Báo-chí sinh viên miền Nam trước 1975

Nghiêncứu về nền văn-học miền Nam giai đoạn1954-1975 không thể bỏ qua “mảng” báo-chí sinh viên từcác phân khoa đại-học công cũng như tư(cũng như các đặc san của học sinh trung họcthường do học sinh đệ nhị cấp đảmtrách và bài vở), vì các ấn phẩm này mang những nétđặc-biệt của thanh niên thiếu nữ của mộtthời đại nhiều biến động, từ ngaysau Hiệp định chia đôi đất nước20-7-1954, biến thiên theo thời sự chính-trị, xã-hộisôi động cho đến biến cố 30-4-1975, và từđịa đầu miền đất Thần-kinh chođến vùng đồng bằng sông Cửu-long. Vềhình-thức, báo-chí sinh viên xuất hiện dưới hìnhthức in ấn với giấy phép của chính quyềncũng như dưới dạng “văn-chương xám”in roneo và phát hành bán chính thức cũng như ngoài vòngcương tỏa của luật pháp.

Ngaykhi làn sóng di-cư từ miền Bắc và Bắc Trung-Việtvào bên này vĩ-tuyến XVII, đã xuất hiện nhữngtờ báo của thành phần sinh viên di cư, như LửaViệt là đặc san củaHội Sinh viên Đại học Hà-Nội vừa định cư ở miền Nam (tậptrung ở các trại di cư vùng Sài-Gòn) do Trần Thanh Hiệplàm chủ-nhiệm, Nguyễn Sỹ Tế chủ-bút - nhómchủ trương còn có Thanh Tâm Tuyền và cộngtác có Doãn Quốc Sỹ, Lữ Hồ, ...; báo chỉ rađược vài số trong năm 1954 và ngưng xuất-bảnđầu năm 1955 với số Xuân “Chuyển hướng”.Tinh thần “sinh viên” này được tiếp nối ngaysau đó với Người Việt, một tuầnbáo văn-nghệ xưng là “diễn đàn tiền phongđấu tranh văn-hóa”, Doãn Quốc Sỹ làm chủ-nhiệm/trưởngnhóm, Thanh Tâm Tuyền thư-ký tòa-soạn cũng sốngkhông thọ, ra bộ mới và đình bảnvào cuối năm 1955 với số 4 đặcbiệt chủ đề Sáng Tạo[trong số các bài có thơ Còn Sáng Tạo, Ta Hãy Còn Sáng Tạocủa Quách Thoại]; gồm nhữngcây bút chính là: Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Doãn QuốcSỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Quách Thoại và Mai Thảobên cạnh Trần Việt Hoài, Trọng Lang, NguyễnĐức Quỳnh, v.v. và ngoài ra còn là nơi xuất hiệnlần đầu tiên thơ văncủa Mai Thảo, Nguyên Sa, QuáchThoại, v.v. Có thể nói tạp-chíSáng Tạo của Mai Thảo được hìnhthành sau đó đã bước đi từ hai tờ báosinh viên LửaViệt Người Việt này. Mặt khác, tạp chíVăn-Học do Phan Kim-Thịnh sáng lập kiêm chủnhiệm và chủ-bút Dương Thứ-Lang (Dương Kiền)mà số đầu tiên ra ngày 1-11-1962, cũng bắt nguồntừ phong trào sinh viên – những sinh viên di cư cuối hoặcđợt cuối tốt nghiệp, cùng thế hệ sinhviên từ miền Trung vào thủ đô Sài-Gòn.

*

Cho đến khi chế độđệ nhất Cộng hòa bị lật đổ bởicuộc đảo chánh 1-11-1963, báo-chí sinh viên mới thựcsự bùng phát và/hoặc gây hương sắc “sinh viên” thờiđại ngoài xã-hội nhiễu nhương nhưng sinhviên đầy lý tưởng muốn bộc lộ, thi thố.Báo-chí sinh viên nổi tiếng ở thủ đô Sài-Gòn có tờ Tình Thương của sinh viên Đại học Y khoa Sài-Gòn, cơquan tranh đấu văn-hóa xã-hội của sinh viên YKhoa”, số ra mắt tháng 6-1964 và số cuối năm 1967 (sau số29, 1966). Báo có giấy phép vàđược in ở nhà in Trường Sơn nhờ quảngcáo của các dược-phòng và viện bào chế, và báo cũng bán phổcập ra cả các tiệm sách và quầy báo. Theo nhà văn Trang Châu thì báo bịTổng trưởng Thông Tin rút giấy phép (Tập san YSĩ (Montréal) số184, 1-2010,tr. 97) theoNgô Thế Vinh tổng thư ký từ số 9 (1964), thì báo đình bản khoảngtháng 8-1967 (TSYS đã dẫn, tr. 47). Chủ nhiệm Phạm Đình Vy,chủ bút Nguyễn Vĩnh Đức, tổng thư ký TrầnXuân Dũng, Tình Thương nổi tiếng vì xuất hiện vàothời miền Nam đầy những biến động vàcũng đã làđất nẩy mầm một số tài năngvăn-nghệ trẻ như Ngô Thế Vinh (vừa xuất-bản Mây Bão cuối năm 1963), Trang Châu (thơ và nhữngchương đầu của Y Sĩ Tiền Tuyến,Trần Mộng Lâm (truyện ngắn), Đỗ Nghê (ĐỗHồng Ngọc), ... với sự cộng tác của cácgiáo-sư và văn-nghệ sĩ bên ngoài. Cổ động cho một quan niệm Y khoa “nhân bản”cũng như phân định lập trường trướctình hình đất nước – báo có tiếng nói của cảhai khuynh-hướng: một nghiêng về các phong trào tranhđấu nóng bỏng lúc bấy giờ và khuynh-hướngchuyên môn của khoa ngành, học để giúp đời!Báo có những mục phiếm luận, tin tức sinh hoạt, biên-khảo, nghị luận, phỏng vấn,dịch-thuật, thơ và truyện ngắn,... Đặc-biệt TìnhThương đã đăng “Nuôi Sẹo”, tiểu-thuyếtdi-cảo của nhà văn vắn số Triều Sơn -sau đó tạp-chí Văn (số 34, 15-5-1965) có đăng lại mộtchương trong số đặc-biệtTruy niệm Triều Sơn”. Và cònphát hành những Tình Thương Phụ Bản (như số 2, 11-1964, yểm trợ cho Phong trào Cứu lụtmiền Trung), v.v. Mộtsố cây viết như Đặng Vũ Vương cổđộng cho một ngành y khoa “nhân bản” nhắm “làmnhẹ bớt khi không trị khỏi được, và an ủikhi không thể trị khỏi hoặc làm nhẹ bớtđi được” với tin tưởng rằng “ngườiy sĩ sẽ chiếm một địa vị một ngàymột quan-trọng trong xã-hội mới” đưađến kết luận “Nhân cách của người ysĩ vượt khỏi chức vụ chuyên môn củangười thầy thuốc để còn bao trùm tất cảcác kiến thức khoa học lẫn cái tiềm thểvăn-hóa (potential culturel) tạo nên hình bóng muôn thuở của‘người áo trắng’ qua dòng lịch-sử và, giữanhững biến cố đảo điên của loàingười, tượng trưng cho hình ảnh tươiđẹp của một nghệ sĩ luôn luôn đi sát vớithân phận con người để hứng lấy tráchnhiệm nhân bản của một trí thức gia đã hấpthụ tinh thần đại học” (“Sự xúc tiếnngành y học”. Tình Thương, số 9, 9-1964; trích từTSYS đã dẫn, tr. 122, 123 &124). Tình Thương đã thực sự là tiếng nói trí thức của sinh viên miền Nam không thân chính quyềnvà cũng không thiên Cộng – mà còn chặn đứngđược những mưu toan chi phối, uy hiếp củanhững thành phần taysai của Việt-cộng! 

ĐấtSống của đại học Dượckhoa, chú tâm phần sinh hoạt của phân khoa và công tác củasinh viên bên cạnh thơ văn trăn trở về thờithế và đất nước, do Bùi Khiết sáng lậpvà chủ-bút. Cũng như tờ Tình Thương, ĐấtSống in ở nhà in Trường Sơn của nhàvăn Nguyễn Thị Vinh.

Đạihọc Văn khoa có tờ Đại Học Văn Khoa (1960- 1968 ?), tờ Văn Khoa xuất-bản những năm 1967-1974 (?) với bài vở của giáo-sư và sinh viên, tờ ĐốiThoại sốra mắt ngày 15-6-1966. Sau đó có tờ Đất Sống số 1 (Xuân 1970),... Ban ngành cũng có đặc san, tậpsan  như Nghiên Cứu TriếtHọc (số 1, 1971) của ban Triết,...

Tờ Văn Khoa trongsố Xuân 1963 có bài “Thoát nhìn tiểu-thuyết Việt-Nam”, ‘sinh viên’ NguyễnThu (62) nhận định khá khắt khe: “Tóm lại thoátnhìn tổng quát tiểu-thuyết Việt-Nam năm nay ta thấythật tình không được vừa ý, tác-giả viếttheo kỹ thuật cổ, tư tưởng cổ và nhữngsuy nghĩ quá đơn giản. Người đọc chỉgặp những sự kiện dễ dãi để chấpnhận chớ không bắt gặp những gì có thể làmthỏa mãn đầu óc muốn làm việc của họ.Người đọc cũng không thấy nhiều ởđây những tiểu-thuyết đọc lại nhiềulần. Những tiểu-thuyết có thể là món ăn mộtđời mà chỉ có những món ăn một buổi, mộtlần. Muốn bổ khuyết điều này, ta có thểviện đến Thành cát Tư Hản của VũKhắc Khoan, nhưng đây lại là một vở kịchvà chúng ta đương bàn về tiểu-thuyết” (tr.90).

Đối Thoại có số Xuân 1967 đặc biệt“Nhìn lại 12 năm phân ly”, ban chủ-biên đã tườngtình lại cuộc thảo luận với 3 câu hỏi vềchiến-tranh quê-hương hỏi các thức giả,giáo-sư, tìm hiểu “1-nguyên nhân của sự phân ly; 2-hậuquả của sự phân ly; và 3-cuộc chiến hiện tạicó giải quyết được sự  phân ly không?”. Cuộc thảo luậnkhông thu hút được nhiều người, chỉ vàinhà báo, văn nghệ sĩ và ban chủ trương tờbáo, như họ cho biết: “đã thất bạicũng như đã thất vọng” cho quyết địnhkhó khăn đó: “Khó khăn trước hết chính là sựấu trĩ của chúng tôi trước một vấn-đềto rộng là thế. Đã mười hai năm qua rồi.Mười hai năm, bà mẹ già Việt-Nam tính nhẩmngón tay: Vừa tròn một giáp. Mười hai năm, chúngtôi những kẻ trên 20 và chưa quá 25, từ những cậubé con tiểu học nay đã trở thành lớn khôn đủđể thấy mình phải mang trên vai một trách vụquá nặng nề. Mười hai năm, bạn bè chúng tôicũng vì trách vụ đó, nhiều đứa đã chếtđi, nhiều đứa còn đang gian khổ nơi núicao, rừng thẳm. Mười hai năm, những đứacòn lại như chúng tôi đang tìm đến nhau đểnhìn lại mười hai năm, tuổi trẻ nghẹnngào, mười hai năm đất nước cắtchia. Tuổi trẻ chúng tôi đã phải gánh chịu tấtcả mọi hậu quả của sự cách chia đó, màvề nguyên nhân thì chúng tôi chỉ được nghe,được đọc lại. Khiếm khuyết lànhư vậy, sao không cảm thấy khó khăn. Chưa kểđến những vấn-đề nan giải khác,như những điều chúng tôi thực hiện liệucó được gửi đến quý bạn không, nhữngđiều chúng tôi tìm hiểu, thăm dò liệu cóđược đáp lại bằng cảm thông cởi mở...”(tr. 72). Trong số tham dự hội thảo, nhàvăn Nguyễn Mạnh Côn đã nói với sinh viên “Hiệntại như chứng tỏ rằng Đông phươngcũng như Tây phương đều đã sai. Trung Cộngcó thể coi như Cao nhất bên Đông cũng không làmđược gì. Mỹ cũng không làm được gì.Nhưng tại sao tôi lại nói đến các Anh? Xã-hộichúng ta đang ở trong tình trạng phân hóa cao nhất.Nhưng phân hóa đến cực độ thì có thể tổnghợp. Không do người này thì do người khác. Các anhđừng để cho những tư tưởng có sẵnchi phối mình, đừng làm học trò, vị họđã sai. Phải cố làm cái mới. Ít tuổi phảitìm, phải hiểu cái cũ để làm cái Mới,nhưng đừng chịu nó, và các anh cũng đã tỏra không chịu, nên mới có buổi nói chuyện hôm nay. Phảilàm một cuộc cách-mạng xây dựng một xã-hộimới. Vấn-đề phân ly không quan-trọng đâu. Vớiphương tiện giao thông, với những tiến bộvề mọi mặt, ranh giới sẽ phải xóa bỏ.Đã đến lúc phải tìm hiểu lại mọi giá trịcũ, để tìm ra những cái mới. Hãy mở tâm hồn,bỏ những thói quen, bỏ tính nghe thiên hạ đồnđại, bỏ mọi thành kiến. Cần nhất phảinhìn cho rõ, thấy cho tận. Nó sẽ hình thành một tâm hồntự do” (tr. 83). Trong số đã gởi tham-luận cóluật sư Trần Thanh Hiệp: ... một cuộc phân ly đã thực sự xảyra trên mười năm với sự đối diện củahai ý thức hệ cộng-sản và tự do, một cuộcphân ly như thế không thể chấm dứt bằng chiến-tranhkhông thôi. Mà còn phải có sự tác động lâu dài củavăn-hóa. Vì khi mà mầm mống sự phân ly còn nằmtrong tâm hồn mỗi người thì không thể nói đãgiải quyết được sự phân ly” (tr. 99). Nhàvăn Võ Phiến cũng góp tham luận cho rằng: Cànglâu hậu quả của cuộc phân ly Nam Bắc càng thêmtai hại và trầm trọng. Chỉ nghĩ đến 12năm qua thôi, chắc chắn đã nhiều lắm (...)Sinh viên Văn Khoa ở Bắc và Nam trên văn thể may rachỉ gặp nhau đến Nhất Linh, Khái Hưng v.v.đến đó là hết. Những thơ những truyệnra đời sau đó ở miền Nam thì ngoài Bắc khôngđọc được, ra đời ở miền Bắcthì trong Nam không đọc được. Đôi bên chia taynhau ở một ngã ba cách đây đã xa lắc xa lơ. NhấtLinh, Khái Hưng thuộc về văn-học sử, chứdính líu gì đến cuộc sống hiện-tại củachúng ta rất ít. Cả một lớp thanh niên không traođổi được văn thơ cho nhau, không theo dõiđược cảm nghĩ của nhau, không hay biếtgì tới cuộc sống tinh thần của nhau (...) Tình trạngqua phân càng kéo dài chùng nào chúng ta càng mất lần các mốidây liên lạc tinh thần, tình cảm chừng ấy càngkhó thông cảm nhau (...) Sài-Gòn và Hà-Nội không nhích gầnthêm được chút nào. Trái lại, khioảng cách tinh thầncàng ngày càng rộng thêm!” (tr. 101-2).        

Tập sanSử Địa là một “tập san học thuật,khảo cứu giáo khoa do một nhóm giáo-sư, sinh viên Trường Đạihọc Sư phạm Sài-Gòn chủ trương” phát hànhmỗi 3 tháng, Nguyễn Nhã đứng tên chủ-nhiệmvà Phạm Thị Hồng Liên quản lý, và với sự bảotrợ của ông Nguyễn Hùng Trương chủ nhà sáchKhai Trí. Tập San Sử Địara được cả thảy 29 số, số 1 ra ngày27-2-1966 và đình bản năm 1975. Ban chủ biên tập san có sự tham gia củagiáo sư, sử gia và chuyên gia cũng như các nhàvăn-hóa khác. Tập san Sử Địa xuất phát từ TinSử Địa, nội san của"Nhóm Sử Địa Đại học Sư PhạmSài Gòn". Tin Sử Địa sau trở thành Nội San Sử Địamà số 4 (1969) với nội-dungcó các bài Thực chất và huyền thoại của nhóm tríthức Cấp tiến, Sách lược Nguyễn VănTrung,... đã đưa đến khủng hoảng ởĐại học Văn Khoa (bị sinh viên nhục mạtrên Nội san này,GS Nguyễn Văn Trung từ chức Khoa trưởng, LêTrung Nhiên từ chức Phó khoa trưởng và các giáo-sưLâm Thanh Liêm, Bùi Xuân Bào (TB Ban Pháp Văn), Thanh Lãng (TB Ban ViệtVăn), Nguyễn Thế Anh (TB Ban Sử Địa) và NguyễnDuy Cần (TB Ban Triết Đông) đồng loạt từchức. Nguyên Sa cũng từ chức giảngviên của Đại học Văn khoa. Viện trưởngĐại học Sài-Gòn đã phải can thiệp và giảiquyết sau đó).

Đại học Sư phạm Sài-Gòncó những Giai phẩm Mùa Xuân Tiếng NóiSư Phạm (1966). Sinh viên Đại học Đà Lạt có tờ DiễnĐàn Sinh Viên (1965-1967?). Sinh viên Vạn Hạnh có Hướng Đi (số 1, tháng 8-1970), v.v.

Thời này không thể không nói đếnnhững tờ báo sinh viên in ronéo và/hoặc không giấy phépcủa Bộ Thông tin. CácTổng Hội Sinhviên Sài-Gòn và Huế tùy nhiệm kỳ và cótranh đấu hay không, cũng xuất-bản báo-chí phầnlớn in ronéo và có tính nội bộ, cả còn xuất-bản sách,như Phác họa dự án cảitổ Đại-Học Văn Khoa (Sài-Gòn, 1967. 71 tr.), hay tuyển tập Thơ Văn-Khoa củanhà xuất-bản Sinh Viên do Đi Tới ấn hành năm1970, ...Tờ Sinh Viên chẳng hạn, trong số 6 (10-1967)đã tỏ ra công khai thân Cộng khi đăng bài của  Nguyễn Trọng Văn nhưng kýNguyễn Văn Bảy “Phê bình quan điểmcách-mạng xã-hội của hai ông Nguyễn Văn Trung vàLý Chánh Trung” (tr. 14-39). Bàiđăng xong thì Uỷ viên Báo-chí Tổng hội Sinh viênSài-Gòn Trần Triệu Luật “thoát ly” vào bưng và báobị tịch thu, đưa đến việc chủ-bútvà 1 Chánh sự vụ (Võ Phiến) Bộ Thông tin bị tốnggiam vì đã cấp giấy phép xuất-bản (chủ-bút bịán 5 năm tù ở). [Đừng lầmvới tờ trùng tên Sinh Viên, “tiếng nói của sinh viên liên viện”của “Hiệp hội báo-chí sinh viên miền Nam” (số 1,28-3-1972) do Việt-cộng lèo lái – cùng trường hợpvới những tờ Tiếng gọi họcsinh, Sinh viên Sài Gòn,...]. THSV Sài-Gòn sau ra bộ mớisố 1 năm 1968 sống đến 1972. THSV Huếcũng có báo cùng tên Sinh Viên (số 1, 11-1964), v.v. THSV Vạn Hạnhsanh sau, số 1 ra tháng 8-1971).

Sinhviên Công giáo có các tờ Thông Cảm (1957-59, rồi 1961-1963), Tổng Liên đoàn sinh viên Công-giáo Việt-Nam có tờ Hiện Diện (số 1, 7-1970), Đắc Lộ của một nhóm sinh viên thuộcTrung tâm cùng tên. Sinh viên Phậttử có tờ Tin Tưởng năm 1968.

Các nhóm, hội ái hữu hoặc cựusinh viên cũng có truyền thống ra tạp-chí, đặcsan, như tuyển tập Văn Khoa – phụđề “khảo cứu-phê-bình-dịch thuật” của“một nhóm giáo chức các Đại Học Văn Khoa Việt-Namxuất-bản mà số Đinh tập 1975 chủ đề“Kỷ niệm 25 năm thành lập Đại họcVăn khoa Việt-Nam” do Sơn Hồng Đức chủ-nhiệm,Đặng Phùng Quân, Nguyễn Thiên Thụ và (Lạp Chúc)Nguyễn Huy phụ trách tòa soạn và bài vở, v.v. Như Hoài Bảo của HộiCựu Sinh viên Quốc-gia Hành Chánh số 1 ra ngày 4-4-1966 vàhình như sống đến năm 1971,...

Người viết một thờiđã qua gần 50 năm cũng từng tham gia hoặc cộngtác với một số báo-chí phân khoa và“văn-chương xám”, nay vì không thể tham khảo cácbáo-chí sinh viên thời bấy giờ nên trong bài viết chúngtôi có thể có những sai lầm không thể phân biệt vềmột số báo-chí của sinh viên và của các viện hay phân khoa đại họcvới mục-đích giáo dục, văn-hóa, học thuật,...Những tạp-chí như ĐạiHọc, Tư Tưởng, VạnHạnh, v.v. đã hiển nhiên thuộc loại sau, đó là lý do chúng tôikhông đề cập đến trong bài.

*

Từ sau đảo chánh 1-11-1963đến năm 1968đã là một thờihỗn loạn chính-trị, báo-chí trăm hoa đua nở vớinhiều hiện-tượng đặc biệt (tôn giáo rõnét nhưng chia rẽ, lãnh tụ nhiều và con rối, nhàbáo mới muốn dựng sự nghiệp, đòi hỏi,... Một số báo-chí do chính quyền và các thế lựcchính-trị, tôn giáo tài trợ hoặc chủ độngđiều khiển. Báo-chí và sinh hoạt văn-nghệ bắtđầu bị ảnh-hưởng thương mại,thời thượng (phim ảnh, truyện chưởngKim Dung, truyện Quỳnh Dao, Lý Tiểu Long, v.v.). Báo-chísinh viên cũng bị cuốn theo cơn bão thời thếvà lòng người. Từ 1968 đếnbiến cố 30-4-1975, miềnNam chuẩn bị kết thúc mộtcuộc chiến-tranh quốc-cộng, báo-chí càng nhậpcuộc. Nằmvùng, tay sai, trí thức thiên tả (MTGPMN, Hội này nọ, Tổnghội sinh viên, ...) khuấy động môi trườngbáo-chí cùng lúc các nhà văn hóa, văn-nghệ tự xưnghoặc được gọi là ‘phản chiến’, ‘lươngtâm’ một chiều liên tục ra mắt, ra báo, lên tiếng.Sinh viên, giáo-sư và tổng trưởngGiáo dục bị ám sát, thương tật, số khác trởthành yếu nhân quốc-gia và cả Cộng-sản. Hơnbốn, năm thập niên sau nhìn lại, niềm kiêu hãnh nếucó thiển nghĩ đã không thể xóa đượcthương tật thể-chất cũng như trí thứcnơi con người Việt-Nam!