LỜI B̀NH PHẨM

“NGƯỜI YÊU NƯỚC”  CA CÁC BÁO

 

 

Ta có thể bảo Thẩm Thệ Hà là nhà văn trung gian giữa Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Lư Văn Sâm. Ở Dương Tử Giang sáng tác phản ảnh đường lối lập trường, Dương là h́nh ảnh nhà văn trí thức, sáng tác sau khi suy nghĩ để có thể đặt vấn đề tranh đấu một cách rơ ràng, ông muốn văn nghệ phẩm, phải hướng dẫn sau khi đánh thức người đọc. Ở Vũ, Lư trái lại sáng tác phẩm có nhiều tính chất văn nghệ, tác dụng của văn nghệ phẩm phải do người đọc t́m thấy chớ không phải do tác giả đặt trước và ngụy trang sơ sài trong lúc sáng tác. H́nh tượng đấu tranh với họ là đề tài chớ không phải là gương để người đọc noi theo. Họ cho văn phẩm là dây đàn do tác giả gợi lên v́ rung cảm, chớ không biết ảnh hưởng đối với người nghe thế nào, tác giả phải viết làm sao cho hành động trở nên đường lối.

Ở giữa hai tính chất trên là Thẩm Thệ Hà với “Người Yêu Nước”, quyển truyện vang danh lúc bấy giờ.

Với Thẩm Thệ Hà, đường lối cần đă đành, nhưng phải do tác phẩm hoàn toàn có tính cách văn nghệ chuyên chở. Bởi vậy ông cố gắng tạo văn phẩm xứng đáng là tác phẩm văn nghệ trong khi vẫn phản chiếu ư hướng của ông về công việc phải làm cho giai đoạn đó.

NGUYỄN VĂN SÂM

(Văn chương tranh đấu miền Nam – 1969, trang 150,151)

 

 

Nói chung về mặt đại thể, “NGƯỜI YÊU NƯỚC” có một giá trị đặc biệt về tinh thần. Trong “NGƯỜI YÊU NƯỚC”, tác giả làm nổi bậc hai quan điểm: cách mạng hoàn cảnh và cách mạng quốc gia. Tác giả đặt ba nhân vật chính ở ba chỗ khác nhau, liên lạc bằng sợi giây t́nh cảm: t́nh bè bạn. Bảo giác ngộ cho Vũ, đưa Vũ vào cuộc cách mạng. Và Phượng trở nên “NGƯỜI YÊU NƯỚC” có lẽ là nhờ cuộc hoán cải của Vũ.

Đặc sắc nhất của tiểu thuyết “NGƯỜI YÊU NƯỚC” có lẽ là đoạn kết: bức thư của Phượng gởi cho Vũ. Đọc xong bức thư, ta có cảm giác như nghe khúc nhạc vừa lâm ly vừa hùng tráng hay đọc bài thơ, thưởng thức bức tranh có giá trị, đẹp về màu sắc, hay về âm điệu.

Sáng tác được một tác phẩm như “NGƯỜI YÊU NƯỚC” chẳng phải là một việc dễ. Tác giả đă tỏ ra sự cố gắng trong lúc ghi chép những phản ảnh của thời đại, nó đánh dấu một biến chuyển lớn lao của nền văn hoá nước nhà.

NGUYỄN BẢO HOÁ              

(Ánh Sáng số 346 – 347)     

 

 

Kể từ khi ngọn cờ giải phóng phất phơ trên giải non sông gấm vóc, ai ai cũng thấy ở ḷng ḿnh một sự mong ước một khúc khải hoàn oai hùng từ Nam Quan đến mũi Cà Mau, nhưng ḷng vẫn hoang mang, khi thấy ḿnh đang đứng chênh vênh trên một nhịp cầu yêu nước.

Yêu nước! Nhưng phải làm cách nào đây?

Tất cả những ư nghĩ ở ngă ba đường, nhưng cái lo ngại và e dè, đều gồm vào một niềm quan thông trong quyển sách nầy.

Sau khi gấp cuốn sách lại, ḷng tôi không khỏi nao nao v́ bức thư của Phượng và những sự hy sinh của đoàn quân Việt mà ông Thẩm Thệ Hà đă mô tả thành một trang sử.

NHÂN HIẾU TRUNG

 (Đoàn Kết 1949)

 

 

Mặc dù có người cho nhiều đoạn trong truyện rất giống nhiều đoạn truyện ngoại quốc, quyển “NGƯỜI YÊU NƯỚC” vẫn hơn đứt hai truyện trước của Thẩm Thệ Hà (Vó ngựa cầu Thu và Gió biên thùy) và “NGƯỜI YÊU NƯỚC” có lẽ là quyển truyện dài khá nhất đă xuất bản từ sau chiến tranh đến ngày truyện ấy ra đời.

DƯƠNG TỬ GIANG

(Nguồn sống số 30) 

 

 

Thẩm Thệ Hà theo quan niệm này của Maxime Gorki: “Tiểu thuyết tả thật là phải diễn lại sự thật thà thô sơ, mà phải diễn một cách có nghệ thuật và khoa học” . Chính cái nghệ thuật mà nhà văn Nga nói trên là cái đặc sắc của Thẩm Thệ Hà ở quyển “NGƯỜI YÊU NƯỚC”

Hành văn trong sáng và linh hoạt. Cốt truyện cảm động và ư nhị. Có thể nói đó là tác phẩm đặc sắc của tác giả, và Thẩm Thệ Hà đă thành công ở công cuộc biểu dương nền “văn chương tranh đấu” với tác phẩm này.

(VIỆT BÁO số 4)

 

 

THẨM THỆ HÀ, Nhà Văn

Văn học Đồng Nai - Bến Nghé - Cửu Long thực sự vươn vai Phù Đổng qua hai cuôc kháng chiến kéo dài những ba mươi năm. Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, đánh thức các tiềm năng văn học, khi nó đánh thức ḷng tự tin của bộ phận nhân dân vùng đất nầy. Nỗi thèm muốn Việt Nam độc lập cùng nỗi khao khát Châu về Hợp Phố  sau bao năm mất nước và ly tán bỗng nhiên hiện ra trong tầm tay con người tầm thường nhất, chỉ nắm mỗi ngọn tầm vong vạt nhọn. Và cái trong tầm tay ấy lại bị kẻ thù giật đi. Thế là cơn phẫn nộ đạt đỉnh cao. Văn học kháng chiến trở thành văn học áp đảo, kể cả ở thành thị và nông thôn bị địch chiếm, bị chiến tranh hủy hoại.

Cần chú ư một hiện thực: trước 1945, Nam Bộ mạnh về thế báo chí, c̣n thể văn học - hiểu theo nghĩa thơ, truyện…đạt mức hư cấu nào đó – nói chung không thật mạnh, trừ Hồ Biểu Chánh và Phú Đức. Nhưng, sau tiếng súng 23-9-1945, văn học chuyển ḿnh. Những Xuân Miễn, Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, những Lư Văn Sâm, Dương Tử Giang v.v…xuất trận. Ngay những Nguyễn Bính, Hoàng Tấn, Hoàng Phố…thâm nhập môi trường và trận chiến mới, cũng giă từ lối ṃn văn chương buồn ră rượi, cùng khoác áo lính chiến với phong thái và bút pháp xung phong. Số không nhỏ những nhà văn – chính diện và phản diện – là dân tứ xứ, hầu hết từ miền Bắc, miền Trung: người Nam Bộ chiếm tỷ lệ nhỏ như Lư Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà… nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng gọi thúc giục lên đường…..

TRẦN BẠCH ĐẰNG

(Tổng luận - Địa chí Văn hoá TP. Hồ Chí Minh, tập II Văn Học 1988 – trang 259)