi đưa anh về phía hòn Sơn Rái.
Kìa, một chiếc
ghe trôi bềnh bồng theo sóng, lá buồm sụ xuống,
cột buồm đứt hết dây chằng. Lập
tức anh cập lại đoán có người vừa
bị nạn. Trong ghe nọ chỉ thấy một ông lão
nằm mê man bất tỉnh. Sau khi được cạy
miệng uống hớp nước lạnh, ông tỉnh
lại nhìn dáo dác :
- Ông đây là ai ?
Tư Hiền đáp :
- Tôi là người
đi mò ngọc điệp ở hòn Nhạn.
Ông lão khóc nức
nở :
- Ăn cướp
đánh tôi. Cha con tôi đi Rạch Giá bán tôm khô, về ngang
đây bị nó chận lại giựt hết tiền,
bắt luôn con gái ; hẹn ba ngày sau đem trả lại.
Tư Hiền nói :
- Nó đi hướng
nào ? Lâu mau rồi ? Tôi bắt tụi bất lương này
đem về lập tức cho ông coi.
Tức thời
buồm mũi và buồm lái xổ ra. Tay anh siết dây lèo
thượng. Ghe phóng nhanh tới. Không mấy chút, đã
thấy một đốm đen trước mặt.
Anh thét to :
- Tụi bây coi tao !
Chiếc ghe
trước vẫn giương hai cánh buồm màu đen
chạy ngạo nghễ, khinh thường. Anh cho ghe sát
lại, nhảy qua quơ roi đánh mạnh khiến
sợi dây chằng ghe nọ phải đứt. Buồm
sụ xuống. Ghe chạy đảo nghiêng gần chìm.
Nghe vù một tiếng, Tư Hiền vội né mình. Biết
rằng gặp tay đối thủ lợi hại, anh bình
tĩnh chống đỡ. Chợt liếc phía sau, thấy
ngọn lao phóng tời, anh lách qua. Ngọn lao đâm trúng
bẹ ghe, ghìm sâu vào, tên nọ lỡ trớn té xuống
biển.
- Biết ta là ai
chưa ?
Chưa dứt
lời, Tư Hiền đã gài ngọn roi của tên còn
lại xuống sạp. Hắn cố sức gỡ lên
nhưng không xuể, rốt cuộc đành quì xuống :
- Nói thiệt với
ông, tôi là ăn cướp biển. Lâu nay tôi từng
gặp nhiều người tài giỏi nhưng chưa ai
bằng ông. Tên thiệt tôi là Năm Bùn.
Tư Hiền đáp :
- Tại sao đánh
một người già cả, nghèo hơn mình ? Con gái
của người ta mày giấu ở đâu ? Mau trả
lại. Ðồ du côn !
Năm Bùn năn
nỉ :
- Trăm sự
chỉ vì tôi chưa hiểu. Cô đó tôi giấu
dưới khoang hầm.
Tư Hiền rất
đỗi ngạc nhiên khi thấy nhan sắc khá lộng
lẫy của cô nọ. Cô quì xuống lạy tạ ơn.
Lập tức, anh bèn đưa cô sang ghe mình. Sau khi nhận
lời hứa tái ngộ với Năm Bùn tại hòn Ðá
Bạc, anh cho thuyền trở về gặp ông lão nọ.
Ðêm ấy anh ăn
cơm ở Rạch Cóc, tại nhà ông lão. Nhơn
bữa ăn, anh nhận thấy ông lão có ý tạ ơn mình
bằng cách gả con gái cho, nếu anh muốn. Anh viện
nhiều lẽ để từ chối. Trước lòng
chân thành của gia đình, anh hứa sẽ trở về
cưới, sau một thời gian hai năm.
- Kim Thoa ! Ðừng
buồn nghe em. Anh thề chết sống gì cũng trở
lại cưới em làm vợ. Bây giờ anh phải ra
đi. Anh đi sao thì về vậy...
Từ giã xong. Tư
Hiền cho ghe tách bến, nhắm hướng hòn Ðá Bạc
đúng theo lời hứa với Năm Bùn.
Thấy ghe của
Tư Hiền đến đúng hẹn, Năm Bùn vô cùng
mừng rỡ, khâm phục và ra lịnh cho bộ hạ
phải nghiêm chỉnh đón chào.
Ðể tỏ lòng thành
thật của mình, Tư Hiền đi hai tay không,
để cây roi dưới ghe. Chào hỏi xong xuôi anh
nhờ Năm Bùn cho bộ hạ lấy roi lên giùm mình. Lúc
ăn uống, Tư Hiền ao ước được
thưởng thức võ nghệ của đảng Cánh
Buồm Ðen. Ðể đáp tạ, anh biễn diễn cho ai
nấy xem một đường roi Lưu Thủy đã
học được trên núi. Lúc biểu diễn,
người ở ngoài tự do ném đá hoặc phóng dao vào
thử. Ngọn roi xoay chung quanh mình anh như nước
chảy không dứt, không rời, chớp nhoáng như gió..
Kết quả là
Năm Bùn sẵn sàng giao đảng Cánh Buồm Ðen cho
Tư Hiền làm đảng trưởng. Nhờ vậy
đảng được chỉnh đốn lại.
Hằng ngày, các bộ hạ
phải luyện tập võ nghệ cho tinh thông, cấm
tuyệt không xâm phạm tài sản của người chài
lưới ở ven biển. Hai kẻ thù chánh cần
đánh đổ không nương tay là đoàn tàu
"đoan" của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam.
Từ đó về
sau, nhiều tin tức mới lạ được làm
đầu đề bàn tán cho dân chúng miền duyên hải
Rạch Giá, Cà Mau :
- Trời ơi ! Hai
thằng con trai của ông X. bị ghe Hải Nam bắt,
tưởng biệt tích... Ai dè mấy ông Buồm Ðen
giựt lại được.
- Sáng hôm qua, có cái
chưn vịt tàu của tụi "tàu cáo" để
sẵn trên sân chợ. Tây hoảng hồn nhìn ra đó là
chưn vịt của chiếc ca nô tuần biển đi
mấy bữa rày chưa thấy về.
- Mấy ông Buồm
Ðen đốt ghe Hải Nam ở hòn Nhạn. Bên này chết
ba, bên kia chết trọn tàu...
Ba năm sau, có tin
đảng Cánh Buồm Ðen đã rã.
Người
đồn rằng : Chúa đảng vì quá giàu có nên trốn
qua Xiêm. Không tán thành ý đó, kẻ khác quả quyết
rằng chính mắt mình đã thấy xác chúa đảng
trôi tấp vào bãi. Từ sáu tháng nay, đảng Cánh Buồm
Ðen là đảng giả mạo.
Gia Ðình của cô Kim Thoa khổ
tâm hơn hết. Một đêm lạnh lẽo nọ, có
tiếng gõ cửa. Tư Hiền bước vào, ôm ghì
lấy người hôn thê :
- Anh phải về,
không bao giờ anh làm nghề này nữa.
- Tây tập nã anh, phãi
không ?
- Số là anh vừa
giết oan một người. Tụi ghe Hải Nam lên hòn
để mua heo, chừng kéo neo chúng không chịu trả
tiền ; anh đánh chết năm đứa. Nhưng
rủi thay gặp một đứa biết võ nghệ khá
cao. Anh đánh roi xuống. Nó đứng trên bãi, đưa
roi lên đỡ trúng. Ngặt anh xuống tay mạnh quá, nó
lún xuống bùn, ngã lăn trào máu miệng. Lúc hấp hối,
nó ngoắc anh lại mà nói : "Tôi không phải chủ ghe.
Tôi ở mướn mãn đời, giết tôi mà chi !".
Cảm động quá, anh cúi xuống xin lỗi nó, nó khoát
tay anh ra, nói tiếp : "Tôi tha lỗi thì được.
Còn vợ con tôi ở Hải Nam cũng đương làm
mướn, Làm sao anh xin lỗi được..."
Kim Thoa ! Em nghe anh nói
lại chưa ? Ðây là lần đầu tiên trong đời
mà anh đau đớn nhứt. Anh giết oan người
ta. Ngọn roi này, anh xuống tay mạnh quá, bị ô uế
rồi. Tội nghiệp, chết không nhắm mắt mà
ngón tay hắn còn chỉ về phía biển khơi, nơi
quê vợ con. Thấy phận người mà nhớ tới
phận mình, anh vội về đây.
* * *
Tháng hai năm 1946. Có
tin : Tây trở lại chiếm gần tới Rạch Giá,
chúng đã nhảy dù xuống biên giới Việt Miên
gần núi Sam, Châu Ðốc. Dân chúng sục sôi căm hờn
tập trung lại ngọn Cái Bắc để bày mưu
kế. Có đến trên ba mươi thanh niên tình nguyện
đi bắt sống bọn Tây nhảy dù ở xa cách quê
nhà hằng hai trăm cây số. Họ thiết lập
một bàn thờ Tổ quốc giữa rừng, lấy
củi tràm đốt thế cho trầm hương và
mượn mặt đất để làm đỉnh
đồng. Y phục của họ khác nhau, nhưng
giống nhau ở chất vải màu luốc luốc,
chứa chấp bao nhiêu rận. Giữa quang cảnh
mộc mạc, thiêng liêng đó, người ta thấy
một ông lão râu tóc bạc phơ chống cây gậy cao
khỏi đầu bước ra.
Ai nấy thầm thì :
- Ông Năm Lập
thợ câu của xóm mình !
Ông lão nọ bỗng
rưng rưng nước mắt :
- Không ! tôi không
phải Năm Lập. Tên thiệt của tôi là Sáu Bộ.
Có mấy năm đó, tôi lấy danh hiệu Tư
Hiền, cầm đầu đảng Cánh Buồm Ðen.
- Trời ! Chúa
Ðảng là đây sao ?
- Nói thiệt với
bà con, tôi mai danh ẩn tích. Hôm nay tôi phải ra mặt.
Nếu ngồi ì ở nhà, không ai làm gì tôi, nhưng tôi
cảm thấy nhục nhã như thiếu món nọ gì
đối với trời đất, núi non. Nếu xét tôi
có tội, anh em cứ giết tôi để tế cờ.
Bằng không thì cho phép tôi truyền lại bí quyết
nhiệm mầu của đường Lưu Thủy mà
thầy tôi dạy hồi năm mươi năm
trước. Ðường quờn này ít ai biết lắm,
lúc tôi diễn, bà con cứ ném cây, phóng dao vô mà không bao
giờ trúng tôi.
Ông đứng
thẳng người, hai tay chắp cây roi lên bái tổ
rất kính cẩn. Rồi thì vút một tiếng, ngọn
roi xoay tròn che lấp thân ông như dải lụa, như
nước từ trên thác tuôn xuống chấp chóa. Ðến
kẻ ngỗ nghịch nhứt cũng không dám ném cây vào
để thí nghiệm như ông cho phép.
Lại một
cuộc bàn tán náo nhiệt, vô trật tự :
- Học
được đường quờn của ổng,
chắc Tây về nước rồi. Thời giờ
cấp bách lắm !
- Ði bắt "Tây
nhảy dù" chỉ cần thanh niên lanh lẹn. Ông đi
không được đâu. Ðể tụi tôi đốn
tầm vông vạt nhọn, lẹ hơn...
Giọng ông lão nói
ngậm ngùi :
- Không lẽ tôi tự
vận. Bà con thương tôi. Nó là cây roi có chức vị
"chặt đầu Tây" của tổ sư tôi
truyền lại ở núi Dài, năm đó.
- Thôi, lộn xộn
quá. Ông cho tôi cây roi này để làm cán mác thì hợp thời
hơn, chặt vắn lại vài tấc, đầu kia tra
lưỡi mác thông. Có chất sắt thêm vô, ngọn roi
của ông mới xài được. Tôi biết là hư cây
roi, uổng lắm nhưng ông chịu phiền.
- Ừ. Làm gì thì làm,
miễn dùng nó được thì thôi. Thiếu củi
nấu cơm, chặt khúc nó mà chụm, lão đây cũng
không tiếc. Mấy cháu biết không ? Ðây là thời kỳ mạt
pháp.
Ðoàn quân ra đi
gấp. Làm sao họ có thời giờ để hỏi han
ông về một đôi danh từ xa lạ đó ? Họ
tản ra bốn hướng trời, ít người
được trở về xóm cũ. Sau đó vài tháng,
giặc vào đốt xém. Ông lão nọ chết vì không
chịu tản cư, lưu lại một tình cảm
lạ lùng, khó dứt khoát đối với những ai
chưa hiểu rõ hoàn cảnh đặc biệt của
phần đất Cà Mau tận cùng này.