NHÂN GIỖ ĐẦU CỦA XUÂN VŨ
Minh Vơ
Đôi lời của tác giả:
Xuân
Vũ mất đúng ngày đầu năm 2004. Chỉ ít
ngày trước đi anh hăy c̣n viết. Tác phẩm cuối
cùng của anh Tôm Hùm Huưt Sáo tôi phải đề
tựa theo ư anh, mặc dù ban đầu tôi đă từ
chối v́ ḿnh không phải là nhà văn, và mặc dù nhà
xuất bản nhiều lần đề xuất những
tên tuổi khác. Chúng tôi cũng chưa bao giờ găp nhau.
Nhưng sau khi có một “chính khách tên tuổi" (chữ
của anh trong thư) tặng anh cuốn Phản Tỉnh
Phản Kháng Thực Hay Hư của Minh Vơ, anh
thường liên lạc với tôi. Trong thư anh thuờng
gọi tôi là "Tri âm" (ngụ ư hiểu nhau và cùng
hiểu rơ về âm mưu của CS). Anh tâm sự
"Sắc đẹp, uy quyền đều hủy
diệt. Thế gian c̣n lại CHỮ mà thôi". Phải
viết Minh Vơ ạ. Viết để nói lên sự
thật, để dân ta biết tội ác và những cái xâu
xa dị dạng của CS."
Anh
rất ghét Hồ Chí Minh và đă nhiều lần bêu
riếu ông ta trong những tiểu thuyết của anh.
Nhân
cuốn AI GIẾT HỒ CHÍ MINH ra mắt độc
giả năm 2002, anh đă gửi đăng trên Văn
Nghệ Tiền Phong của cố kư giả Hồ Anh
Nguyễn Thanh Hồng (*) một chuyện ngắn nhan
đề Thằng Tư Lừa Cả Làng mục
đích vạch mặt Hồ Chí Minh là tên đại
bịp đă đánh lừa cả nước. Tôi bảo
anh, HCM không chỉ lừa cả nước mà lừa
cả thiên hạ đấy. Tôi hứa với anh sẽ
viết một cuốn để vạch ra cho thiên hạ
biết HCM đă lừa như thế nào. Khi biết
Tủ Sách Tiếng Quê Hương sắp cho ra cuốn HCM
Nhận Định Tổng Hợp, anh luôn gọi hỏi:
Sao lâu thế? Bao giờ được đọc đây?
Thế rồi khi cuốn sách tới tay anh, th́ anh đă vào
nhà thuơng. Chị Triết, bạn đời của nhà
văn, cho tôi biết sau khi anh đă ĺa đời:
"Dầu sao anh ấy cũng đă được
cầm cuốn sách trong tay nâng niu nó, nhưng có đọc
được hàng nào chưa th́ không rơ". Sự chậm
trễ này là do lỗi của nhà thơ Tâm Vô Lệ, giám
đốc Thư Viện Việt Nam Online cũng là
người in những tác phẩm cuối cùng của Xuân
Vũ. Anh muốn được đích thân gửi cho nhà
văn cuốn sách mà ông trông chờ và ưa thích. Nhưng
không hiểu sao, sách đi quá chậm. Các nhà văn Duy Lam,
Nguyễn Đ́nh Toàn, nhà thơ Thái Thủy cũng bị
Tâm Vô Lệ bắt chờ cả tuần lễ v́ sự
chậm trễ này.
Ngay
sau khi được tin Xuân Vũ mất sau một ca
giải phẩu bất tồn, tôi đă viết một bài
đăng trên Thư Viện Việt Nam Online và mấy
tờ báo địa phương để nhắc lại
những công tŕnh và tâm huyết của một nhà văn
chống cộng đa tài mà hầu như chuyện nào
cũng đầy chất trào lộng chua chát.
Hôm nay
nhân dịp Giỗ Đầu của Xuân Vũ, tôi xin
giới thiệu một phần chương sách tôi đă
viết cách nay 5 năm. Trong chương này tôi đă tóm
tắt, phân tích, trích dẫn 7 trong số 72 tác phẩm
của Xuân Vũ (chỉ tính số chính thức do tác
giả lập danh sách gửi cho tôi ít tháng trước khi
anh mất) gồm có: Đường Đi Không
Đến, Xương Trắng Trường Sơn,
Mạng Người Lá Rụng, Đến Mà Không
Đến, Thiên Đàng Treo, Tự Vị Thế Kỷ, và
Đỏ Và Vàng (một cuốn tiểu thuyết châm
biếm sâu sắc vô cùng hấp dẫn). V́ khuôn khổ bài
báo có hạn, nên phần trích dẫn dưới đây
chỉ nói riêng về cuốn đầu tiên, đă từng
được giải thưởng văn học của
VNCH trước 1975.
Chú
thích:
Hồ
Anh (1920 - 2004) là nhà báo có cảm t́nh nhất đối
với Xuân Vũ. Cách nay 3 năm, Hồ Anh đă có dự
tính mời Xuân Vũ nhận đảm đương
tờ Văn Nghệ Tiền Phong khi anh muốn sang
nhượng lại cho người khác, để nghỉ
dưỡng bệnh. Nhưng Xuân Vũ khiêm tốn
khước từ lấy lư do ḿnh chỉ muốn viết
văn. Cũng chính Hồ Anh cho tôi biết Xuân Vũ
đáng lẽ ra chưa chết. Nhưng v́ gia đ́nh nóng
ḷng muốn anh được giải phẫu nên phẫu
thuật trong trường hợp rủi ro này đă
khiến anh sớm ĺa bỏ cơi đời trong lúc bao công
tŕnh trước tác c̣n dang dở. Không dè rằng cũng chỉ
gần một năm sau Hồ Anh cũng đă ra
người thiên cổ. Viết mấy hàng này người
viết xin nhân một cơ hội t́nh cờ đồng
thành kính thắp nén huơng ḷng tưởng niệm hai
chiến sĩ chống cộng trên hai lănh vực khác nhau
nhưng cùng một ḷng hăng say quyết liệt hiếm có.
Tuy kém Hồ Anh 10 tuổi, nhưng ngay năm 1952, khi Hồ
Anh bước chân vào nghề báo ở Hà Nội, th́ Xuân
Vũ cũng bắt đầu gửi thơ từ
miền Nam ra đăng báo đảng CS ở miền
Bắc.
Xuân
Vũ với 34 (*) tác phẩm chống cộng.
Năm
1998 tổ hợp xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ
cho ra cuốn kư sự "Những Bậc Thầy Của
Tôi" của Xuân Vũ. Trong bức thư riêng gửi nhà
xuất bản, tác giả viết: "Cuốn sách này coi
như là "trạm nghỉ chân" cuối cùng, nghỉ
xong rồi ngủ luôn không đi đâu nữa hết…"
Không biết một người viết "như thác
đổ" có chịu ngừng thật chưa. Nhưng
dựa vào câu nói của tác giả ta có thể tạm
tổng kết số lượng sách ông viết từ
1972 đến nay, nghĩa là trong ṿng 27 năm, không kể
những cuốn ông viết khi c̣n ở bên kia chiến
tuyến.
Ông là
nhà văn chuyên nghiệp, đa năng. Sách ông viết
thuộc nhiều loại - không kể trường ca
"Trả Ta Sông Núi" và một số bài thơ khác,
trong đó có bài "Ta Về Hôn Đất" 395 câu -
nhiều nhất là truyện ngắn, 13 tập gồm
tổng cộng hơn hai trăm truyện. Hồi kư có 11
cuốn, trong đó có bộ "2000 Ngày Trấn Giữ
Củ Chi", viết chung với Dương Đ́nh Lôi,
gồm 7 tập trên hai ngh́n trang. Tiểu thuyết: 11
cuốn. C̣n lại là truyện kư, kư sự, khảo
luận, kịch. Tổng cộng 57 cuốn. (Theo bản
liệt kê có thủ bút của XV gửi cho MV tháng 7-00, th́
con số 57 đă tăng lên 61, và XV viết rằng vẫn
chưa "dừng chân" được.) Trong số
đó có tới (ít nhất là) 34 cuốn trực tiếp
đánh vào thành tŕ xhcn mà ông thường gọi tắt là
"xă nghĩa".
Ít
nhất đă có 8 nhà xuất bản thay nhau in tác phẩm
của ông: Đất Mới, Nam Cường, Xuân Thu,
Người Việt, Đại Nam, Trời Nam,
Thuvienvietnam.com Ấn Quán và Tổ Hợp Xuất Bản
Miền Đông.
Trong
số những tác phẩm của ông có cuốn hồi kư
"Đường Đi Không Đến"
được giải thưởng Văn Học của
tổng thống VNCH. Cuốn này đă tái bản tới 8
lần và in "chui" nhiều lần ở trong
nước. Một độc giả ở Bỉ
(Belgique), cô Huơng kể lại rằng cả công an
cũng thích đọc hồi kư và tiểu thuyết
của Xuân Vũ: Nhà XB Xuân Thu đă trích đăng
những bức thư của 13 nhân vật ca ngợi sách
của Xuân Vũ trong số đó có Phạm Duy, Vơ
Phiến, Hà Huyền Chi, Lê Xuân Nhị, Hải Bằng, Lê
Nhật Thăng, Vũ Uyên Giang, nhà cách mạng lăo kư giả
Trần Văn Ân … Cô Huơng ở Bỉ kể:
"…Lúc
sắp lui ghe vượt biên, tôi bị công an xét. Chúng
thấy cuốn "Đường Đi Không
Đến" giắt trong mui ghe. Tên công an bảo là sách
cấm. Tôi sợ quá, định "đấm mơm" hắn,
nhưng hắn lại hỏi mua quyển sách. Tôi
tưởng hắn nói chơi ai dè thiệt. Tôi không dám
lấy tiền. Hắn bèn cho tôi mấy lít gạo tịch
thu của ai… Qua đây tôi mua lại "Đường
Đi Không Đến" mua luôn "Xương Trắng
Trường Sơn" và "Mạng Người Lá Rụng",
định mua luôn "Đồng Bằng Gai Góc" cho
đủ bộ mà chưa kiếm được."
Tờ
Thế Giới Magazine số 126 ở Houston viết:
"Các chuyện có số lượng bán chạy nhất
ở Saigon hiện giờ là tiểu thuyết và hồi kư
"Xương Trắng Trường Sơn" của
Xuân Vũ. Cán bộ đua nhau t́m đọc… Các sách truyện
hàng đầu được công an lùng sục là các
truyện của Xuân Vũ, tập thơ Tiếng Vọng
Từ Đáy Vực (1) của Nguyễn Chí Thiện,
tập Huyết Hoa của Lư Đông A."
Chính
soạn giả được biết một độc
giả ở Nouvelle Calédonie, khi hỏi mua cuốn "Ngô
Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê", cũng đă
nhờ Thông Vũ mua giùm ông cuốn "Đến Mà Không
Đến" của Xuân Vũ. Một tháng sau cũng
độc giả đó lại nhờ mua giúp cuốn "Mạng
Người Lá Rụng", v́ thấy trong cuốn Ngô
Đ́nh Diệm Lời Khen Tiếng Chê có trích dẫn tác
phẩm này của Xuân Vũ.
Sở
dó người ta thích đọc Xuân Vũ v́ ông có lối
viết hết sức lôi cuốn, kết cấu rất
đặc biệt. Nhà thơ Xuân Tước đă viết
về Xuân Vũ như sau: "Tôi đă đọc rất
nhiều truyện ngắn cũng như truyện dài
của Xuân Vũ, thấy rằng anh đă có một
lối kết cấu rất đặc biệt…phải đọc
hết, đọc cho đến chương cuối hay
đoạn chót của truyện, th́ mới thấy nổi
bật cái kết cuộc khéo léo và bất ngờ".
"Với
tôi, chưa có nhà văn nào hiểu biết thấu đáo
về cảnh quê và dân quê miền Nam hôn Xuân Vũ. Anh đă
đi khắp miền Nam, từ Nam ra Bắc, rồi
từ Bắc trở về Nam, anh đă sống, đă
từng tranh đấu với dân quê. V́ thế mỗi ngôn
từ mà anh viết ra đều chính là ngôn từ của
họ, mỗi mảnh đời anh vẽ lại,
đều chính là cuộc đời của họ. Anh
thấu hiểu tâm t́nh người dân quê hơn ai
hết."
Đó
là khi Xuân Vũ nói về miền Nam. C̣n khi ông tả nhân
vật người miền Bắc ông cũng tỏ ra am
tường ngôn ngữ miền Bắc lắm. Đọc
những lời đối thoại giữa tác giả
với cô vũ ba lê Thu th́ rơ. Hoặc một đoạn
trong tập truyện ngắn "Thiên Đàng Treo"
rất linh động và đặc biệt "Bắc
Kỳ" từ trang 143 đến 147. ("Chuyện
Tục Về Một Vùng Thanh").
Về
ảnh hưởng tai hại của tác phẩm của
Xuân Vũ đối với xhcn, một cán bộ công an
Saigon đă nói với bác só Phạm Thành Tài, giám đốc
cũ của Xuân Vũ ở nha Chiêu Hồi: "…Thằng
Thiệu trốn, bỏ lại đất nước, ta
c̣n có thể sửa lại, c̣n thằng Xuân Vũ bỏ
lại tác phẩm th́ chả ai sửa lại
được, v́ nó là chất độc, cực
độc."
Vài
nét về cuộc đời trôi nổi Nam-Bắc,
Bắc-Nam của Xuân Vũ:
Xuân
Vũ, tên thật là Bùi Quang Triết, sinh ngày 19 tháng 3 năm
1930, tại làng Minh Đức, Quận Mỏ Cầy,
tỉnh Bến Tre (Kiến Ḥa). Cha ông là một nhà nông
nhưng rất thích thơ văn, đă có hàng ngàn bài
thơ, chưa in th́ bị mất trong chiến tranh. Xuân
Vũ chỉ có một người em gái suốt
đời ở vậy nuôi cha mẹ v́ người anh duy
nhất là ông đă "lậm kháng chiến rồi."
Bất
chấp sự khuyên can của cha mẹ, cậu bé Triết
15 tuổi đi theo người cậu kháng chiến
chống Pháp và gia nhập đoàn thiếu nhi cứu
quốc dưới sự điều khiển của
Trần Bạch Đằng. Xuân Vũ học làm thơ
với nhà thơ Tâm Điền, tức "nhà thơ
vàng" Xuân Tước, và có bài thơ đăng báo
đầu tiên ở Hà-nội khi mới 17 tuổi. Năm
1950 ông làm cho báo "Tiếng Súng Kháng Địch"
của khu 9. Sau hiệp định Genève ông tập kết
ra Bắc.
Thấy
cảnh xhcn miền Bắc không giống như ông mô
tưởng khi c̣n ở tuổi mơ mộng 16, ông bèn ngây
thơ vào trụ sở Ủy Hội Quốc Tế
Kiểm Soát Đ́nh Chiến xin trở về Nam, trong
thời gian chưa hết hạn. Dĩ nhiên lính gác
người Việt là mật báo viên của đảng
đă báo cáo việc này và ông bị kiểm thảo,
phải lên đài đọc lời cải chính là ḿnh không
bao giờ xin trở về Nam. Từ đó ông bó buộc
phải làm việc cho đảng để lập công,
chuộc tội. Ông sáng tác và được vào hội nhà
văn cùng với Phùng Cung năm 1958. Đến năm 1965,
nhờ có Trần Bạch Đằng là cán bộ cao
cấp ở miền Nam, cũng là thủ trưởng
cũ của Xuân Vũ vận động cho nên Xuân Vũ
được nhập đoàn đi B, (tức là vào
chiến trường miền Nam).
Ông
nhận nhiệm vụ vào miền Nam để sáng tác nâng
cao tinh thần chiến đấu của quân cán chính và
lấy chất liệu cho sáng tác văn nghệ gửi ra
Bắc. Ông đă tả lại cuộc vượt
Trường Sơn gian lao hiểm trở đầy
chết chóc, bệnh tật, hiểm nguy trăm
điều trong bộ hồi kư "Đường Đi
Không Đến" 5 tập (gần 2000 trang):
Đường Đi Không Đến (I), Xương Trắng
Trường Sơn (II), Mạng Người Lá Rụng
(III), Đến Mà Không Đến (IV) và Đồng
Bằng Gai Góc (V).
Nhưng
vào đến nơi ông mới thấy những
điều người ta tuyên truyền ở ngoài Bắc
là giả dối: "vùng giải phóng con chó nằm c̣n tḥ
cái đuôi ra ngoài". Hơn nữa ông nh́n rơ thực
tại phũ phàng:
"Ḍng
họ tôi nội ngoại ủng hộ cách mạng, con cháu
đi theo cách mạng, hy sinh cho cách mạng để
mất trên hai chục ngôi nhà lớn…..Như vậy cách
mạng đă "trả công" cho tôi bằng cách
giết một người d́, một người cậu
và một người cô, c̣n ai nữa th́ tôi chưa tính
sổ" (trang 164-166)
Ông
liền t́m cách bỏ "cách mạng", về thành. Ông
được trọng đăi, được cử làm
giám đốc một nha, bộ chiêu hồi, nhưng ông
không dám nhận, chỉ nhận làm phó cho một
người bạn và đồng chí cũ cũng mới
hồi chánh là giáo sư (đại học Hà-nội)
Phạm Thành Tài.
Khi
miền Nam mất vào tay cộng quân, ông đă thoát
được ra nước ngoài. Mấy năm
đầu ông phải làm đủ mọi công việc
để kiếm sống nên tạm ngưng viết trong
vài năm. Đến khi đă dành dụm được
một số tiền ông liền "trở lại
cầm bút với một sức mạnh vũ băo, ông
viết như thác đổ…" (2) Ngoài bộ hồi kư 5
tập nói trên, sau đây là những sách ông đă viết
từ khi tới Mỹ:
2000 Ngày Đêm Trấn Giữ
Củ Chi (7 tập).
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết.
Mười Năm Mưa Phùn Gió Bấc.
Những Bậc Thầy Của Tôi.
T́nh Trên Cánh Gió.
Nửa Thế Kỷ Phạm Duy
Trả Ta Sông Núi (thơ, trường ca)
Lệnh Tấn Công (kịch)
Và 36 cuốn vừa truyện dài, vừa truyện ngắn:
Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ C̣ng Số 8
Kẻ Sống Sót. The Survivor (Anh ngữ)
Đỏ Và Vàng. Đỏ Và Bùn. Bùn Đỏ. Biển
Lửa Và Núi Tro. Ta Về Hôn Đất.
Sông Nước Hậu Giang. Cái Rác. Coi Chừng Chó Dữ.
Ngọn Rạch Bằng Lăng Thiên Đàng Treo. Thiên
Đàng Treo Đứt Giây. Con Người Vốn Quư
Nhất
Tự Vị Thế Kỷ. Thiên Đàng Chuột. Ông Lăo
Thổi Bong Bóng
Trăng Kia Chưa Xế. Vàng Mô Bông Lúa. Những Độ
Gà Ṇi. Thầy Tư Cóc
Dưới Bóng Dừa Xanh. Xóm Cái Bần. Mưu Trí Đàn
Bà. Buồng Cau Trổ Ngược. Tấm Lụa Đào…
Cô Ba Trà.
Ngọc Vùi. Hột Xoàn Là Của Trời Cho
Quê Huơng Yêu Dấu. Đồng Bạc Để Nái. Cái
Móng Tay.
Bữa Tiệc Thịt Chó Dưới
Trời Cần Vương (lịch sử tiểu
thuyết)
khổ
của chương này cũng như mục đích của
toàn soạn phẩm không cho phép lược tóm và trích
dẫn tất cả 34 tác phẩm của Xuân Vũ, mà tác
phẩm nào cũng chứa đầy dẫy dữ
kiện. Chúng tôi sẽ chỉ chọn một vài
đoạn vắn rải rác ở một số tác
phẩm nói lên nhận xét của tác giả về chế
độ và những nhà lănh đạo trong chế
độ "xă nghĩa" đó, theo từ ngữ
của Xuân Vũ. Tuy nhiên chúng tôi sẽ nói kỹ hôn về
tập "Đường Đi Không Đến",
đă đoạt giải nhất văn học miền Nam
dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Cuốn sách đó thuộc loại hồi kư. Về
tiểu thuyết sẽ trích dẫn bộ " Đỏ
Và Vàng".
Đường Đi Không Đến
Đường
Đi Không Đến là cuốn đầu trong bộ
hồi kư (Vượt Trường Sơn) mang cùng tên
"Đường Đi Không Đến" gồm 5
cuốn. Vào những năm 1968-1969, cuốn này đă
được đăng dần trên tờ báo Tiền
Tuyến của Nha Chiến Tranh Tâm Lư, Bộ Quốc Pḥng
VNCH rồi được xuất bản tại Saigon
năm 1973. Tác phẩm đă được giải
thưởng của Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu. Không đầy 1 năm sau nó đă
được tái bản tại Saigon và tính đến
năm 1993 th́ nó đă được tái bản 8 lần
tại Mỹ. Tuy là một cuốn hồi kư gồm
những sự việc có thật được thuật
lại theo thứ tự thời gian nhưng đă
được tác giả viết một cách trau chuốt
đến độ hấp dẫn không kém ǵ những
tiểu thuyết thời danh. Có lẽ v́ nguyên những
sự việc xảy ra tự chúng đă rất ư độc
đáo và đă để lại trong tâm trí tác giả
những ấn tượng sinh động khác
thường. Để trả lời những ai nghi
ngờ tác giả cường điệu, xin trưng
dẫn lời tác giả trong bài tựa cuốn tiểu
thuyết "Đỏ Và Vàng":
"…Đó
có phải là "cường độ" không? Ai
CƯỜNG nổi đến ĐỘ đó?? Chính cái
thực tế đó, tự nó đă là một sự
cường độ tối cao rồi, cần ǵ phải
cường độ nữa. Đúng tiếng của nó là
cường điệu. Không có nhà văn nào không
cường điệu. Nhưng khi sáng tác về cộng
sản th́ không cần. Chỉ sợ không viết nổi
sự thực về c.s. thôi."
Tôi
không phải là một nhà phê b́nh văn học. Mục
đích soạn phẩm này cũng không phải để
nêu lên những cái hay cái đẹp của một tác
phẩm văn chương. Tuy nhiên với tư cách là
một độc giả thường tôi muốn chia
sẽ với bạn đọc sự cảm phục
của tôi đối với lối viết chuyện linh
hoạt, tài hoa của tác giả, bằng cách trích dẫn
dưới đây một vài đoạn vắên mà tôi cho là
hay, để kéo sự chú ư của độc giả tới
những điều chân thật, sâu sắc mà tác giả
giăi bày trong cuốn sách liên quan đến cái nh́n của ông
đối với cộng sản Việt Nam trước
và sau khi ông rời bỏ cộng sản.
1.
Đôi chân ngọc của cô vũ công vũ Ba Lê tên Thu:
"Tôi
trỏ vào Thu đang từ suối đi lên. V́ sợ
ướt quần nên Thu xắn lên quá đầu gối
rất xa. Màu da trắng loáng thoáng qua những kẽ cây
rừng. Tôi rỉ tai anh trạm trưởng: Cặp
đùi đẹp nhất thủ đô đó, anh xem giùm
một chút là hết bi quan ngay.
-
Khậc, khậc! Anh trạm trưởng nh́n theo
hướng tay tôi chỉ rồi quay lại, nét mặt
hững lên, thô ngây như một anh chàng lần đầu
mới nh́n thấy đàn bà.
Thu
không thấy tôi và anh trạm trưởng, nên cứ tự
nhiên đi tới, càng lúc càng gần chúng tôi. Cái màu trắng
mơ hồ lúc năy bây giờ đă hiện lên gần quá. Có
thể nom thấy những hạt nước c̣n đọng
trên làn da như những hạt sương điểm trên
những cành hoa bạch huệ. Nhưng anh trạm
trưởng không nh́n thẳng. H́nh như anh bị lóa
mắt trước một hiện tượng kỳ
lạ, xa lạ với cuộc sống lâu nay của anh.
C̣n tôi th́ có thói quen, khi th́ công khai, khi th́ lén lút, khi th́
thiệt t́nh khi th́ vờ vịt tôi đă nh́n cái hiện
tượng đó, cái kỳ quan đó không biết bao nhiêu
lần, mỗi lần mỗi rung động, mỗi ư
nghó, mỗi diễn biến tâm trạng, mỗi dục
vọng. Tôi đă t́m thấy tất cả an ủi trong cái
hiện vật lạ lùng ấy. Thơ tứ ở trong
đó và những ư nghĩ sôi nổi, những cảm t́nh
nồng cháy cũng ở trong đó….
Nói
đến Thu là tôi nghĩ ngay đến đôi thỏi ngà
thon thon, không no tṛn quá cũng không mong manh quá, một cái ǵ
gần như được cân tiểu ly cân đo và
một bàn tay điêu khắc kỳ diệu nhào nặn tác
hợp." (trang 178)
(và nơi trang 245): "Coi chừng
…ḥn đá đó trơn lắm!" Tôi chỉ ḥn đá mà
mắt tôi không rời chân nàng. Làn da trắng vừa xanh mét
vừa ướt nước. Những hạt nước
c̣n đeo dính rải rác trên chân nàng như luyến tiếc
những giây phút sinh thú của chúng nên chúng cố bám vào
đấy như những hạt ngọc để trang
điểm cho những vật thể mà sắc đẹp
vốn đă thừa. Thu ôi! Nếu tôi được là
một hạt nước dính nôi chân em! (…)
-
Ước ǵ anh được làm một hạt bụi
dưới chân em.
- Em
sẽ nghiền nát anh ra.
-
Không, anh sẽ bay tung lên và đáp lên tóc lên má em.
Thu
đỏ rừ hai má…. " (tr.245)
Sách có
hơn ba trăm trang th́ gần một trăm trang tác
giả dành cho cặp chân cô vũ nữ Ba Lê. V́ chẳng
những nó đẹp, nó c̣n ḅ thưông, ḅ sưng, ḅ
độc nữa. Biết bao người chiêm
ngưỡng nó, ao ước nó, giành nhau săn sóc nó. Khi
đôi chân ngọc sưng húp cần qua suối hết
người này đến người kia ước mong
được cơng nàng con gái đẹp có đôi chân ngà. Tác
giả cũng đ̣i cơng, nhưng vừa qua côn sốt rét
xong sức đâu mà cơng. Khi nàng té trên ḍng suối, chàng
cố tiến tới chỉ mong được đỡ
nàng lên nhưng không kỊp v́ đă có những anh lính
trẻ ôm lấy nàng trước rồi. Nhưng dầu
sao chàng vẫn có ưu thế với nàng hôn bất cứ
ai. Những lúc không cần sức th́ chỉ có chàng có cơ
hội và quyền lực để săn sóc nàng. Nàng
vẫn biết chàng đa t́nh:
"
- Ai anh cũng yêu! Tôi vui vẻ: - Em trách anh làm ǵ chuyện
đó? - Không, em đâu có trách anh. Thu lặng lẽ nh́n tôi
với đôi mắt đờ dại không c̣n ánh sáng.
Rồi Thu khẽ lắc đầu: - Anh đừng yêu em!
- T́nh yêu như trái chín. Làm sao ngăn cản
được? - Em không chịu đựng nổi t́nh
cảm mănh liệt của anh!" Tôi quỳ sụp
xuống và ôm chặt lấy đôi chân nàng. Tôi nghe như có
một khối nam châm hút tôi vào một vật ǵ mền
mại và ngọt ngào hương. Bên tai tôi tiếng gió rít,
tiếng suối reo. Một cánh buồm đang no gió
hứa hẹn một cuộc vượt trùng dưông"
(tr 318-319).
Cũng
vẫn đôi chân nơn nà, thon thon của Thu sẽ là
đề tài tranh căi gay go giữa ông Chín, ngoại ngũ
tuần, với đám lính trẻ về "Lập
Trường" (Lập trường chính trị, lập
trường cách mạng hay lập trường giai
cấp?) kéo dài trong nhiều trang sách linh động mà duyên
dáng gần cuối sách nói lên hết cái thâm ư của tác giả
nhằm chế riễu lập trường của
Đảng.(tr. 257-262).
Tiếng
gọi ân t́nh của đôi chim gợi nhớ lại cuộc
giao t́nh của cặp trai gái (Chính là tác giả và cô bạn
gái tên Phương):
"Tôi
nghiêng đầu ra mép vơng. Không gian sầu thảm. Một
con chim gi đang đậu ngay trên đỉnh đầu
tôi, tự năy giờ đứng ở đấy, chốc
chốc lại kêu lên những tiếng ai oán. Tôi không
thấy nó nhưng tôi chắc nó mầu xanh sậm và có
đôi mắt chan chứa u buồn. Ở đàng kia có
một cô luôn luôn đáp lời, mỗi lần chú đàng
này gióng lên tiếng gọi. Dường như chúng đang
ḥ hẹn t́m kiếm nhau. Tôi có cảm giác đó là linh
hồn của hai người chết v́ một mối t́nh
nan giải, và đôi linh hồn ấy đêm đêm lại
quờ quạng t́m đến nhau để nối lại
cuộc t́nh ái dang dở trên dương trần. Tiếng
kêu của chúng nghe năo nùng ai oán lạ. Nghe chim kêu tôi thấy
đau khổ tràn ḷng. Tôi nghe như gan ruột ḿnh chín
từng đoạn một, nỗi t́nh yêu, nỗi cuộc
đời.
"Dội
lên trong tâm tư tôi một nỗi ai hoài xa xót. Hiện lên
trong đầu óc tôi một đôi nhân t́nh …Họ yêu nhau.
Họ ḅ cấm đoán…Nhưng rồi họ vẫn yêu
nhau. Họ ḅ cảnh cáo (….)
…Rồi
nàng nghe tất cả những cảm giác của nàng
dồn lại ở một trung tâm, một nôi, một cái
rốn đại dương ào ào sóng dậy mà cây
thiết bảng thần thông trấn giữ vừa
cắm thẳng vào, đau đớn mà êm ái. Nàng nghe nàng trôi
bập bềnh trên mặt của một biển nhạc
mênh mông với một nḥp điệu đều
đều với những trường canh chắc ṇch.
Nàng không thấy ngọn cây đang quay tít bên ngoài, không
thấy đôi chim đang trố mắt nh́n nàng. Giây phút
đó kéo dài. Đột nhiên nàng muốn rít lên, nàng thấy
toàn thân nàng rắn lại thành một tảng băng và
đồng một lúc nàng cũng nghe có một làn
nước ấm đê mê chảy qua suốt khối
băng ấy. Hai cánh tay nàng giô lên ôm siết lấy,
quấn chặt lấy, gh́ xuống, miết xuống
một vật ǵ vừa nặng vừa ấm làm cho
khối băng kia tan vỡ, đầm đ́a. Ngọn gió
hiếm hoi của rừng già thổi qua như một
người khách lănh đạm. Lá lại rôi, đàn ve
lại thổi điệu nhạc sầu muôn thuở.
Nàng
đă nghe lại tiếng vỡ của lá khô ḍn và nàng
gọi: -Anh!
(…) Chao ôi tôi nằm một ḿnh
ở đây, treo lủng lẳng trên cành cây mà tiếc cái
kỷ niệm của chính tôi. Cái cảnh đó đối
với tôi đáng lẽ ra là cuộc sống thực hàng
ngày, thế mà nó đă trở thành kỷ niệm, đáng
lẽ là tưông lai, nó lại là dĩ văng, đáng lẽ là
hạnh phúc, nó lại là khổ đau, và tôi biết tôi
với Phương từ đó chỉ c̣n sống với
nhau bằng kỷ niệm. (trang 202-206)
2. Ư nghĩa của nhan đề "Đường
Đi Không Đến".
Sau 30
tháng tư, khi đă chiếm được miền Nam
rồi, các người cộng sản, các đồng chí
cũ của tác giả đă cười đắc
thắng, nếu như họ gặp được tác
giả chắc sẽ ngạo nghễ bảo ông rằng:
"Đấy, mày đă thấy là đường đi
có đến hẳn ḥi… "Chúng tao đă đến. Cách
Mạng đă đến. Thống nhất đă
đến. Mày c̣n dám nói không đến nữa hay thôi?"
Đó
là ư nghĩa tiềm ẩn sâu xa của cái tựa, cái nhan
sách. Có lẽ khi đặt tên cho cuốn sách Xuân Vũ không
phải không nghó tới điều đó. Và chắc ông
cũng không ngờ rằng Cộng sản lại có
thể chiếm được miền Nam. Nhưng ông
vẫn có thể trả lời không nao núng: "Đến
mà vẫn là không đến. Để rồi xem có đúng
vậy không." Và cho đến khi tác phẩm này
được tái bản ở Hoa Kỳ th́ mọi
người, nhất là những đồng chí cũ
người Nam Bộ của ông, đều thấy
rằng cuộc "chiến thắng" đă chẳng
đi đến đâu, v́ người miền Nam đă
bị lừa gạt, lợi dụng, bạc đăi và bóc
lột, phải sống kiếp sống tù túng, ḱm kẹp
và cực khổ gấp trăm lần hơn xưa. Và
không phải chỉ có người miền Nam mà cả
người miền Bắc cũng cùng chung số phận.
Chỉ trừ một số rất ít thuộc giai cấp
lănh đạo mới, giai cấp "tư bản
đỏ". Vậy th́ đường đi vẫn
không đến, theo ư nghĩa tượng trưng, chung
cuộc. V́ vậy tập 4 trong bộ hồi kư này mang
tựa đề: "Đến Mà Không Đến"
Nhưng
tựa đề của cuốn sách (tập 1) c̣n có ư
nghĩa cụ thể, giai đoạn của nó đối
với một số đông những người đi
trên con đường đó, con đường
Trường Sơn gian lao hiểm trở ngàn dặm,
thiếu lương thực, thuốc men, nhất là
thiếu tổ chức, thiếu lănh đạo. Cụ
thể nhất, đau đớn nhất, chua xót nhất
là những người bạn thân của tác giả,
kể cả cô bạn gái tên Phương, đă bỏ thây
ở dọc đường.
Lư do
khiến số đông đă không đến nơi
được là đói, bệnh; đáng sợ nhất là
sốt rét rừng; dă thú, hùm beo, rắn rít, ve, đỉa,
vắt; mưa rừng làm đổ cây đè chết
người; sông sâu, núi cao phải vượt trong khi chân
đau, sức yếu, bụng đói. Và trên hết là
biệt kích của đối phương, máy bay trực
thăng, B52 và trọng pháo lúc nào cũng có thể
"thụt" tới. Tác giả đă tả tất
cả những cái đó một cách sinh động với
những chi tiết độc đáo mà chính ông cũng
phải nhận rằng mặc dầu là một nhà văn
đă từng dựng lên những cốt chuyện lôi
cuốn người đọc chỉ nhờ óc
tưởng tượng của ḿnh, nhưng vẫn không
sao có thể tưởng tượng ra nổi những
sự việc thực sự xảy ra trước
mắt. Chính v́ vậy mà tác phẩm của ông đă có
sức lôi cuốn, dẫn độc giả từ
ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trên mỗi trang
sách.
Ông
đă nói nhiều về cái đói nơi nhiều
người, như Roánh, như Hồng em ruột của
Thu… Cái đói không những làm biến đổi h́nh
thể con người, mà c̣n biến đổi hẳn tính
t́nh, phẩm cách và lưông tri con người. Cứ
lấy một ví dụ thiết thực nhất là chính tác
giả. Ông đă không thể hiểu nổi tại sao có
lúc ông đă từ chối một củ khoai ḿ với
một anh lính trẻ v́ quá đói đă ngửa tay xin ông,
trong khi củ khoai ḿ của ông chưa cần tới v́ ông
c̣n đang sốt chưa có thể lấy ăn.
Dưới đây tôi chỉ xin chọn một vài hàng trích
lấy từ câu chuyện thuơng tâm khá dài của tác
giả:
"Bỗng
một tiếng người hỏi tôi: - Anh ngủ à?
- Tôi
định nằm chơi nhưng lại buồn ngủ,
nguy hiểm quá! Tôi trả lời và mở mắt ra th́
thấy một anh bộ đội đứng sừng
sững ở đầu vơng. Mặt anh ta phù lên no tṛn
như một cái bánh bao, mắt anh ta lờ đờ, h́nh
như anh ta đang sốt. Anh ta nói ngay:
-
Đồng chí c̣n khúc sắn trên đầu vơng. Chắc
đồng chí không dùng cho tôi…tôi xi..xin.
"Tôi
ngồi bật dậy. Tôi như bị điện
giật v́ có người đụng tới cái bao tử
sắp thủng của tôi. Tôi không nói năng ǵ mà cứ
bàng hoàng. Tôi không hiểu anh ta nói ǵ cả. Và tôi cũng
đáp lại như một cái máy, không hiểu rằng ḿnh
đă nói ǵ!
"-
Không được đâu đồng chí, đây là của
một đồng chí khác, mà đồng chí đó đang
sốt không ăn cơm được. Chứ phải
của tôi th́ tôi cho đồng chí ngay rồi. Đồng
chí với nhau mà! Hơn nữa đồng chí vào giải
phóng miền Nam của tôi.
"Bây
giờ nhớ lại những lời đó, tôi thấy
thật xấu xa. Ghê gớm thay cái miệng con
người, cái miệng khôn ngoan hay ngu xuẩn cũng
chỉ v́ cái dạ dầy. Trong một con người cái
cao nhất không phải là cái đầu mà là cái dạ
dầy.…"
Triết
lư về cái dạ dầy c̣n được tác giả nói
tiếp thật dài… Sau đó tác giả đă hối
hận, tự trách và cố t́m cách chuộc tội bằng
cách nhờ một người khác chuyển củ sắn
tới anh lính đói kia. Nhưng người này đi
được một quăng th́ bóc ăn, c̣n ngoái nh́n lại
như chế riễu tác giả.!
"…mắt
tôi trông thấy từng người rơ ràng. Chỉ cách tôi
độ mười bước th́ vỏ sắn đă
rơi tơi tả xuống đất….Anh ta đă
nuốt trửng cái lương tâm của tôi…" (trang
262-263)
Đến
đây tôi xin trích nguyên văn một đoạn của tác
giả để mô tả con đường họ đi
và lư do tại sao không đến:
"Tất
cả những người t́m ra con đường xuyên
qua hàng ngàn cây số rừng sâu núi thẳm để
đưa quân về "giải phóng miền Nam"
thật là giỏi chứ chẳng phải chơi đâu.
Nhưng vạch đường là để cho
người ta đi. Muốn cho người ta đi
một con đường dài một trăm ngày thẳng
thét, liên tục như vậy và là con đường núi,
đường đèo, đường lội,
đường trèo, đường đi đêm không
đốt đèn, đường đi hai ngày với
một bi đông nước với mấy vắt cơm
thiu, con đường mang vác khổ sai mà không đủ
muối gạo ăn, con đường qua sông không thuyền,
con đường chưa ai đi và sẽ không ai đi
nếu người ta biết trước và…v.v..Muốn
cho quân sĩ hành quân trên một con đường nguy
hiểm như vậy, ít ra phải cho nó ăn uống,
phải có thuốc men, có bóng cây, có nhà có trạm nghỉ
ngơi th́ mới ḥng mong nó đi tới nôi
được. Đàng này th́ không có ǵ cả ngoài con
đường trô ra đó với những dẫn
đường bất măn hà khắc, đôi khi ác
nghiệt, và lúc nào cũng muốn rời bỏ chức
nghiệp của ḿnh, một con đường đầy
những người bệnh liệt vơng (không phải
liệt giường, v́ ở đây không có giường)
với bom đạn máy bay không ngớt với những
toán đào ngũ trở lui do cả cán bộ tiểu
đoàn "lănh đạo" với những tên bất măn
tự gây thương tích để khỏi đi tới
nơi v.v….Một con đường như vậy bảo
sao người ta vui vẻ hy sinh mà đi cho
được?…
…chỉ
nội cái sốt rét thôi cũng đủ đánh tan
một nửa lực lượng vô Nam rồi.
Vượt Trường Sơn vai đeo ít nhất 30 kí
súng đạn mà trong lưng chỉ có mỗi một kí
muối và 20 viên kí ninh. Tôi nghĩ lại mà rùng ḿnh."
Hăy
đọc thêm về con đường Trường
Sơn vinh quang qua ng̣i bút quặn đau của Xuân Vũ:
"Trường
Sơn, cái tên đó hùng vĩ thật, nghe th́ thích lắm,
xem ảnh th́ ai cũng mê say cảnh lạ kỳ thú,
nhưng than ôi! Trường Sơn xanh bạt ngàn, xanh vô
tận mà chẳng bới ra đâu được một
lá rau, c̣n nấm của Trường Sơn nhiều
người thèm quá, ăn bừa, ăn xong, lỗ chân lông
ra máu, mồm hộc máu ra mà chết. Nước
Trường Sơn uống to bụng, phải nấu
thật kỹ rồi mới dám nuốt vào. Mưa
Trường Sơn th́ bất ngờ và day dẳng thúi
đất, thúi cả da thịt.
"Trường
Sơn đứng về mặt dinh dưỡng th́ không có
ǵ đáng ca ngợi cả, ngoại trừ những
bầy khỉ, voi và trâu rừng rất nhát, rất nguy hiểm.
Tôi biết rằng con đường về là con
đường đầu thai một lần nữa, con
đường về là con đường đói khát, con
đường sấm sét, con đường đau
khổ và gian khổ, con đường dốc, con
đường dài, con đường đi không
đến mà rồi vẫn phải đi, trên vai phải
mang theo những sứ mạng bày đặt, không biết
ai trao cho, một thứ vinh quang không có, một thứ t́nh
cảm ái quốc cũng giả tạo nốt, chỉ c̣n
lại có t́nh cảm gia đ́nh là thực thôi!" (tr.111)
Mỗi
trang giấy trong tác phẩm, mỗi ngày trên con
đường vào Nam, mỗi chặng đường trèo
đèo vượt núi lội sông băng suối đều
thấy toàn đói, khát, bệnh tật, hiểm nguy và
chết chóc, chết v́ đói, chết v́ bệnh, chết
v́ bom, v́ hỏa tiễn, chết nằm trên vơng, chết
trong hốc đá, chết không ai chôn, hay chôn mà để
ḷi hai bàn chân ra, chết trôi sông, chết v́ bị cây đè,
hay v́ cây gẫy trong mưa đâm vào ngực, thậm chí
chết v́ bị huyện ủy làm t́nh trên vơng, vơng bị
đứt, lưng cô gái rơi xuống đúng ḥn đá
nhọn bị trọng thuơng, không ai cấp cứu v́ huyện
ủy đă bỏ trốn! V.v. và v.v…
Tất
cả những thảm cảnh đó do ai gây nên? Tác giả
không nói một cách minh thị. Nhưng cứ đọc
lời tựa và những trang cuối của cuốn sách
th́ thấy rơ đó chính là "Đảng ta" vậy. V́
lời tựa và đoạn kết không dài nên tôi xin trích
nguyên văn ở đây để thay kết luận riêng
đối với cuốn đầu của bộ hồi
kư ĐĐKĐ:
"Thay
lời tựa.
Thuở
bé đi học trường quận tôi thường đi
một chiếc xe ngựa quen ở chợ làng. Chủ xe
là một lăo già có lẽ đưa xe ngựa chuyên
nghiệp. Khi tôi đến trường làng tôi đă
thấy lăo đánh xe đưa khách, và về sau, khi tôi
lớn lên, tôi vẫn không thấy lăo làm nghề nào khác.
Thời
ấy con ngựa của lăo thật gầy. Không biết nó
đă chạy mấy vạn lần trên con đường
đá lởm chởm từ làng lên quận, cũng không rơ
nó đă mang lại cho chủ bao nhiêu bạc cắc xu
năm, chỉ thấy nó gầy quá, hầu như không
đủ sức kéo xe nữa, nhưng nó vẫn nện
móng hằng ngày trên con đường quen thuộc ấy.
Nó
chạy chậm nổi tiếng. Điều đó làm cho
lăo già không hài ḷng. Lăo ta dùng roi. Nhưng roi không có kết
quả. Thực ra không phải con ngựa chạy chậm
v́ lười mà chính v́ nó kiệt sức. Để lợi
dụng cái sức c̣n lại trong con vật, lăo già đă
nghó ra một cách có vẻ nhân đạo hôn. Lăo ta buộc
một mớ cỏ non trên đầu cần câu và buộc
chiếc cần câu dọc theo gọng xe.
Mồi
lần con ngựa ḅ mắc vào xe nó cứ nh́n thấy
mớ cỏ non đó nhảy múa trước mặt nó,
tưởng chừng nó có thể ngoạm được
và nhai ngấu nghiến đi ngay.
Nhưng
tôi nghiệp con vật ngây thơ, có ngay xưông sống ra
kéo chiếc xe đầy khách, mong rút ngắn cái khoảng
cách giữa mồm nó và mớ cỏ. Cái mớ cỏ
vẫn nhảy múa trước mặt nó, quyền rũ vô
cùng, giục nó chạy tới, chạy nhanh tới.
Con
vật ngây thơ vẫn cố sức phi tới với
chút sức tàn, mong đớp được mớ cỏ.
Có bao giờ lăo chủ xe lại giải thích cho con vật
thân yêu của lăo v́ sao nó chạy hoài mà không ngoạm được
mớ cỏ?
Saigon
tháng Năm, 1973. Tác giả." (ĐĐKĐ, tr.10-11)
Đến
cuối sách, có lẽ ngụ ư chặng cuối của con đường
đi không đến, tác giả viết về chiếc xe
và con ngựa như sau:
"Mái
nhà, bờ ruộng với những hàng trâm bầu râm mát
trưa hè. Và đây rồi cái kỷ niện sâu sắc
nhất của cậu học sinh trường làng. Trên con
đường đá xanh đầy ổ gà từ làng lên
quận, một chú ngựa c̣m kéo chiếc xe ọc ạch
với lăo già đầu bạc cầm con roi nẹt đen
đét trong không khí.
Không
hiểu sao cứ mỗi lần nhớ tới quê tôi th́ tôi
lại bắt gặp cái h́nh ảnh ấy. Chiếc xe
ngựa quá thân thuộc với tuổi thô của tôi.
Từ lúc chú ngựa hăy c̣n tô sung sức đă từng oanh
liệt đuổi theo xe hôi cho đến chú ngựa
gầy yếu đi cam cḥu cho chúng bạn lướt qua
mặt ḿnh, tôi vẫn đi chiếc xe ấy.
Rồi
cho đến khi chú ngựa kiệt sức, lăo già đem
một mớ cỏ non treo trên đầu cần câu
buộc dọc theo gọng xe để khuyến khích chú
ngựa chạy nhanh lên, tôi cũng không đi chiếc xe nào
khác.
Một
hôm tôi nói với lăo già:
- Sao
bác chơi chi ác vậy?
Lăo già
chỉ cười, cái cười thỏa măn của
một kẻ thi hành một quỷ chước thành công. V́
là khách quen cho nên một hôm tôi được chứng
kiến một cảnh năo ḷng. Hôm đó chiếc xe sắp
về tới chợ. Cái dốc cầu cao quá. Lần nào
về đến đây lăo già cũng ḥ hét nẹt roi vang
trong không khí. Lần này cũng thế. Chú ngựa bỏ vó
rầm rập xuống mặt đường đá xanh,
tóe lửa, cố lôi chiếc xe lên đến nửa
dốc. Bỗng nó bỏ vó lôi hẳn đi. Mớ cỏ
non đang nhảy múa tung tăng trước mặt nó
bổng lắc lư như quả lắc đồng
hồ.
Lăo già
vừa nẹt roi vừa quát, nhưng chiếc xe sựng
lại rồi tụt xuống dốc. Lăo già vội
nhảy xuống đất, cắn chiếc roi vào mồm
và hai tay bắt bánh xe lăn tiếp với con vật.
Nhưng chiếc xe nặng quá và đằng sau chiếc xe
c̣n có cả hàng chục năm lao lực, cho nên lăo già dù có
tài cán mưu kế đến đâu cũng không
đẩy nổi chiếc xe và con ngựa già kiệt
sức của lăo lên dốc.
Chiếc
xe cứ tụt dần, rồi bỗng đánh rầm
một cái, chiếc xe lật ngang qua. Lăo già chạy vụt
tới nắm lấy cái hàm thiếc của chú ngựa lôi
nó đứng dậy, nhưng chú ngựa đă ngă
xuống, bốn vó bôi lia, cùng với hai bánh xe quay tít trong
không khí. Lăo già vội vă rứt lấy mớ cỏ đă
héo ở ngọn cần câu nhét vào mồm con vật đă
sùi bọt lên trắng xóa, và thân mật bảo:
-
Ăn đi, ăn đi con là khỏe lại ngay!
Con
vật như nghe thấy lời nói ân nghĩa đó
của lăo chủ, nó cố há mồm ra mà nhận lấy
cái phần thưởng độc nhất của
đời nó trước khi nó trợn đôi mắt lên mà
nh́n lăo chủ …lần cuối cùng. (…)
Chao
ôi! Sao giữa cái cảnh hăi hùng này mà tôi nhớ lại
một chuyện buồn làm chi vậy?
Tiếng
rên rỉ của anh lính gẫy chân làm cho tôi chợt nhớ
ra rằng ḿnh đang nằm bên bờ một con suối
lũ. Trời vẫn mưa. Nước đă dâng lên sát
đít vơng tôi.Gió hú trên những ngọn cây cao như
bước đi của những đám cô hồn t́m
chỗ nghỉ chân. Một nhánh cây tḥ vào trước
đầu vơng tôi chập chờn như một mớ
cỏ non nhún nhảy. Nếu quả thật đó là
mớ cỏ non th́ đây chính là chiếc xe đă gẫy
đổ dọc đường." (trang 357-358)
Minh
Vơ
Trích
chương 17 Phản Tỉnh Phản Kháng, Thực Hay
Hư. (trang 387- 404)
(*) Con
số tính đến năm 1999, trong tổng số 72 tác
phẩm đủ loại.
Lời của TVVN Online:
Con
số tính đến năm 2003 là 82 tác phẩm. 6 tác
phẩm cuối đời của nhà văn Xuân Vũ do
Thuvienvietnam.com Ấn Quán xuất bản. Toàn bộ 82 tác
phẩm của nhà văn Xuân Vũ đều
được lưu trữ tại Pḥng Đọc Sách
của Thuvienvietnam.com.
(Nguồn: Thư
Viện Việt Nam - http://www.thuvienvietnam.com/content-50.html)