T́nh nghĩa giáo Khoa Thư
Sơn Nam
- Từ đây tới
nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy ?
Thầy xă
trưởng đáp :
- Ở xóm Cà Bây
Ngọp lận ! Để tôi ra lịnh cho phó hương
ấp đ̣i tên đó tới công sở...
Thầy phái viên nhà báo
"Chim Trời" giựt ḿnh.
- Tôi là phái viên, đâu
có quyền hạn đó đối với quư độc
giả thân mến gần xa.
Thầy xă hỏi :
- Phái viên là ǵ vậy
thầy ?
- Là người thay
mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.
- À ! Bây giờ tôi
mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền
của nhà báo hả ? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở
lănh báo, đúng bảy bữa là có mặt nó. Nghèo không
biết thân lại c̣n bày đặt làm sang mua báo không
trả tiền !
Thầy phái viên cố
nén sự bực tức khi nghe người độc
giả thân mến của ḿnh bị thầy xă khinh khi ;
thầy hút thuốc suy nghĩ rồi lại hơi
buồn buồn mà nhớ đến sự thất bại
về tài chánh.
Ông độc giả
Trần Văn Có thiếu sáu tháng tiền báo tức là hai
đồng sáu cắc rưỡi. Từ chợ Rạch
Giá vô đây, thầy đă tốn gần ba cắc rưỡi
tiền tàu, tiền thuốc hút. Chuyến về lại
phải xuất thêm ba cắc nữa... Ông độc
giả nghèo nàn này chắc ǵ trả được một
đồng trong số tiền thiếu chịu nhà báo !
Nhưng đă tới
đây rồi mà trở về th́ uổng cuộc viễn
du Hậu Giang này quá ! Thầy phái viên quyết t́nh binh
vực thể diện của người độc giả
nọ :
- Không phải tôi
đi đ̣i tiền ! Tôi đi ḍ hỏi ư kiến bạn
đọc đối với tờ báo. Tiền bạc là
quư... Nhưng ư kiến của bạn đọc lại quư
hơn. Độc giả ở tới đâu, chúng tôi đi
tới đó.
Sau vài phút đi
tới đi lui, thầy xă gất đầu :
- Được. Để
tôi biểu thằng "Trạo" chèo tam bản
đưa thầy. Thầy nên dè chừng. Tên Trần
Văn Có nói mười, thầy tin một là vừa. Anh ta
công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà
nước Lang Sa gởi xuống công sở ; đi ăn
giỗ th́ nói chuyện Hít Le, chuyện nước Ư đánh
nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước
đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện
Tàu...
Thầy phái viên ṭ ṃ :
- Vậy th́ ông
độc giả của chúng tôi rành chữ nho ?
- Ai biết rơ
được. Anh ta nói có dây có nhợ, tích người
học tṛ nghèo tên là ngướ Thừa Cung ǵ đó...
chăn heo ; ông quan đại thần Lư Tích đích thân
nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy
râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi ! Hễ
gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như
thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái ǵ mà các anh hăy
trông người kia đi ngoài đường, mặt
đỏ gay, mắt lờ đờ...
Thầy phái viên
cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba
bốn lần như đánh trống chầu hát bội,
đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít :
- Hay quá ! Hay quá ! Tôi
thăm ông độc giả đó mới được.
Ổng làm thầy giáo hả thầy ? Nhờ thầy
đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen !
Ừ ! Ừ !
Bực ḿnh quá
chừng, thầy xă nghĩ : "Ông phái viên này kêu ḿnh
bằng thầy mà lại tưng bốc kêu Tư Có
bằng ông. Hay là ổng chê ḿnh không dám xuất tiền mua
báo như Tư Có. Chừng bận về, ḿnh mua vài năm
báo chơi cho biết mặt".
Thầy xă hối thúc
cho chú trạo sửa soạn quai chèo đưa thầy phái
viên đến ấp Cà Bây Ngọp. Thầy phái viên cám
ơn một tiếng nhỏ rồi cúi đầu
xuống nói rù ŕ như xa như gần, trong cuống họng
:
- Ờ ! Để coi các
anh hăy trông người kia đi ngoài đường,
mắt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo
xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ vẹo bên kia, múa
chân múa tay, mồm nói lảm nhảm... Lũ trẻ theo sau
reo cười chế nhạo... Đúng vậy, QUỐC
VĂN GIÁO KHOA THƯ lớp Sơ đẳng, Việt
Nam Tiểu học tùng thư... Sách náy do Nha Học Chính
đă giao cho ông Trần Trọng Kim, ông Đặng Đ́nh Phúc và
ông Đỗ Thận soạn... Eo ơi ! Cái buổi thơ
ấy đó nay c̣n đâu.
Đường đi
ấp Cà Bây Ngọp quá xa vời ! Chiếc tam bản nhún
xuống một cái "ồ" rồi nhảy tới
một cái "sạt" theo nhịp chèo hai chèo. Nắng
chang chang rắc vàng trên thảm cỏ hoang xanh ngắt. Vài
nhánh b́nh bát gie ra, quất vào bụi sột soạt. Xế
chiều, c̣ trắng phất cờ như đón
người khách lạ. Trích, cúm núm kêu ré lên. Con rạch thâu
hẹp lại. Chiếc tam bản lắc nghiêng như trái
dừa khô trên mặt nước đầu sóng gió. Ánh
trạo chèo một chèo, nghiêng ḿnh bên hữu. Rồi bỗng
nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên
đất khô bên bờ rạch. Chiếc tam bản lại
lướt nhanh trong ḷng nước quá hẹp, vừa
đủ lọt bề ngang.
Anh trạo mỉm
cười :
- Chèo như vậy
đi lẹ hơn. Mọi lần mùa hạn, nước
cạn queo, dưới sông đầy bùn non, tôi cưỡi
trâu trên bờ mà kéo. Chiếc tam bản đi như cộ
kéo lúa...
- Chú trạo biết
rành nhà Từ Có không ?
- Dạ, biết.
Tư Có ở một ḿnh, nuôi heo, giăng câu, ăn ong, nghe
nói y ở xứ Văng Long xuống đây tính bề dạy
học mà xin phép chưa được...
* * *
Buổi cơm chiều
ngon lành làm sao ! Ăn cá lóc nướng trui, uống
rượu "ông cọp". Anh trạo đă về,
Tư Có kềm thầy phái viên ở lại ngủ một
đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy
trở lại công sở mà đón tàu đ̣. Thếp đèn
dầu cá kéo thêm một tim thứ nh́ nữa, cháy khá sáng. Bếp
un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ
rơ từng sợi khói mịn màng như mành lưới
tơ giăng bủa khắp căn cḥi nhỏ hẹp.
Tư Có bỏ mùng
xuống, chun vô tấn ba phía rồi mời :
- Thầy Hai vô trong này
ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngoài muỗi cắn. Khói
như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh
bềnh trong thếp đèn dầu cá đó.
Ngượng
nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí
mùng, chun lẹ vào ngồi kế bên :
- Xứ ǵ lạ quá !
Anh Tư ở đây hoài sanh bịnh chết.
Tư Có đáp :
- Xứ Cà Bây Ngọp,
tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe
nói trâu "len" tới đây thất bại, phong
thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ
đặt tên kỷ niệm luôn... Bởi vậy dân t́nh
bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất
nổi cái trường học.
Thầy phái viên
trố mắt :
- Vậy à ? C̣n mấy
làng khác ?
- Đông Thái, Đông Hoà, Đông
Hưng, Vân Khánh Đông... không làng nào có trường hết.
Thầy nghĩ coi...
- Hèn chi miệt này
chỉ một ḿnh anh Tư là độc giả báo Chim
Trời của chúng tôi... Báo có thích hợp không anh Tư ?
- Nói chí t́nh, đó là
của người bà con ở Sài G̣n "đăng"
dùm tôi, ban đầu tưởng nói chơi dè đâu nhà báo
gởi xuống thiệt, xem cũng đỡ buồn.
Phần nhiều bài vở của mấy ông viết cao quá.
Tôi thường đọc cái trương Văn Uyển,
có bài thơ bát cú của cô Bích Lư vịnh cảnh sông
Hương. Hay quá lẽ ! về sau, ông Trần Bất
Diệt ở Cầu Kè họa vận...
Thầy phái viên
gật đầu, ừ lấy lệ, thật ra hồi
nào tới giờ đi cổ động cho báo Chim
Trời mà ít khi thầy đọc kỹ báo nhà. Tư Có
hỏi tiếp :
- Nhà báo Chim Trời
đông người không thầy ? Chắc là lớn lắm
? Làm sao mà thành chữ được.
- Có thợ chuyên môn ráp
từ chữ a, chữ b.
- Trời thần
ơi ! Biết tới chừng nào mới xong, chắc là
thợ đông lắm... C̣n mấy ông chủ nhiệm,
chủ bút, phóng viên... Chắc làm việc rần rộ ngày đêm.
Thầy phái viên
sực nhớ đến t́nh trạng loe hoe của toà
soạn, lại gật đầu lần nữa.
- Làm báo th́ cần
nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên ? Tiếc
là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó,
ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, tứ
cú. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy
lại tôi. Đó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy
c̣n nhớ không ?
Thầy phái viên
cười :
- Nhớ chớ. Làm
sao mà quên được ! Hồi nhỏ tôi hớt "ca
rê", tay xách ṭn ten b́nh mực đi học ở
trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt,
nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu
bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà,
nhớ trường học, nhớ làng xưa.
Tư Có nói :
- Chắc là thầy
muốn nói bài "chốn quê hương đẹp
hơn cả" chớ ǵ ?
Rồi chú đọc
một hơi :
- Một người
đi du lịch đă nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ
quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến
chơi đông lắm. Một người bạn hỏi :
ông đi du sơn du thủy...
- Đó đa ! Đó đa !
Anh Tư nhớ kỹ quá... Người du lịch
mới trả lời : ở chốn quê hương...
từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con
đường khúc khuỷu trong làng, cái ǵ cũng gợi
cho tôi những mối cảm t́nh chứa chan... Bài đó
có h́nh ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện
với mấy người khăn đóng áo dài.
- Th́ h́nh nào cũng
khăn đóng áo dài. Trừ ra cái h́nh thằng nhỏ
chăn trâu cầm roi : ai bảo chăn trâu là khổ...
Không, chăn trâu sướng lắm chứ.
Thầy phái viên
phụ họa theo như cùng hợp xướng :
- Đầu đội
nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa,
ngất nghểu ngồi trên ḿnh trâu, tôi nghe chim hót trong cḥm
cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ...
Rồi thầy kéo qua
những đoạn khác mà thầy nhớ :
- Hay quá ! Nhà báo bây
giờ không ai bằng. Văn chương như vậy là
cảm động ḷng người... Như cái h́nh ông già
đẩy xe ḅ lên dốc, có hai đứa học tṛ kéo dây
tiếp sức. Trời nắng to. Đường th́
dốc. Một ông lăo đẩy cái xe lợn. Trên xe có ba
bốn con lợn to, chân trói bụng phơi và mồm kêu eng
éc...
Tư Có vỗ trán :
- C̣n ông già khuân
tảng đá nữa, thấy mà thương : Trời
nhá nhem, chạng vạng tối, tôi thấy một ông
cụ già h́ hục khuân tảng đá. Ông cụ nhắc lên
để xuống đến bốn năm lần mới
đem được từ giữa đường
đến chỗ bụi cây mà bỏ đấy... Lăo
đi lỡ vấp phải tảng đá này, sầy
cả chân đau lắm nên khuân bỏ vào đây, sợ có
người vấp nữa chăng.
Thầy phái viên
lại không chịu rằng ḿnh kém trí nhớ :
- Ngang h́nh ông già đó,
trương phía tay trái có bài chọn bạn mà chơi,
thói thường gần mực th́ đen. Cha chỉ ngón
tay, con đứng khoanh tay cúi đầu mà nghe. Dưới
chót lại có hàng chữ : Ở bầu th́ tṛn, ở
ống th́ dài.
Tư Có gất
đầu :
- Đó là ngụ ư răn
he gương tốt thói xấu. Phải siêng năng
như Sửu chăm học, ngồi bên đèn mà
đọc sách ; đừng lười biếng như thằng
B́nh đánh ṿng. Phải bền chí học hành. Ờ
thầy phái viên chắc nhớ cái h́nh con kiến tha mồi
! Văn chương nghe như đờn Nam Xuân : Nước
mềm, đá rắn thế mà nước chảy măi
đá cũng phải ṃn. Sợi dây nhỏ, cây gỗ
lớn, vậy mà dây cưa măi gỗ cũng đứt. Con
kiến nhỏ, cái tổ to, thế mà kiến tha lâu
cũng đầy tổ. Người ta cũng vậy...
* * *
Không ai bảo ai, hai
người lại nằm xuống lim dim. Tuổi của
họ đă quá ba mươi ! Nước chảy măi mà sao
đá không thấy ṃn? Sợi dây cưa măi, gỗ chưa
đứt mà sợi dây sắp đứt trước.
Sự nghiệp của họ nào đă có ǵ : Kẻ mến
cái thú ở nhà quê, người lận đận
với cái thú ở kẻ chợ.
Nằm măi không ngủ
được, thầy phái viên lắng nghe những
tiếng động trong nhà, giữa tiếng mọt
nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa
vơng, bất chấp tiếng chuột chạy sột
soạt và nhất là tiếng muỗi rừng lộng hành
kêu vo vo, thầy mơ lại những ngày năm nay tôi
lên bảy, tôi đă lớn, tôi không... lêu lổng nữa.
C̣n đâu mùi hương của những quyển sách
mới bao b́a kỹ lưỡng nhưng vài ngày sau đă
rách b́a ! Làm sao nghe được tiếng phập phồng
trong ngực của đứa bé khi trời mưa to,
đi học trễ, run rẩy bước vào
trường rồi cổi áo phơi ngay trong lớp... Đây,
thầy giáo mặc đồ bà ba, lâu lâu bước ra
khỏi lớp để chào hỏi khi thầy xă, thầy
cai tổng đi ngang qua. Một đôi lúc, thầy giáo quá
cay nghiệt đă dùng thước đánh vào những
đầu ngón tay non yếu, hoặc hươi cây
thước bảng...
Dầu sao đi
nữa, những kỷ niệm xa xưa vẫn vui, vui
như một lũ học tṛ giành nhau chụp cho
được cây dùi trống, đánh thùng thùng báo hiệu
giờ vào lớp.
Giọng Tư Có nói
nhỏ :
- Ngủ chưa,
thầy phái viên ?
Thầy phái viên yên
lặng, trời mới mưa, các chỗ trũng
đầy nước cả nên cóc và nhái kêu ính ỏi.
Vài giọt mưa rớt nhẹ xuống đất... Và
rơi trên rạch Cà Bây Ngọp trước nhà. Hồi
năm nào, thầy là giọt nước trong lành đó, bây
giờ nó đă trôi xa, ra sông, chứa đựng rác
rến, chảy hăng ra biển. Ừ, hoạ chăng
đó là con đường hiệu quả nhất là
được sớm bốc thành hơi, đầu thai
trở lại nguồn... Nghĩ vậy, thầy khoan khái
mỉm cười ngồi dậy hỏi :
- Ngủ chưa anh
Tư ?
- Chưa !
- Tôi năy giờ cũng
vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà
không thấy mệt.
Im lặng một
hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một
tiếng thở dài :
- Biết lấy ǵ làm
sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt t́nh nghe coi...
Chắc thầy tới đây thâu tiền.
- Đâu có ! Đâu có ! Ḿnh là
bạn đời với nhau...
- Thầy hiểu
cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong...
nhờ thầy đem về Sài G̣n gọi là tiền
của tôi trả cho nhà báo. Tôi "đăng" là v́ ái
mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy
thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho
đủ bộ.
- Anh Tư đừng
ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc.
Lâu lâu ḍ nơi mục Thư tín không chừng có lời
của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng
đ̣i tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu
rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi
hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ
gởi tặng anh Tư một số báo, hoài hoài cho
tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng
cảm động :
- Thôi thầy ngủ
lấy sức để mai về b́nh yên. Khuya nghe chồn
cáo cộc kêu, thầy đừng giựt ḿnh : Ở
đây miệt rừng, không có... xa xa th́ nghe tiếng chó
sủa trăng.
Thầy phái viên
cười ḍn, tưởng tượng cái cảnh
biệt ly ngày mai "Ôi ! Cái cảnh biệt ly ở
xóm Cà Bây Ngọp sao mà buồn vậy!". Vĩnh
biệt th́ đúng hơn. Nghe nó buồn như một
giọng ḥ, một câu rao Vọng Cổ, nhưng thầy
chưa muốn nói ra, giờ nầy.