Miễu
Bà Chúa Xứ
Sơn Nam
Miễu
Bà Chúa Xứ, Ðìa Gừa, Gò Mả Lạn... phải qua
những chòm cây cổ thụ, những vùng lau sậy hoang
vu ấy rồi mới đến nhà ông Tư Ðạt.
Trời
đã quá chạng vạng. Ánh nắng thoi thóp, đỏ
khé. Trong giây phút trở sang màu tím bầm. Muỗi dậy
ổ, kêu vo ve khắp gần xa. Loài ếch nhái, côn trùng
bắt đầu lên tiếng, chào mừng bóng tối
đang tràn ngập quá nhanh chóng.
Cô
đơn làm sao, căn nhà giữa đồng này ! Gió
thổi lành lạnh. Tôi rùng mình :
-
Thưa ông, cháu về.
Ông
Tư Ðạt cười ngất :
- A
ha ! Ðứa cháu này sợ ma. Nãy giờ tôi quên. Vô đây,
đốt thêm ngọn đèn nữa. Phải rồi,
đèn lu quá ! Sợ ma sao ? Ở đây chơi mà !
Tôi
trả lời, ấp úng :
-
Dạ, cũng hơi sợ. Thiên hạ nói ở Ðìa
Gừa, ở Gò Mả Lạn nầy...
Ông
Tư nói nhanh :
- Có
ma hả ? Hơi đâu mà tin. Họ nói ma buông xuống lòng
thòng từ cánh tay, từ bàn chơn, cái đầu rồi
ráp lại. Họ nói ma ở truồng bỏ tóc xõa,
đứng trên ngọn cỏ mà múa. Mình hú, nó hú trả
lời. Mình chạy, nó rượt theo. Nhưng tôi nhứt
quyết xứ này không có loại đó. Xứ này, cháu
biết không, là xứ của ma...
Tôi
trầm ngâm suy nghĩ : Tại sao ông Tư Ðạt nhìn
nhận có ma rồi bảo rằng không có ? Chớ ma ở
gò mả này thuộc về loại nào ? Dầu sao vẻ
mặt trầm tĩnh, can đảm của ông cũng làm
cho tôi được yên tâm chút ít :
-
Thiên hạ đồn đãi nhiều. Cháu phải sợ
theo.
Ông
Tư khêu ngọn đèn rồi vào trong đem ra một chai
rượu đế :
-
Uống đi cháu. Thủng thỉnh tôi nói qua chuyện khác
vui hơn... Ðồn đãi là một chuyện. Nhưng
sự thật lại khác. Cái gì được
người ta lặp đi lặp lại nhiều lần
bằng câu hát đưa em ? Vậy mà có người không
hiểu rõ. Thí dụ như :
Một mai thiếp có
xa chàng
Ðôi bông thiếp
trả, đôi vàng thiếp xin.
Tại
sao đôi bông thì trả, đôi vàng thì xin ? Không lẽ
người đàn bà nước mình mang thói tham lam ? Sự
thiệt nó có tích như vầy : đôi bông là vật cha
mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói ; đôi vàng là
của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm
sắm được lúc sau. Nàng dâu than vãn bà mẹ
chồng khắc nghiệt, sẵn sàng "trả đôi
bông" lại cho mẹ chồng. Nhưng nàng vẫn
thương chồng - "xin giữ đôi vàng" - nài
nỉ chồng cất nhà ở riêng để thoát ách. Câu
hát đó cao sâu lắm ! Hồi xưa, khách qua
đường hễ nghe nó là hiểu được tánh
tình của bà mẹ chồng trong nhà như thế nào.
Bởi vậy người hát phải biết hát,
người nghe phải biết nghe. Cái chuyện ma ở
Gò Mả Lạn này cũng như câu hát đó. Lâu ngày, thiên
hạ không hiểu, họ nói xàm, làm mất phẩm giá
người đời xưa rồi đâm ra sợ
sệt vô lý. Chung quanh nhà này có ma thiệt...
-
Ghê quá vậy ông !
-
Phải ! Ðó là hồn oan. Mình phải thấy rõ họ, mình
phải thương họ. Thường bữa, họ
tới lui, muốn làm quen với mình nữa. "Sự
tử như sự sanh, sự vong như sự
tồn" mà...
* * *
Non
80 năm về trước, hồi đó ở tại Gò
Mả Lạn này xóm nhà đông đúc hơn bây giờ.
Họ sống về nghề ruộng rẫy, giăng câu,
bắt rắn. Giặc Tây đến. Chúng đóng binh
ở ngoài huyện Kiên Giang. Binh sĩ của ông Nguyễn Trung Trực lén kéo
về châu thành để công kích. Dân chúng nghe tiếng súng,
nửa mừng nửa sợ. Tới một đêm đó,
nhiều loạt súng nổ chát chúa ngay đầu xóm,
tại Ðìa Gừa.
Không
ai dám bước khỏi nhà. Họ đoán rằng có
người bị giết và tiếng súng sát nhơn nọ
là của Tây. Sáng hôm sau, vài người bạo dạn ra dò
xét. Họ kéo mấy cái thân người dưới đìa
đem lên, chôn chất kỹ lưỡng gần bờ
thềm.
Từ
đó, đêm nào đêm nấy giống nhau. Cứ quá
nửa đêm dân chúng phải cắn răng, nuốt
lệ mà nghe súng nổ. Khi thì nghe tiếng kêu rú. Khi thì nghe
thêm tiếng chim bay.
Nước
dưới đìa lần lần đen ngầu, hôi tanh.
Cỏ bên bờ ngày một cao vì dân làng không còn ai lui tới
để gánh nước như trước. Trong khi
đó, con đường từ thềm đìa ra ngoài
lộ cái trở nên mòn lẵn vì dấu chân của bọn
đao phủ Tây tà và của những nghĩa quân,
lương dân vô tội từ nơi xa lạ dẫn
tới.
Dân
làng quá đỗi hiền lương, hằng đêm,
họ thức để chờ nghe tiếng súng
đầu tiên nổ ngoài bờ giếng. Rồi họ cúi
đầu lầm thầm đọc kinh vãng sanh, cầu
nguyện cho người quá cố.
Trưa
đó ngày mùng 7 tháng chạp, bất thường giặc
kéo nhau tới bờ Ðìa Gừa. Chúng đứng lại nhìn
xuống đìa, đếm mấy gò mả xung quanh. Nào ai
dám hó hé ! Chập sau, chúng rút lui. Một thằng bé chăn
trâu được may mắn núp ở gần bờ
đìa, khi nãy. Nó về xóm thuật lại :
-
Tui thấy ông Tây này cười, ông kia la hét, ông Tây nọ
gật đầu. Mấy ổng dòm vô xóm mình...
Ðiềm
lành, điềm dữ hay là không có điềm gì hết ?
Không ai đoán trúng cả. Vì đó là một diềm dữ,
nhưng dữ quá mức tưởng tượng của họ.
Ðêm
ấy cả xóm đều bị bao vây.
Nhờ
ngủ ngoài chuồng trâu, đứa bé chạy thoát
được. Nó qua xóm kế bên cầu cứu trong khi
súng nổ liên hồi, lửa bốc cháy.
Ðầu canh năm, tiếng súng
vẩn còn thưa thớt. Mặt trời gần mọc,
chừng đó dân làng kế bên mới dám đi qua cứu
giúp.
Người
chết quá nhiều. Người còn sống quá ít. Làm sao mà
chôn ? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi
hầm chôn một người. Sau cùng, cứ chôn chung
một hầm, đủ già trẻ bé lớn. Khiêng
nhiều chuyến quá sanh ra mệt mỏi ! Họ khiêng
bằng võng, đặt hai xác chết trên một võng,
người trở đầu phía trước,
người trở đầu phía sau.
* * *
-
Ðúng vậy ! Hồi đó hai người nằm một
võng, theo kiểu hai đứa con nít ngủ trưa như
bây giờ thiên hạ đưa con.
Ðêm
về khuya. Chai rượu gần cạn. Ðứa bé
chăn trâu thưở trước là ông Tư Ðạt
ở Gò Mả Lạn buổi này, nói tiếp :
-
Lâu quá rồi ! Thiên hạ chết oan ! Cả xóm chết
giống nhau. Không một người khóc. không một
miếng khăn tang. Cả tháng sau, quạ còn bay đen
trời như tàn nhà cháy... Tôi là người quen với
họ, họ thương tôi lắm. Tôi không sợ ma,
nhờ đó mà ít gặp ma. Vậy mà không hiểu can
cớ gì buổi trưa đó tôi gặp họ.
-
Ban ngày hả ông ?
Ông
Tư Ðạt nói :
-
Chánh hiệu là... ban ngày. Ði gặt về, dọc
dường tôi ghé lại bờ Ðìa Gừa. Thấy
nước trong quá, tôi nhảy xuống tắm rồi
ngắt một cọng bông súng. nhai vô miệng cho mát. Tôi
nhớ rõ : cọng bông súng dài lắm. Nhai một hồi,
bỗng nhiên thấy một ông già hiện ra, đâu mặt
với tôi, miệng ổng thì nhai đầu kia của
cọng bông súng. Sợ quá, tôi nhả ra nhưng không
được. Hàm răng của tôi cứng lại
rồi... đánh bùa cạp. Sau rốt, ông già nọ nhai
lần cọng bông súng đến gần mặt tôi, hai
mặt đụng nhau, sát rạt, lạnh ngắt.
Ông
già nọ hỏi tôi :
-
Cái thằng Ðạt chăn trâu ! Nhớ ta đây không ?
-
Ông là ai ?
- Bà
con mà ! Mấy chục năm nay, mày làm ăn thế nào ?
-
Dạ nghèo quá !
-
Vậy thì thằng Ðạt mày còn sống tới bây giờ
cũng không sung sướng gì hơn mấy người
chết yểu cả xóm hồi đó. Nhớ không Ðạt
? Bà con chết đêm mùng 7 tháng chạp. Phải cúng
kiến chớ ! Có thịt ăn thịt. Có muối ăn
muối. Rồi cất nhà cho bà con mày ở. Nhớ
thắp nhang.
Ông
Tư Ðạt nói tiếp câu chuyện :
-
Ðêm đó, về nhà tôi ngủ không yên. Sau rốt, tôi kêu
gọi bà con lối xóm cất một cái miễu.
Hương chức hội tề hỏi tại sao cất
miễu mà không xin phép ; tôi trả lời đó là miễu
thờ Bà Chúa Xứ, nào dám nói sự thật, sợ mình
bị buộc vô tội làm quốc sự. Bởi vậy
cháu hiểu vì đâu tôi giữ nhang khói ở miễu này, vì
sao ở sát Gò Mả Lạn mà tôi không sợ ma. Ba bốn
mươi năm nay, ruộng nương thất bát, có
một lần bỏ xứ mà đi nhưng buồn
bực quá, tôi trở về nền nhà cũ. Tôi nghĩ :
Mình ở đây nghèo, nhưng mà vui. Nhiều đêm tôi
nằm nói thơ Vân Tiên một mình mà không đỡ
buồn. Tôi đứng nhìn trời đất đồng
ruộng ở ngoài. Tối thui vậy mà vui quá ! Cháu ra
đây coi thử...
Ông
Tư Ðạt bước ra cửa, đưa tay làm dấu
hiệu bảo tôi đi theo. Ðồng ruộng mơ hồ.
Trăng non chưa hé. Ðám lau sậy mịt mùng chạy dài
như bức trường thành, nối liền Gò Mả
Lạn qua Ðìa Gừa, tiếp đến miễu Bà Chúa
Xứ đằng xa.
Ông
lẩm bẩm :
-
Không riêng gì ở Gò Mả, ở Ðìa Gừa... Rải rác
đầy ruộng nương, hồi đó ở đâu
cũng có mả, có xương người. Kìa, cháu
thấy không ? Sao trên trời xẹt xuống một
đốm... hai đốm. Rồi đất ruộng rung
rinh, lúa mới cấy dợn đều như sóng dậy
ngoài biển. Cháu thầy không ?
Tôi
lạnh người. Gió thổi hiu hiu. Phải chăng oan
hồn thuở trước đang về đây ? Họ trở
thành cát bụi, đang thu hình vào rễ lúa để
vươn lên mặt đất, đòi đơm bông
kết trái ?
Hay
là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn
sống sót thuở nọ giờ đây sống hẩm hiu.
Từng vệt sao rơi, phải chăng đó là những
niềm tin tưởng soi sáng quyển sử trường
cửu của đất nước, một quyển
sử không có số trương mà mỗi luống cày là
một tờ giấy bao la, mỗi bụi lúa là một nét
chữ không nhòa, muôn năm linh động ?
Ông
Tư Ðạt vỗ vai, bảo với tôi :
-
Bây giờ cháu thấy ma chưa ? Không thấy thì ráng
đứng hoài cho tới chừng nào thấy rõ. Ông ở
đây mấy chục năm rồi mà chưa biết
đủ mặt người. Bởi vậy đêm nào ông
cũng thức, cũng nhìn...