Hương rừng
Sơn Nam
Sống ở rừng
U Minh Hạ từ lâu rồi mà Hoàng Mai hãy còn có cảm giác
như lạc loài tận đâu đâu, bước chân
đi không vướng đất. Ví nàng như cánh bèo rày
đây mai đó thì không đúng lắm : có lẽ nàng như
đoá hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nhưng
loại hoa sen thông tục quá, lại thường lọt
vào tay phàm ! Ðằng này, bẩm sinh nàng thuộc về
một phẩm chất thanh cao hơn.
- Tằng tổ nhà ta
vốn họ Trần, nhờ dày công phò chúa từ Thuận
Hoá đến đây nên được cải ra họ
Nguyễn, Niên mỗ, ngoạt mỗ, quân Tây Sơn
đến mãi tận chốn rừng già này, chúa Nguyễn
đành ra khơi tìm nơi cứu viện. Thảm hại
thay ! Tằng tổ nhà ta tuổi già, nhuốm bịnh không vượt
biển hộ giá được, đành cam lỗi
đạo quân thần, giả dạng lê dân, nương
náu nơi chốn thanh lâm u cốc. Người được
phong đến chức ngự y. Gia phổ ghi chép rành rành,
nói xứ này, chỉ dòng họ ta là có gia phổ, đó con.
Cha của nàng
thường nhắc nhở như vậy.
- Là quan ngự y,
cớ sao tằng tổ ta không tự chữa bịnh
được. Hẳng là bệnh nan y ! thưa cha...
Bao lần nàng
ướm hỏi như vậy nhưng không dám.
"Thuộc dòng hoàng phái nhưng sao triều đình không
chú ý tới mà ban cho chút bổng lộc ?". Ðó là nỗi
thắc mắc triền miên của nàng khi thấy cha già
chuốt tre đan giỏ mà độ nhựt hoặc
ngồi buông cán câu bên bờ trúc, giữa trăm bầy
muỗi rừng.
Thỉnh thoảng, cha
nàng nói khẽ như thanh minh, tự an ủi :
- Hoàng đế
đang tức vị thuộc dòng ngụy, do tân trào
dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương này
đã bị lưu đày nơi hải đảo Bòn Bon,
bặt tăm nhàn cá. Nhận chức hương giáo trong
ban hội tề làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là
cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của
tân trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn bầu
với cây cỏ, gió trăng.
Ngày ngày lớn khôn,
Hoàng Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái
của mình. Cội hoàng mai cổ thụ trước sân, há
chẳng là một bằng cớ ? Bao năm rồi, nó
vẫn bền gan khoe sắc khi gió Tết thổi về ;
vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống
hoa vương giả lạc loài ! Bản Nam Bình réo rắt
trong ruột cây đàn thập lục chỉ để
riêng cho nàng thông cảm đó thôi... Nhưng cơ trời
không ai ngờ được, tránh được. Mây
đẹp của đỉnh Ngự còn có khi tan,
nước yên lành của dòng Hương thường
bị gợn những làn sóng nhỏ. Năm ngoái, năm
kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi
chợt soi mặt vào lu nước mưa, nàng bắt
gặp cái màu trắng trong leo lẻo của dàn da mình.
Miệng chúm chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen
huyền ; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây hây,
mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy.
Nhưng... lạ kìa ! Hàng chục sợi tóc thi nhau tuôn
xuống.
Gió nhẹ thoảng
qua ; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng
bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm
biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm
lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa
đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa
trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn.
Nàng giận dỗi.
Thân phụ nàng - Ông
hương giáo - chạy tới. Nàng soi gương, không
day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy :
- Không gì lạ đâu,
thưa cha.
Ông hương giáo
đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm
cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che
giấu được cơn buồn. Chiếc
gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu
ửng đỏ lạ thường, không biến
đổi dầu khi nàng sợ hãi.
- Từ hồi
tấm bé, làn da của Hoàng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm
sự đều do đó mà ra...
Ông thở dài, cũng
như ông đã thở dài hồi mấy năm
trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm
nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để
sưởi rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm
đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái
nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba
lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi
thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối
mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng
buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung
làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách.
Bịnh của nàng,
ông doán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra :
bịnh nan y - bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái năng
đi duốc vì ở rừng này... "phong" nhiều
lắm. Quyển gia phổ ngủ từ lâu đời
dưới lớp bụi trên bàn thờ được
vời xuống. Lật ra kính cẩn dưới ánh
nến bạch lạp. Hơn trăm năm qua, kiếng
họ Nguyễn chưa ai nhiễm chứng ấy, rõ ràng
không phải bịnh di truyền. Ông suy luận :
- Có thể nhà mình
đắp nền trên ngôi mộ xưa của ai. Và tự
ngày xưa, ai dám, chối rằng khu rừng này không là bãi sa
trường mà người thắng kẻ bại
đều lẫn lộn trong đống xương Vô
Ðịnh đã hóa ra cát bụi :
Trang phụ lục
thứ sáu của quyển gia phổ thứ nhứt còn
thố lộ vài chi tiết khó hiểu, viết bằng
chữ nôm :
"Ðến Ngạc
Ngư Ðàm tức Ðầm Sầu, Ao Sấu, hơi
sương lạnh buốt, chướng khí xây thành. Khách
hỏi : loại Ngạc Ngư (cá sấu), từ đâu lạc
vào đầm ? Kẻ thổ dân thưa : không ai rõ. Chúng
đến đây như án ngữ nẻo đường
qua truông quỉ. Nơi ấy, muôn nghìn ma quái như ẩn,
như hiện. Lại có loài ong dị thường năng
về làm ổ ; loại ong này lưng nhuộm ngũ
sắc, vượt thiên lý để hái nhụy trăm hoa
đem về luyện Ngọc. Người phàm chưa ai
đến gần được.
Chúng không sợ khói,
hửi nhằm hơi kim khí ô trược là chúng ào ra
như giông tố giết cho kỳ được kẻ
ngạo mạn. Quan ngư y họ Trần biết
được tin ấy bèn sai quân sĩ bày mưu kế
hòng cướp ổ ong nọ, đoạt loại
Ngọc thiên nhiên hiếm có đem về luyện thuốc
trường sinh..."
Tư Lập, tay thanh
niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo
được ông hương giáo mời về nhà, bày
rượu thịt thết đãi, đối xử
như thượng khách.
Trang gia phổ lại
giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư
Lập nghe. Tư Lập gật đầu.
Trong rừng già này, bên
kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy
trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương
nai mà cạo lấy mật nhưng không hiệu quả.
Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp
như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo.
Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú
bán tín bán nghi vì thấy "ngọc" chỉ là mớ
nhụy bông quến lại thành ké mà loài ong dự trữ
bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời
Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông
chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh
mớ "ngọc" để luyện, hy vọng
rằng khi đúng một ngàn ngày nó sẽ trị
được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập
như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra
vào nhìn trộm hình dáng giai nhân rồi nằm trằn
trọc... mãi đến một đêm nọ, lúc đứng
ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú
nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy
:
- Anh Tư ở
đây vui chớ ? Nãy giờ em không dám hỏi.
Chú nhìn kỹ : không
phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai cô
gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ
thầm thương.
Nàng nói tiếp :
- Cha của em dặn
em gọi bằng anh. và đừng làm gì anh buồn.
Chú hiểu ý. "À té
ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình". Chú
đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu :
- Em hơi mệt,
như vậy...
Rồi nàng nâng tay áo
lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài :
- Anh nắm cái chéo tay
áo này, em cũng đủ vui rồi.
Cảm động làm
sao ! Ngạc nhiên làm sao ! Một mùi hôi hám từ trong tay áo
bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp.
Tư Lập thấy rõ ràng bên trong : ngón tay của nàng
rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải
nhỏ vấn khéo léo thay thế.
Hôm sau, chú viện cớ ra đi
lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề
ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú
giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở Long Xuyên.
Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc
mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa
cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại
thì không được.
Chú lại trở
về.
* * *
Sông Trèm Trẹm
bắt nguồn từ xóm Cán Gáo chảy về phía Nam, qua
xóm Tân Bằng rồi đổ ra sông Ông Ðốc, hòa mình vào
vịnh Xiêm La.
Thằng Kim nóng lòng,
không biết Tư Lập muốn dừng lại làm ăn ở
khúc nào. Giây lâu, Tư Lập nói:
- Rừng U Minh còn
nhiều bí mật ! Ðừng lo mà. Tao hứa dẫn mày
tới chỗ này vui lắm, đừng sợ chết
đói. Có tao.
Xuồng ngừng
lại giây lát nghỉ trưa rồi mái dầm lại
tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy
chảy mạnh nhưng tứ bề khuất gió nên không
gợn sóng. Ðôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình lại, giao
đầu, bắt tay nhau che kín bóng mặt trời.
Khách đi
đường ngỡ mình lạc lối trong hang, thứ
hang thiên nhiên, bất tận. Có tiếng vượn hú.
Từ bên này, con vượn bồng con, nắm sợi dây
rau câu, lấy trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên kia
để hái trái rừng. Trái quá chát, vỏ quá dày,
vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh. Trái
vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ,
lơ lửng. Lưới rung rinh không đứt hẳn ;
con nhện hoảng hốt, thả sợi tơ dài, sa
xuống. Chợt thấy mặt nước, nó toan rút lên.
Nhưng trể quá rồi ! Con cá bông phóng mỏ theo, táp
mạnh. Thằng Kim ngỡ đó là con trăn. Cá lớn
bằng cây cột nhà, vảy xanh vảy trắng thêu
từng vòng ngời lên khắp thân mình. No mồi, cá lặn
sát đáy, lội nhanh. Bầy cá con hối hả di
chuyển theo mẹ, hàng trăm con lấm tấm như
rắc cườm đầy mặt nước, mất
dạng trong bóng mát đằng kia. Bờ sông im lìm, mặt
nước thẫn thờ trả lại bóng dáng hiền
hòa của cây chồi mọc sát mé bãi ; bông vừng buông thõng
xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối
tiếp nhau như bức mành mành. Nhánh vừng khó cắn,
lá vàng rụng mất hẳn. Ðôi đọt non nhú lên,
mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì
thiếu nắng ; ở xa, trông như những cánh
bướm khổng lồ đang phập phồng,
ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã chớm
bay.
- Kim, mày biết
nước sông này màu gì không ?
- Ở dưới
sông, giống như màu máu bầm. Múc lên tay coi thì như
nước trà pha đậm.
Tư Lập day
lại :
- Hồi xưa, có
người nói nó giống như cà phê đen. Ờ... mày
uống cà phê lần nào chưa ?
- Chưa, chú Tư à.
- Bán thiếu gì,
tại chợ Thới Bình. Dân ở chợ là người
mới tới mua bán lập nghiệp, họ chưa dám
đi sâu vô rừng làm ăn như tụi mình bây giờ.
Họ nể nang dân phía này lắm.
- Sao vậy, chú Tư
?
- Vì dân này là dân cố
cựu, phá sơn lâm, đâm Hà Bá dọn đường cho
họ tới sau làm ăn. Con nhà tướng đi mở
đường máu mà!
Tư Lập vừa
nói vừa vói tay đập sau lưng. Thằng Kim đã
hiểu nghĩa mấy tiếng "mở
đường máu". Ba bốn đốm máu đỏ
ngời : mấy con muỗi vừa bị đè nhẹp
xác.
Nó sực nhớ
tới bầy muỗi bu quanh nó từ mấy ngày rày. Ban
đầu, nó bực mình, đập giết thẳng tay,
phải buông dầm khiến xuồng lủi vô bờ.
Mổi lần như vậy, Tư Lập day lại :
- Cứ bơi lẹ,
muỗi cắn ít hơn. Ở lầy quầy mình bị
cắn nhiều mà không đi tới đâu hết.
Xuống xuồng để bơi chứ đâu phải để
đập muỗi !
Nghe lời Tư
Lập, thằng Kim bấm môi chịu đựng.
Vài tiếng gà gáy
văng vẳng, hưởng ứng nhau phá tan bầu không
khí tĩnh mịch. Vòm cây lần lần trống trải
nắng rớt từng mảng, ngưng đọng không
chịu trôi theo dòng nước ngày càng chảy hăng. Bên
bờ, nước đổ róc rách theo con lạch nhỏ,
vỏ tràm trôi lềnh bềnh trắng. Thằng Kim nôn
nức :
- Tới chỗ
nghỉ chưa, chú Tư ?
- Chưa. Hai voi
nữa. Mày nhớ không, hồi sáng tới giờ mới
qua có sáu voi.
Hai voi,
đường còn xa. Thằng Kim yên lòng vì sẽ
đến chỗ nghỉ trước khi trời sụp
tối :
- Chú có bà con ở
đây hả ?
Tư Lập cau mày
không trả lời, mở gói thuốc ra vấn hút. Ðó là gói
thuốc mà chú hứa tiết kiệm, để dành hút khi
tới nơi.
Thằng Kim đoán chừng Tư
Lập đang suy nghĩ nhiều. Chú lẩm bẩm :
- Ừ, bà con hay là
người dưng, chuyện đó không quan hệ.
Nhắc tới tao buồn quá, muốn quày trở lại
bây giờ. Nhưng đã tới đây rồi không lẽ
lại trở về. Tao không muốn kiếm nhà quen. Ở
gần xóm đông thì bất lợi, ở xa quá cũng
hại. Mày tin tao. Tao không dại gì trở lại đây mà
tìm cái chết... Ờ, mày họ gì ? Mấy ngày rày, tao quên
hỏi.
- Họ Trương
hay họ Trần gì đó, tôi quên rồi. Nghe nói hồi
đó ba tôi đổi họ.
- Ối ! Họ gì
cũng được, miễn tới chừng
người ta hỏi thì đừng trả lời lập
dập. Nói vậy chớ ai xét hỏi. Tao có quen với vua.
Hồi xưa, có người ở xóm này được
cải ra họ Nguyễn cho giống với họ vua...
Họ nói vậy hay lắm.
Thằng Kim ngơ ngác
hỏi :
- Bà con với vua sao
lại ở đây ?
Tư Lập không
trả lời. Chú bơi mạnh, mũi xuồng quẹo
vô bờ, phía trái. Vàm mương nhỏ hiện ra. Chú nói :
- Mày nghỉ tay đi.
Tới phiên tao rồi...
Ngồi trước
mũi, chú bơi phía mặt vài dầm rồi trở
lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Xuồng lướt tới
ồ ồ. Gặp dây, gặp nhánh cây cản mũi, chú
bứt, bẻ rôm rốp. Gặp nước cạn, chú
đứng mà chống hoặc quì trên sạp xuồng,
ngả mình tới lấy trớn. Thằng Kim vui
sướng quá. Lúc này nó khỏe tay, dầu muốn
tiếp sức với Tư Lập cũng không
được. Mũi xuồng quá nhỏ, nào đủ
chỗ để hai người cùng ngồi ngang nhau.
Hơn nữa, bơi xuồng theo lối mới này nó
chưa quen. Mặt trời sụp xuống thấp,
rọi thẳng từ trước mặt. Con rạch quá
nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa nối
liền qua những lung, bào, tròn tròn méo méo như hình mấy
cái bao tử, gan, lá lách... Sậy mọc khỏi
đầu.
Hương rừng
ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen
thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho
kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt
ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ
hồ không còn chiếc lá nào cả ! Trên hàng vạn nhánh
nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà
sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước
mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám
nói là rừng âm u ? Bông kết oằn sai, mịn màng,
trắng tuyết ; đài, cánh đâu không thấy chỉ
thấy toàn là nhụy ngọt.
Nó buột miệng :
- Rừng cây gì vậy
? Chú Tư.
Tư Lập day
lại cười vang :
- Thằng quỉ !
Hửi mà không biết mùi mật ong sao ? Tràm chớ
giống gì ! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban
xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù
sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say
thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà
luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm
nay...
* * *
Tư Lập ngâm mình
dưới bưng nãy giờ khá lâu rồi. Nước dâng
lên nửa ngục. Hai tay chú quậy dưới bùn, chân bò
tới lui, bọt nước sôi ùng ục. Chú rút lên
một cây búa to tướng, nói huyên thiên :
- Nó còn nguyên, mới
tinh. Bộ trái đất xoay tròn sao mà ! Hồi năm ngoái
tao nhớ rõ ràng, nhận ở gần gốc cây tràm bên kia.
Bây giờ nó chạy qua bên này. Ðể tao rửa sạch cho
mày coi. Cam đoan không có một bợn sét, khuất
dưới lớp bùn non, mưa nắng không sao thấu
tới. Sét ăn hư hỏng là khi nào mình giữ không kín.
Lòng người cũng vậy... Mày chưa hiểu hả
?
Thằng Kim thật
tình không hiểu câu nói lắc léo của Tư Lập. Nó
không cần tìm hiểu. Cây búa khiến nó ngạc nhiên
hơn : cán dài cỡ năm tấc, lưỡi cao hơn
hai tấc, bề ngang lưỡi búa trên một tấc
rưỡi, lớn như mấy cây búa thần mà các ông
tướng hát bội thường vác ra khi đánh
trận.
- Cầm thử coi
nặng không ? Tay anh hùng mới cử nó được.
Tạo ra lúa gạo, xuồng, chèo là nhờ nó. Nên nhà nên
cửa, nên đất nên vườn, nên chồng nên
vợ, xưng hùng xưng bá cũng nhờ nó.
Tư Lập nói
tiếp :
- Ðói bụng chưa ?
- Hơi đói. Nãy
giờ tôi lưỡng lự ; gạo còn chừng hai
nắm, không lẽ nấu cháo. Hay là mình kiếm nhà nào
mượn đỡ.
- Mượn gạo
mà ăn, xưa quá ! Ở xứ này, tao không muốn gặp
mặt ai hết. Con người ta chết... không phải
vì thiếu gạo. Tới lớn, mày hiểu câu nói đó.
Bây giờ đi với tao tìm nhà quen, bảnh thì mày đi
trước một lần coi !
Nói vậy chớ
tư Lập bước trước, đạp lên
choại, lên dớn nghe sột soạt. Thay vì đi
thẳng lại phía rừng tràm trắng tinh, thơm ngào
ngạt, Tư Lập quẹo trở về phía rừng
thấp lè tè, cây cối mọc so le hỗn loạn. Bùn non
ngập mắt cá. Muỗi bay lợn cợn, vướng
vít dưới chân cây còn u tối. Tư Lập khuyên
nhủ :
- Ráng chịu cực
vậy ! "Lô" rừng tràm đằng kia là của
người ta. Rừng chồi phía này mới là của
mình. Vắng hai năm nay, tao ngán rồi, không muốn
nhớ lại cái mùi nhụy tràm.
- Sao vậy ?
- Ðừng hỏi
nữa. Tao muốn lánh mặt người quen. Mai
chiều, có lẽ mình qua nơi khác. Gió thổi hiu hiu,
buồn quá.
Tư Lập thẫn
thờ đôi mắt rồi bỗng nhiên khoát tay, ra dấu
im lặng. Chú ngồi nép xuống. Thằng Kim cũng
bắt chước, cúi đầu, ái ngại. Tư Lập
cầm tay nó mà nói khẽ :
- Ðừng động
đậy, thở nhè nhẹ. Nó kìa...
Thằng Kim ngớ
ngẩn, liên tưởng đến thứ tai nạn
khủng khiếp :
- Co... ọp hả ?
- Nói bậy xui xẻo
! Ong mật.
Và nó định
thần khi Tư Lập nói rõ thêm :
- Ong mật... đi
ăn bông. Bay rề qua rề lại, thấy chưa,
thấp chủn trên đọt sậy kìa.
Thằng Kim mừng
rỡ :
- Ngộ quá ! Ổ nó
ở đây đây, hả chú. Làm sao kiếm
được ? Ý ! Nó lớn bằng hai con ruồi.
Om sòm cái miệng !
Về chống xuồng lại đây mau, tao chờ !
Nhớ cái hộp quẹt máy. Thằng Kim hối hả làm
y lời. Trở lại chỗ cũ, nó chợt nghe tiếng
"hì" ở phía rừng tràm. Té ra nãy giờ Tư
Lập lội tắt qua mương đi lại
đằng ấy.
Chú vội ngồi lên
xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn :
- Bậy quá ! Nó
"đi bông" tới đây rồi mất dạng.
Chờ một hồi nữa coi.
- Ði bông là gì ? Chú
Tư.
- Là đi hút nhụy
bông... kìa mê quá !
* * *
Một con ong rồi
hai con ong bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những
rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai
đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy bông.
Ong vừa qua khỏi chừng mươi thước. Tư
Lập hối hả bơi xuồng theo. Nhưng hai con ong
nọ lại đáp xuống, mất dạng. Chú nói :
- Ðây là trạm thứ
nhì của tụi nó. Rán chờ chút nữa. Chém chết tao
cũng ăn được ổ này.
Sau đôi ba lần
theo dõi rồi dừng lại như vậy, Tư Lập
bỗng cười vang, múa men tay chưn như đứa
trẻ thấy kẹo. Hàng trăm con ong bay chập chờn
trước mặt, đáp xuống, vọt lên cao, không
dời chỗ. Chú ngóng xem hướng gió trên ngọn cây, ra
lịnh cho thằng Kim đứng im rồi chú đi
khuất, chập sau mang về một nắm rễ cây
gừa.
Hộp quẹt
bật lửa lên. Nắm rễ gừa ngún cháy, khói bay
đều. Chú nói nhỏ :
- Ði theo tao,
đừng chạy bất tử nghe !
Chú phồng má thổi
mạnh, khói tung bay mịt mù chưa tan là chú thổi thêm
lần nữa, chân bước nhanh tới. Hiển
hiện sau lớp khói mỏng kia, vật gì lạ
thường như một trái cây khổng lổ, lớn
bằng cái nia, đen ngòm rực rỡ như nạm muôn
ngàn hột thủy tinh chấp chóa...
Thằng Kim há
miệng :
- Ổ ong hả ? Ong
đâu hết rồi ?
- Cả triệu con
kết lại, nằm sắp lớp đen ngời,
chớp cánh lia lịa đó, không thấy sao ! Ổ ở
bên trong. Lên xuồng đi. Rủi bề gì tao với mày thối
lui, lặn dưới mương, úp chiếc xuồng này
lại mà che...
Tư Lập cầm
nhánh cây khô gạt mạnh vào ổ ; ong rớt xuống
cỏ từng mảng, lần lần tan ra. Ổ ong khoe
mày trắng tinh như sáp, treo trên khúc cây gác nghiêng ; cây kèo.
Chú quát :
- Chống xuồng
lại. Tao với mày khiêng nguyên ổ xuống. Dầu sao
mình cũng mang tiếng ăn cắp của thiên hạ
rồi.
Ðặt dưới
xuồng, ổ ong nứt ra, mật vàng tươi chảy
đọng vũng. Tư Lập chụp cây dầm, bơi
trối chết, lướt qua sậy, qua năn. Thằng
Kim cúi đầu sát ván, nhắm mắt, e nhánh hai bên
quật nhằm. Nó cười tươi khi thấy mái
chòi hoang hiện ra trước mặt, Tư Lập trao cây
dầm cho nó thò tay xé tàn ong :
- Trời ơi ! Tao
hại tao ! Tao ăn cắp... của tao.
- Chú nói gì ?
- Miếng kèo bằng
cây nhum. Hồi năm ngoái tao gởi nó lại cho
người quen. Chữ "điền" tao khắc làm
dấy rành rành.
Cây rừng chuyển răng rắc. Ðâu đây có tiếng
chưởi thề ỏm tỏi, xen vào tiếng dầm
khuấy nước. Tư Lập cau mày.
- Họ đi theo
dấu bắt tụi mình. Không khéo lại xảy ra đâm
chém, uổng mạng. Nhiều khi họ mạo nhận là
của họ để hăm dọa mình. Lát nữa, mày
đứng yếu bóng vía... Cứ cãi lại cho tao.
Thằng Kim giựt
mình :
- Chú đi đâu ?
Một mình tôi không dám...
- Tao núp sau hè. Họ
tới kìa ! Cầm búa lên ! Ðụng độ thì tao ra ăn
thua.
Nhanh như chớp,
Tư Lập bước lui, ngồi khuất sau bụi
mật cật. Thằng Kim nhìn trước mặt. Hàng cây
rung rinh, rẽ ra. Một người vạm vỡ cầm
búa, bước tới :
- Khôn thì chịu
tội. Thằng kia, mày ở xóm nào tới ?
Thằng Kim cố
giữ sắc trầm tĩnh :
- Tôi ở đây,
mần ăn...
- Ăn cắp chớ
mần ăn ? Tao theo dấu tụi bây nãy giờ. Công trình
mấy tháng nay tao tạo sẵn để mày hưởng
! Ðã ăn cắp mà lại còn gỡ luôn tấm kèo,
chẳng khác nào ăn trộm rồi đốt luôn nhà
của tài gia.
- Tôi không biết gì
hết...
- Chém chết mẹ
chớ không biết !
Lưỡi búa của
khách hươi lên. Thằng Kim cũng nâng cây búa một cách
vụng về. Khách nhìn nó, ngạc nhiên rồi nhìn cây búa :
- Mày ăn trộm búa
nữa hả ? Ráng mà đỡ. Nè !
Hoảng hốt,
Tư Lập nhảy ra, nắm cườm tay người
khách lạ :
- Tao ở nhà ông
hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau
nên không biết rõ tao là ai.
Khách trố mắt :
- Trời ! Cậu
Tư. Về hồi nào ! Trời... nãy giờ thấy cây búa,
tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai
?
Tư Lập vuốt
mồ hôi trán :
- Thôi ! Về đi.
Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao
tới.
Khách nói :
- Buồn lắm ! Cô Hoàng Mai
yếu nhiều.
Tư Lập thở
dài :
- Vậy hả ?
Ðừng nói nữa. Về trước đi.
Khách rút lui. Tư
Lập nói ngậm ngùi :
- Trốn mà không
khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ ; trốn
người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp
ổ ong khi nãy mà chi ? Nghề ăn ong có nghiệp
chướng... Ðây là ổ ong cuối cùng của tao trong
nghề...
Thằng Kim hỏi :
- Sao vậy ? Ai đau
nhiều vậy chú ? Cô Hoàng Mai là người bà con...
- Bà con không phải bà
con. Người dưng không phải người dưng.
Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông
hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở
lại đây, mày có dịp học khôn. Ðừng buồn.
Ðể tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi
năm trước...
* * *
Nghe xong thằng Kim
đi từng bước chậm rãi đến nhà ông
hương giáo. Câu chuyện tình của Tư Lập hãy còn
lâng lâng trong trí nó. Gió chiều nhẹ thổi. Mùi bông tràm
ngào ngạt. Nó nhìn từng gốc cây, lắng nghe từng
tiếng lá trở mình mà khoan khoái trong lòng. Rừng U Minh này
đối với nó cơ hồ không còn gì là bí mật khó
hiểu nữa.
Ðến nhà ông
hương giáo, nó được thết đãi cơm
nước tử tế. Ông hương giáo không nói
chuyện nhiều. Nó nói dối rằng... chừng lát
nữa Tư Lập sẽ đến. Nhưng Tư
Lập có đến đâu ! Ðêm đó, nó được
nằm ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông, giăng mùng
rộng rãi. Nửa đêm, nó chợt tỉnh vì ánh đèn
chói mắt.
Ông hương giáo nói
:
- Chú em thức hả
? Kìa ! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện
"ngọc ong" để trị bịnh. Bịnh gì,
chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi
buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa
đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không ?
Thằng Kim nói :
- Dạ cháu không
biết. Chú Tư không nói rõ...
- Ta hiểu lắm.
Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng
đã tỏ ra có nghĩa ! Ai nỡ câu thúc chí trai của
mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn ?
Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một
chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa,
tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa,
xiêu lạc đến đây ! Bây giờ ta yếu lắm
rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập,
ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt
chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc
Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là
người hương giáo, quyền hạn gì ? Ừ !
Tội là tội cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một
chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng
mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.
Sáng hôm sau, thằng Kim
từ giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên
mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai bên
bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón
bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng
được, để quá giang. Sau lưng nó, trên
thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với
đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn.
Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón
tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một
hình bóng...